Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng cá tra An Giang sang thị Bảng 2.3: Giá nhập khẩu cá tra trung bình của một số quốc gia thành viên Bảng 2.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÁ TRA CỦA TỈNH AN GIANG SANG THỊ TRƯỜNG EU 5
1.1 Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu 5
1.1.2 Các hình thức của xuất khẩu 7
1.1.3 Vị trí, vai trò của xuất khẩu 7
1.1.4 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa 9
1.2 Tổng quan về EU và thị trường thủy sản EU 11
1.2.1 Giới thiệu chung về EU 11
1.2.2 Đặc điểm thị trường thủy sản EU 13
1.3 Tiềm năng và lợi thế của An Giang trong chế biến và xuất khẩu cá tra
22
1.4 Lợi ích của việc đẩy mạnh xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang 26
1.4.1 Lợi ích kinh tế 26
1.4.2 Lợi ích xã hội 28
1.5 Kinh nghiệm của một số tỉnh thành khác về đẩy mạnh xuất khẩu cá tra 29
1.5.1 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Tháp 29
1.5.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bến Tre 30
1.5.3 Kinh nghiệm của thành phố Cần Thơ 31
1.5.4 Bài học rút ra cho tỉnh An Giang 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA TỈNH AN GIANG SANG THỊ TRƯỜNG EU GIAI ĐOẠN 2008 – 2012 33
2.1 Thiết kế khảo sát 33
2.2 Tình hình xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2012 34
Trang 22.2.1 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu 34
2.2.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 40
2.2.3 Giá xuất khẩu 42
2.2.4 Phương thức thanh toán 44
2.2.5 Kênh phân phối 44
2.3 Thực trạng các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường EU 46
2.3.1 Kết quả khảo sát 46
2.3.2 Nhận xét và bình luận của tác giả về kết quả khảo sát 50
2.4 Đánh giá chung tình hình xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường EU 51
2.4.1 Thành tựu 51
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 54
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA TỈNH AN GIANG SANG THỊ TRƯỜNG EU GIAI ĐOẠN 2013 – 2020 62
3.1 Định hướng xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường EU giai đoạn 2013 – 2020 62
3.1.1 Định hướng và chiến lược xuất khẩu 62
3.1.2 Dự báo về tình hình xuất khẩu trong thời gian tới 64
3.2 Cơ hội và thách thức đối với mặt hàng cá tra xuất khẩu sang thị trường EU 67
3.2.1 Cơ hội 67
3.2.2 Thách thức 69
3.3 Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cá tra của An Giang sang thị trường EU 71
3.3.1 Về giống 71
3.3.2 Nâng cao chất lượng vùng nuôi 72
3.3.3 Chính sách về vốn người nuôi 74
3.3.4 Tăng cường sản phẩm giá trị gia tăng và nâng cao chất lượng mẫu mã
75
3.3.5 Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững 76
Trang 33.3.6 Xúc tiến mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu 77
3.4 Kiến nghị đối với Nhà nước 78
3.4.1 Kiến nghị đối với Bộ, ngành Trung ương 78
3.4.2 Kiến nghị đối với Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang 79
3.4.3 Kiến nghị đối với các Sở, ngành liên quan trong tỉnh An Giang 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 89
Trang 4Organization
Tổ chức Liên Hiệp Quốc về
lương thực và nông nghiệp
Agricultural Practices
Tiêu chuẩn Thực hành nông
nghiệp tốt toàn cầu
of Preference Hệ thống ưu đãi phổ cập
Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
nông thôn
11 SQF 1000CM Safe Quality Food Tiêu chuẩn thực phẩm an toàn
chất lượng
Agricultural Practices
Tiêu chuẩn Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
Trang 5Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng cá tra An Giang sang thị
Bảng 2.3: Giá nhập khẩu cá tra trung bình của một số quốc gia thành viên
Bảng 2.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cá tra sang thị
Bảng 2.5: Tỷ lệ kiểm tra các ao nuôi cá tra nguyên liệu trước khi thu mua 54 Bảng 2.6: Mức độ ổn định của nguyên liệu cho nhà máy chế biến xuất
Bảng 2.7: Vốn điều lệ của doanh nghiệp xuất khẩu cá tra 55 Bảng 2.8: Đánh giá về khả năng xuất khẩu các mặt hàng GTGT chế biến
Bảng 2.9: Công nghệ, máy móc và trang thiết bị phục vụ chế biến xuất
Bảng 2.10: Trình độ tay nghề của công nhân trong khâu chế biến 56 Bảng 2.11: Mức độ thường xuyên tiến hành các hoạt động điều tra nghiên
cứu và phân tích thị trường, khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp 57 Bảng 2.12: Các hoạt động marketing xuất khẩu của doanh nghiệp 58 Bảng 3.1: Định hướng phát triển nghề nuôi cá tra giai đoạn 2013 – 2015 62
Trang 62 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Trang
Biểu đồ 1.1: Sản lượng và giá trị thủy sản nhập khẩu toàn cầu năm 2009 13 Biểu đồ 1.2: So sánh sản lượng thủy sản đánh bắt và sản lượng thủy sản
Biểu đồ 1.3: Cơ cấu khu vực nhập khẩu thủy sản vào EU năm 2011 16 Biểu đồ 2.1: Sản lượng xuất khẩu cá tra An Giang sang một số nước EU
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu thị trường nhập khẩu sản phẩm cá tra của tỉnh An
Biểu đồ 2.3: Sản lượng nhập khẩu cá tra An Giang của Đức và Tây Ban
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu các sản phẩm cá tra của tỉnh An Giang xuất khẩu
Biểu đồ 2.5: Giá xuất khẩu trung bình của mặt hàng cá tra An Giang sang
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng phát huy tối đa lợi thế của mình để có thể bắt kịp với sự phát triển của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Từ trước đến nay, Việt Nam được biết đến như một quốc gia có thế mạnh về nông – lâm – ngư nghiệp và đời sống của đa
số người dân phụ thuộc nhiều vào tự nhiên XK các sản phẩm thủy sản đã đem lại một nguồn ngoại tệ không nhỏ phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, trong đó phải kể đến XK cá tra, một sản phẩm độc đáo mang đặc trưng của vùng sông nước miền Tây Trong khoảng mười năm trở lại đây, XK cá tra đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, cá tra Việt Nam đã có mặt khắp 142 quốc gia và vùng lãnh thổ với sản lượng nuôi tăng gấp 50 lần, vượt ngưỡng 1 triệu tấn mỗi năm, giá trị XK tăng gấp 65 lần, đóng góp khoảng 2% GDP cho cả nước (Diệp Anh, 2013)
Trong những năm qua, trên bước đường phát triển của mình, ngành công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh An Giang không chỉ chứng minh được năng lực
mà còn khẳng định một vị thế vững chắc với những sản phẩm xuất khẩu đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế An Giang là một tỉnh thuộc ĐBSCL – một vùng đồng bằng châu thổ trù phú của hạ lưu lưu vực sông Mê Kông Thiên nhiên đã ban cho vùng châu thổ này những tiềm năng vô giá, nổi bật nhất là đất phù sa màu mỡ, nguồn nước dồi dào, sinh thái rừng ngập nước và khí hậu ôn hòa quanh năm Lợi thế về tự nhiên đã tạo điều kiện cho người dân trong vùng phát triển hoạt động nuôi trồng và chế biến cá tra XK Những năm qua, nghề nuôi cá tra ở đây đem lại hiệu quả kinh tế khá cao nên diện tích nuôi cá tra ngày càng tăng nhanh Vào đầu năm
2004, diện tích nuôi cá tra toàn tỉnh An Giang chỉ khoảng 100 ha, đến năm 2006 con số này đã tăng lên khoảng 700 ha (Hải Linh, 2012) và cho tới năm 2013 đã lên đến 1.348 ha (Thanh Sơn, 2013), hình thành các vùng chuyên canh nuôi cá tra nguyên liệu đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước, cùng với sự ra đời của hàng loạt các nhà máy chế biến cá tra XK góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lực lượng lao động ở địa phương và các vùng lân cận Sản phẩm cá tra của An Giang đã có mặt khắp các thị trường tiêu thụ thủy sản lớn trên thế giới như Hoa Kì, EU, Nhật
Trang 8Bản, Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc… Trong đó, đáng chú ý là thị trường EU, một thị trường to lớn, ổn định với nhu cầu tiêu thụ vào bậc nhất thế giới, đồng thời cũng là thị trường khắt khe, đòi hỏi cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Nuôi trồng và chế biến cá tra XK đem lại một nguồn lợi to lớn cho địa phương nói riêng và cả nước nói chung Tuy nhiên, trong xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt, nền kinh tế tồn tại nhiều bất ổn và sức mua giảm sút, cộng với bản thân ngành chế biến và XK cá tra của tỉnh An Giang vẫn còn yếu kém, chưa nhận được quan tâm và đầu tư đúng mực nên ngành chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, khả năng cạnh tranh về chất lượng còn thấp, chưa xây dựng được thương hiệu
và còn nhiều bất cập khác Do đó, để phát huy tối đa lợi thế của ngành, vùng với loài cá có giá trị XK cao, tạo nguồn hàng có chất lượng ổn định, nâng cao kim ngạch XK, đứng vững trên thị trường, đặc biệt là thị trường khó tính như EU, đòi hỏi cần có những giải pháp đúng đắn và kịp thời
Chính vì thế, vấn đề đáng quan tâm hiện nay đối với ngành nuôi trồng và chế biến cá tra XK của tỉnh An Giang là đưa ra được những giải pháp tạm thời khắc phục những khó khăn trước mắt và xây dựng hệ thống các giải pháp mang tính chất lâu dài nhằm giải quyết triệt để những tồn tại và đón đầu những thử thách mới Bên cạnh đó, EU được biết là một thì trường tiêu thụ rộng lớn nhưng khó tính và đặt ra những yêu cầu rất cao đối với sản phẩm nhập khẩu, đặt biệt là thực phẩm, chinh phục được thị trường này đồng nghĩa với việc sản phẩm cá tra của tỉnh An Giang đã
có chỗ đứng trên thị trường toàn thế giới Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã quyết
định lựa chọn đề tài: “Xuất khẩu mặt hàng cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường Liên minh châu Âu” làm nội dung nghiên cứu của khóa luận
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động XK cá tra của tỉnh An Giang
Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian: tỉnh An Giang và thị trường xuất khẩu EU
Về mặt thời gian: thực trạng trong giai đoạn 2008 – 2012 và giải pháp cho giai đoạn 2013 – 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận tốt nghiệp này, trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê, tổng hợp: sử dụng số liệu thứ cấp do các cơ quan chức năng cung cấp và từ các báo cáo, nghiên cứu, tạp chí, sách báo và internet…
Phương pháp phân tích, so sánh đối chiếu: từ các bảng thống kê và số liệu thứ cấp thu thập được
Đặc biệt, tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát thực tế thông qua bảng câu hỏi Cụ thể, tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát tại 17 DN chế biến và XK cá tra của tỉnh An Giang từ ngày 21/10/2013 đến ngày 01/11/2013, có 15 phiếu hợp lệ thu
về Mục tiêu khảo sát để thu thập thông tin và đánh giá những mặt đã đạt và chưa đạt của các DN XK cá tra sang thị trường EU trong tỉnh, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp ở chương 3 Số liệu được tác giả xử lý, tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel
5 Bố cục của bài:
Ngoài mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận tốt nghiệp gồm có ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường EU
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường
EU giai đoạn 2008 – 2012
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường EU giai đoạn 2013 – 2020
Trang 10Trong quá trình thực hiện khóa luận không tránh khỏi sai sót, tác giả rất mong nhận được những góp ý của các thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang,
Sở Công Thương tỉnh An Giang, đặc biệt là anh Nguyễn Hoàng Linh (Phó phòng Khoa học Công nghệ – Sở NN&PTNT An Giang ) và anh Trần Thanh Tuấn (Trưởng phòng Thị trường-Xuất nhập khẩu – Sở Công Thương An Giang), cùng với
17 DN chế biến XK cá tra trong tỉnh đã nhiệt tình hỗ trợ tác giả trong công tác tìm kiếm thông tin, thu thập số liệu Bên cạnh đó, tác giả cũng xin cảm ơn nhà trường
và người hướng dẫn khoa học, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hoàng đã tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn tác giả hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này
Sinh viên thực hiện
Phạm Hải Yến
Trang 11CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÁ TRA CỦA TỈNH AN GIANG SANG THỊ TRƯỜNG EU
1.1 Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu 1.1.1.1 Khái niệm
XK là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, nó xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển Từ hình thức đầu tiên là trao đổi hàng hóa giữa các nước, cho đến nay, hoạt động XK đã rất phát triển và thể hiện thông qua nhiều hình thức Cùng với nhập khẩu, XK giúp một quốc gia mở ra những giao dịch kinh tế quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ chủ yếu khi quốc gia đó tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế
XK được hiểu là hoạt động đưa hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận, trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một trong hai quốc gia hay cả hai quốc gia (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế) Mục đích của hoạt động này là thu được ngoại tệ dựa trên việc khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế và một số mục đích khác Cơ sở của hoạt động XK là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa trong nước, bao gồm cả hàng hóa vô hình và hàng hóa hữu hình Khi sản xuất ngày một phát triển và các quốc gia nhận được nhiều lợi ích
từ việc trao đổi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới quốc gia hoặc giữa thị trường nội địa và khu chế xuất
Một số khái niệm về xuất khẩu:
“XK hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam được xem là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Điều 28, mục 1, chương 2, Luật Thương Mại
Trang 12biên giới hải quan của một quốc gia
1.1.1.2 Đặc điểm
XK là một trong những hoạt động cơ bản của hoạt động thương mại quốc tế nên mang những đặc trưng của hoạt động thương mại quốc tế Hoạt động XK phân biệt với hoạt động mua bán hàng hóa thông thường trong nước ở đặc điểm là nó có
sự tham gia mua bán của đối tác nước ngoài và hàng hóa có sự di chuyển qua biên giới hải quan
Đối tượng của hoạt động XK bao gồm nhiều loại, cả hàng hóa vô hình lẫn hữu hình, thông thường là những mặt hàng mà quốc gia có lợi thế so sánh về các nguồn lực phát triển
Hoạt động XK có thể được tiến hành bởi tư nhân hoặc DN nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của từng chủ thể, tuy nhiên, thông thường mục đích của tư nhân chỉ nhằm tối đa hóa lợi nhuận, còn đối với các DN nhà nước, chính phủ thì ngoài mục tiêu lợi nhuận còn có các mục tiêu khác như văn hóa, chính trị, ngoại giao…
Thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động xuất khẩu thông thường sẽ dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động kinh doanh nội địa,
do khoảng cách địa lý cũng như những thủ tục phức tạp để tiến hành hoạt động XK (Võ Thanh Thu, 2011, tr 215 – 227) Do đó, để xác định kết quả hoạt động kinh doanh XK, người ta chỉ xác định khi hàng hóa đã luân chuyển được một vòng hay khi đã thực hiện xong một thương vụ ngoại thương
Thời điểm giao nhận hàng và thời điểm thanh toán không trùng nhau mà có khoảng cách dài, phụ thuộc vào khoảng cách địa lý và phương thức giao hàng, phương thức thanh toán được quy định trong hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ (Võ Thanh Thu, 2011, tr 215 – 227)
Phương thức thanh toán: trong XK hàng hóa, có nhiều phương thức thanh toán được áp dụng, tuy nhiên, phương thức thanh toán chủ yếu là thanh toán bằng thư tín dụng Đây được xem là phương thức thanh toán tối ưu cho cả 2 bên, đặc biệt
là bên XK
Tập quán, pháp luật: Hai bên mua bán ở hai quốc gia khác nhau, mang quốc tịch khác nhau, pháp luật và tập quán kinh doanh khác nhau, vì vậy, phải tuân thủ
Trang 13luật kinh doanh cũng như tập quán kinh doanh của từng nước và luật thương mại quốc tế
1.1.2 Các hình thức của xuất khẩu
Một số hình thức XK thường gặp trong giao dịch thương mại quốc tế bao gồm:
XK trực tiếp: là hình thức giao dịch mà trong đó, người bán (người XK) và người mua (người nhập khẩu) liên hệ trực tiếp với nhau để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả, phương thức thanh toán, điều kiện cơ sở giao hàng và một số điều kiện khác
Giao dịch qua trung gian: là hình thức mua bán quốc tế thông qua một bên thứ ba làm trung gian Bên thứ ba này được hưởng một khoản tiền nhất định Trung gian phổ biến trong giao dịch quốc tế là đại lý và môi giới
Buôn bán đối lưu: là phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó XK kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao
đi tương xứng với lượng hàng nhận về Mục đích của XK ở đây không phải là ngoại
tệ, đồng tiền chỉ làm chức năng tính giá, nhằm thu về một lượng hàng hóa có giá trị tương đương
Chuyển khẩu/tạm nhập tái xuất: kinh doanh tái xuất là việc bán lại hàng hóa
đã mua trước đây nhằm mục đích kiếm lời, hàng hóa chưa qua chế biến ở nước tái xuất Mục đích của phương thức này là mua rẻ bán đắt nhằm thu lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ra
Gia công quốc tế: gia công hàng XK là phương thức sản xuất hàng XK trong
đó, bên đặt gia công ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước, bên nhận gia công trong nước sẽ
tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu Toàn bộ sản phẩm làm ra bên nhận gia công sẽ giao lại cho bên đặt gia công và nhận tiền công
XK tại chỗ: là hình thức XK hàng hóa cho một DN trong nước bán cho nước ngoài, nhưng hàng hóa được giao cho một DN khác trong nước theo chỉ định của phía nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất, gia công hàng XK
1.1.3 Vị trí, vai trò của xuất khẩu
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế toàn cầu, hoạt động XK được xem là
Trang 14một hoạt động rất cần thiết Trên cơ sở về lợi thế so sánh giữa các quốc gia, hoạt động sản xuất ở từng quốc gia sẽ có tính chuyên môn hóa cao hơn, giúp giảm chi phí sản xuất và các chi phí khác để từ đó giảm giá thành sản phẩm Thông qua hoạt động XK, các quốc gia tham gia vào hoạt động này phụ thuộc vào nhau nhiều hơn
Hoạt động này không chỉ diễn ra giữa các cá thể riêng biệt, mà còn có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự điều hành của nhà nước
XK được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển (Bùi Xuân Lưu – Nguyễn Hữu Khải, 2007, tr 379 – 383) Bên cạnh đó, XK còn có những vai trò sau:
XK tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu
để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta Để công nghiệp hóa đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy
móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
XK đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta
XK tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi, tức là
sự phát triển của ngành hàng XK này sẽ kéo theo sự phát triển của một ngành khác có quan hệ mật thiết
XK tạo ra khả năng mở rộng thì trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định
XK tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
XK tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước
Thông qua XK, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải
tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường
Trang 15 XK còn đòi hỏi các DN phải luôn đổi mới, hoàn thiện công việc quản trị sản xuất và kinh doanh, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường
XK có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân Tác động của XK đến việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều
mặt Trước hết, sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng XK đang trực tiếp là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp XK còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ trực tiếp đời sống và đáp
ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
Quan trọng hơn cả là việc XK tác động trực tiếp đến sản xuất, làm cho cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân được cải thiện
XK là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước
ta XK và các quan hệ kinh tế đối ngoại luôn có tác động qua lại phụ thuộc lẫn
nhau XK là một bộ phận rất quan trọng của kinh tế đối ngoại Vì vậy khi hoạt động
XK phát triển sẽ kéo theo các bộ phận khác của kinh tế đối ngoại phát triển như dịch vụ, quan hệ tín dụng, đầu tư, hợp tác, liên doanh, mở rộng vận tải quốc tế
Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này lại tạo điều kiện mở rộng XK Vì vậy đẩy mạnh XK có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước ta trên trường quốc tế, góp phần vào sự ổn định kinh tế chính trị của đất nước (Bùi Xuân Lưu – Nguyễn Hữu Khải, 2007, tr 379 – 383)
1.1.4 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa 1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu cũng tác động đến hoạt động XK, đặc biệt với những hoạt động XK sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu chính như hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gốm chịu ảnh hưởng của thời tiết, mưa ảnh hưởng đến hoạt động nung gốm và vận chuyển gốm
Trang 161.1.4.3 Công cụ phi thuế quan
Hạn ngạch XK: hình thức này áp dụng như một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong XK hàng hóa Hạn ngạch XK hàng hóa được quyết định theo mặt hàng, theo từng quốc gia, theo từng thời gian nhất định
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: bao gồm những quy định về vệ sinh,
đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đặc biệt là quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với thực phẩm tươi sống, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sinh thái và các máy móc, dây chuyền thiết bị công nghệ
Công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước là nhân tố quan trọng mà các DN kinh doanh xuất nhập khẩu phải nắm rõ và tuân theo vô điều kiện bởi nó thể hiện ý chí của Đảng và Nhà nước, bảo vệ lợi ích chung của mọi tầng lớp trong xã hội
Hoạt động XK tiến hành giữa các chủ thể giữa các quốc gia khác nhau, bởi vậy, nó chịu sự tác động của các chính sách chế độ luật pháp ở quốc gia mình và đồng thời cũng phải tuân theo những quy định của luật pháp quốc tế chung
Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước như xây dựng các mặt hàng chủ lực, trực tiếp gia công XK, đầu tư cho XK, lập các khu chế xuất, các chính sách tín dụng
XK, chính sách trợ cấp XK cũng góp phần to lớn tác động đến tình hình XK của một quốc gia Tùy theo mức độ can thiệp, tính chất và phương pháp sử dụng các chính sách trên mà hiệu quả và mức độ ảnh hưởng của nó tới lĩnh vực XK sẽ như thế nào Bên cạnh các chính sách trên, nhóm các chính sách hỗ trợ mang tính thể chế - tổ chức, các khung pháp lý và hệ thống hành chính cũng là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến hoạt động XK của các DN
Đối với nước ta chính sách ngoại thương có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi
Trang 17cho các tổ chức kinh doanh tham gia sâu vào sự phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt động XK và bảo vệ thị trường nội địa nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu về kinh tế, chính trị xã hội hoạt động kinh tế đối ngoại
Các hiệp định thương mại mà quốc gia tham gia
Các quy định nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu
Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế có liên quan tới XK như luật bảo
hiểm quốc tế, luật vận tải quốc tế, các quy định về giao nhận ngoại thương
1.1.4.5 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả tại đó ngoại hối được mua và bán Tỷ giá hối đoái
và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh XK Một tỷ giá hối đoái chính thức (HĐCT) được điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan gọi là tỷ giá hối đoái thực tế (HĐTT) Nếu tỷ giá hối đoái chính thức là không đổi và tỷ giá hối đoái thực tế tăng lên thì, các nhà XK các sản phẩm sơ chế, là người bán theo mức giá cả quốc tế nằm ngoài tầm kiểm soát của họ sẽ bị thiệt Họ phải chịu chi phí cao hơn do lạm phát trong nước Hàng XK của họ trở nên kém sinh lợi do ngoại tệ thu được phải bán lại với HĐCT cố định không được tăng lên để bù lại chi phí sản xuất cao hơn Các nhà XK các sản phẩm chế biến có thể làm tăng giá cả XK của họ để bù đắp lại chi phí nội địa cao hơn, nhưng kết quả khả năng chiếm lĩnh thị trường sẽ giảm Họ chỉ có thể giữ nguyên mức giá tính theo ngoại hối và lợi nhuận thấp Nếu tình trạng ngược lại là tỉ giá
HĐTT giảm so với tỷ giá HĐCT, khi đó sẽ có lợi hơn cho các nhà XK
Ngoài ra, còn có một số nhân tố xuất phát từ bản thân DN như: bộ máy quản
lý của DN, khả năng vốn, tài chính, nhân lực, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học
Sau hai cuộc chiến tranh thế giới khốc liệt, EU đã ra đời với khát khao hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển của các nước châu Âu Với hơn 60 năm hình
Trang 18thành và phát triển, EU được xây dựng từng bước trên nền tảng mức độ liên kết giữa các thành viên ngày càng mở rộng và sâu sắc ở khắp các lĩnh vực Cùng với phát triển về chiều sâu, EU cũng trải qua nhiều đợt mở rộng, kết nạp nhiều thành viên mới (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2012) Từ 6 thành viên ban đầu, hiện nay EU
có 28 quốc gia thành viên Sau đây là danh sách 28 quốc gia thành viên của EU được xếp theo năm gia nhập:
1952: Bỉ, Đức, Italy, Luxembourg, Pháp, Hà Lan 1973: Đan Mạch, Ireland, Anh
1981: Hy Lạp 1986: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha 1995: Áo, Phần Lan, Thụy Điển 2004: Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta, Cộng hòa Síp
2007: Romania, Bulgaria 2013: Croatia (European Environment Agency, 2012)
EU có trụ sở được đặt tại thủ đô Brussels của Bỉ với diện tích là 4.422.773 km² và dân số khoảng 500 triệu người, chiếm 7,3% dân số toàn thế giới EU hiện là nền kinh tế lớn nhất thế giới, GDP năm 2011 đạt 17,57 nghìn tỉ USD, thu nhập bình
quân đầu người toàn EU đạt 32,900 USD/năm (Chính phủ, 2012)
EU và Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 28/11/1990 Năm 1996, EU mở Phái đoàn Đại diện thường trực tại Hà Nội, đặt nền móng cho sự phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu trong mối quan hệ của hai bên
Kể từ đó, EU trở thành một trong những đối tác quan trọng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Thương mại là trụ cột quan trọng trong quan hệ Việt Nam – EU EU hiện là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch thương mại hai chiều tăng trung bình 15–20%/năm và là thị trường XK lớn thứ 2 của nước
ta sau Mỹ Quan hệ thương mại giữa nước ta và EU hiện chiếm đến 75% kim ngạch xuất khập khẩu với khu vực châu Âu Trong giai đoạn 2000 – 2010, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng 4,3 lần từ mức 4,1 tỷ USD năm 2000 lên 17,75 tỷ
Trang 19USD năm 2010 (và khoảng 24,29 tỷ USD năm 2011) Một số mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam vào EU là giày dép, may mặc, thủy sản, đồ gỗ, điện tử, hàng tiêu dùng Việt Nam nhập từ EU chủ yếu là các loại máy móc thiết bị, tân dược, hóa chất, phương tiện vận tải (Chính phủ, 2012)
1.2.2 Đặc điểm thị trường thủy sản EU 1.2.2.1 Quy mô thị trường
EU là một thị trường rộng lớn với nhu cầu tiêu thụ thủy sản rất cao Theo Hiệp hội Các nhà Chế biến và Kinh doanh thủy sản EU (AIPCE – CEP), năm 2011, quy mô thị trường thủy sản EU (gồm sản xuất và nhập khẩu cá thịt trắng, cá hồi, cá ngừ, các loài cá nổi, surimi, tôm và mực – bạch tuộc) đạt khoảng 14,7 triệu tấn
Mức độ phụ thuộc của EU vào nhập khẩu thủy sản là 65% Nguồn cung cá thịt trắng khai thác tại EU đạt 2,9 triệu tấn, chiếm 20% thị phần thủy sản tại EU Mức độ phụ thuộc vào cá thịt trắng khai thác của EU rất cao vào khoảng 90% (Ngọc Thủy – Ngọc Hà dịch, 2013) Ngay cả khi thương mại giữa các nước bị chặn thì EU vẫn là một thị trường lớn nhất với 27% tổng nhập khẩu thủy sản, trị giá gần 16 tỷ Euro (Trung Đông, 2010)
Biểu đồ 1.1: Sản lượng và giá trị thủy sản nhập khẩu toàn cầu năm 2009
(Nguồn: FAO – Fishcomm.)
Dựa vào biểu đồ trên ta dễ dàng thấy được, EU là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới vào năm 2009, về sản lượng, EU bỏ xa hai cường quốc Mỹ và Nhật Bản, về kim ngạch, giá trị nhập khẩu thủy sản của EU trong năm này vượt qua
cả phần còn lại của thế giới Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức, Italy và Anh là
EU32%
USA7%
Nhật 8%
Thế giới53%
Sản lượng
EU40%
USA14%
Nhật14%
Thế giới32%
Giá trị
Trang 20những thị trường nhập khẩu chính, giá trị nhập khẩu thủy sản của những nước này hàng năm vượt trên 1 tỷ USD, chiếm gần 80% giá trị nhập khẩu thủy sản của EU
Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm thủy sản được nhập khẩu từ nội bộ khối là chính
Ngoài ra, để bổ sung một số sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, chủ yếu là các sản phẩm thủy sản nước ấm, EU cũng nhập khẩu thủy sản từ hơn 180 nước khác trên thế giới Trong đó nổi bật là Na Uy, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ
Nhiều năm liền, Thái Lan luôn đi trước Việt Nam về sản lượng XK sang EU Tuy nhiên năm 2008 Việt Nam đã vượt mặt Thái Lan trong XK thủy sản vào thị trường
EU Như vậy, có thể thấy hàng thủy sản của Việt Nam XK sang thị trường EU phải cạnh tranh nhiều với các nước ở các châu lục khác nhau trong đó có những người bạn láng giềng Trung Quốc và Thái Lan (hai nước XK thủy sản lớn của thế giới)
Sở dĩ, các nước EU phải nhập khẩu một lượng thủy sản lớn như vậy là do nguồn cung trong khu vực (kể cả đánh bắt và nuôi trồng) không đủ để đáp ứng nhu cầu quá cao của người dân EU
Bảng 1.1: Tổng sản lượng thủy sản đánh bắt và nuôi trồng của EU
1995, trong đó, ba quốc gia thành viên (Đan Mạch, Tây Ban Nha và Anh) chiếm 43% tổng thủy sản sản xuất được trong năm 2010
Hiện nay, các nước EU chỉ có khả năng đáp ứng khoảng 35% nhu cầu tiêu thụ thủy sản của người dân Sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu cầu thủy sản của EU không ngừng tăng cao hằng năm Năm 2012, dân số EU khoảng 504 triệu người Theo dự đoán của Eurostat, vào năm 2015, con số này sẽ tăng lên xấp xỉ 508 triệu (tăng thêm 4,6 triệu người) Ước tính lượng thủy sản trung bình mỗi người dân Châu Âu tiêu thụ là 22,1
Trang 21kg/năm (số liệu năm 2007), do đó, nhu cầu thủy sản sẽ tăng thêm tổng cộng
100.000 tấn trong 3 năm tới (Ngọc Thủy – Ngọc Hà dịch, 2013)
Bảng 1.2: Ước lượng mức tiêu thụ thủy sản trung bình của các nước EU
từ năm 1989 đến năm 2030
Đơn vị: kg/người/năm
(Nguồn: Pierre Failler - FAO, 2007) (chi tiết xem thêm phụ lục 1)
Mức tiêu thụ thủy sản tính trên đầu người hiện nay của EU-27 là 22 kg/người/năm, như vậy toàn khối sẽ tiêu thụ hết khoảng 11 triệu tấn thủy sản/năm
Các nước Trung và Đông Âu chỉ tiêu thụ khoảng 15 kg/người/năm và các nước thuộc Tây Bắc Âu tiêu thụ nhiều hơn, khoảng 15-30 kg/người/năm, trong khi đó các nước Nam Âu lại tiêu thụ thủy sản ở mức cao, 40-60 kg/người/năm
Tiêu thụ thủy sản ở các nước EU có sự khác biệt lớn, chỉ với 5 thành viên có mức tiêu thụ nhiều nhất đã chiếm khoảng hơn 70% sản lượng thủy sản tiêu thụ tại
EU (2010) Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha hiện là hai quốc gia dẫn đầu trong khả năng tiêu thụ thủy sản tính theo đầu người với các con số lần lượt là 39 kg/người/năm và 59 kg/người/năm Trong tương lai, theo dự đoán của FAO, mức tiêu thụ này ở Tây Ban Nha có xu hướng giữ nguyên, tuy nhiên ở Bồ Đào Nha lại giảm 2 kg/người/năm vào năm 2030
Các nước trung tâm EU không có truyền thống ăn thủy sản do hầu hết các nước này không có đường bờ biển Do đó họ không có quen với mùi vị thủy sản
Ngược lại, các nước thuộc vùng Địa Trung Hải (Ý, Tây Ban Nha, Malta,…) và các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch) là những thị trường tiêu thụ thủy sản chính
Người tiêu dùng EU có truyền thống ẩm thực khác nhau và thị hiếu tiêu dùng
về chủng loại thủy sản cũng khác nhau Do đó, để thỏa mãn tất cả các nhu cầu này
là một yêu cầu hết sức khó khăn Thêm vào đó, các nước EU ngày càng đưa ra nhiều biện pháp hạn chế đánh bắt thủy sản nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã nằm dưới giới hạn an toàn sinh học Chỉ một phần nhu cầu tiêu thụ của EU được ngành nuôi trồng thủy sản đáp ứng Nguồn thủy sản để cung cấp cho nhu cầu ngày càng
Trang 22tăng của người dân đã đặt ra yêu cầu đối với biện pháp tăng nhập khẩu
Biểu đồ 1.2: So sánh sản lượng thủy sản đánh bắt và sản lượng thủy sản tiêu
thụ ở EU giai đoạn 1989 – 2007
(Nguồn: European Environment Agency, 2012)
Từ biểu đồ trên, có thể thấy, vào giai đoạn cuối những năm 90, sản lượng thủy sản tiêu thụ ở EU tăng giảm không ổn định, nhưng với chiều hướng đi lên
Trong khi đó, ngược lại, sản lượng đánh bắt lại giảm một cách đáng kể, điều này đã dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung thủy sản ở EU, là cơ hội lớn cho các nước đẩy mạnh XK thủy sản sang EU
Biểu đồ 1.3: Cơ cấu khu vực nhập khẩu thủy sản vào EU năm 2011
(Nguồn: Eurostat)
5000600070008000900010000
vùng Ca-ri- bê 15,81%
Đông Nam Á 29,83%
Châu Phi 11,61%
EEA 27,36%
Khu vực khác 15,38%
Latin &
vùng Ca-ri- bê 14,92%
Đông Nam Á 27,39%
Châu Phi 13,77%
EEA 28,32%
Khu vực khác 15,60%
Giá trị
Nghìn tấn
Trang 23Trong những năm gần đây, số lượng thủy sản nhập khẩu vào EU từ những nước đang phát triển ngày càng chiếm tỷ trọng lớn Vào năm 2011, sản lượng thủy sản nhập khẩu vào EU có xuất xứ từ Đông Nam Á chiếm tỷ trọng lớn nhất (29,38%) Từ đây, có thể thấy EU là thị trường lớn và đầy tiềm năng cho các DN
XK thủy sản của Việt Nam
1.2.2.2 Thị hiếu người tiêu dùng
Ngoài việc chú trọng vào sự tinh tế, hài hòa trong các món ăn của mình, người EU còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề sức khỏe và an toàn vệ sinh thực phẩm
Khi chọn mua bất kì sản phẩm thủy sản nào, yếu tố quan trọng hàng đầu là vấn đề chất lượng, an toàn vệ sinh, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm và mức độ thân thiện với môi trường Người tiêu dùng EU đặc biệt chú trọng đến thông tin sản phẩm được thể hiện trên bao bì, nhãn mác Các mặt hàng thủy sản có đóng dấu bảo đảm
vệ sinh an toàn thực phẩm và dán nhãn sinh thái nhằm đảm bảo sản phẩm thủy sản được khai thác hoặc nuôi trồng một cách an toàn và không gây hại đến môi trường được người dân EU rất ưa chuộng
Bảng 1.3: Cơ cấu mặt hàng thủy sản nhập khẩu vào EU giai đoạn 2001 – 2011
(Nguồn: Eurostat-Market in EU JMFP)(chi tiết xem chú thích phụ lục 2)
Trang 24Từ năm 2001 đến năm 2011, thị hiếu tiêu dùng về chủng loại sản phẩm thủy sản nhập khẩu của người dân EU có sự thay đổi đáng kể, hai sản phẩm có tỷ trọng tăng vượt bậc so với năm 2001 là cá tươi (0302) và phi-lê cá (0304) Đối với mặt hàng phi-lê cá (0304), tỷ trọng sản phẩm năm 2011 tăng 40,09% so với năm 2001, chiếm 27,98% cơ cấu sản phẩm thủy sản nhập khẩu năm 2011 Còn với cá tươi (0304), trong giai đoạn 2001 – 2011, mặt hàng này đã tăng 34,92%, chiếm 15,28%
cơ cấu sản phẩm thủy sản nhập khẩu năm 2011 Trong khi đó, tỷ trọng mặt hàng cá đông lạnh và cá sống lại giảm mạnh, xấp xỉ 15% đối với cả hai mặt hàng, đến năm
2011, tỷ trọng của cá đông lạnh và các sống lần lượt là 13,79% và 0,1% Sở dĩ có sự thay đổi này là do, dân số EU hiện chiếm tỷ lệ lớn là dân số già, nhóm người tiêu dùng này có xu hướng lựa chọn thực phẩm an toàn và có lợi cho sức khỏe, đặc biệt
là những sản phẩm tươi đã được làm sạch Họ yêu cầu sản phẩm phải được kiểm soát gắt gao về khía cạnh vệ sinh an toàn Ngoài ra, nhóm người này chấp nhận trả một mức giá cao cho thực phẩm sử dụng miễn là chất lượng phù hợp với yêu cầu
Bên cạnh đó, nhu cầu về thực phẩm chế biến cũng tăng nhanh, do đa số phụ nữ EU rất bận rộn với công việc bên ngoài, họ có rất ít thời gian cho việc chuẩn bị bữa ăn hằng ngày nên có thói quen sử dụng những thực phẩm tiện lợi, vì thế, thị trường các sản phẩm tiện lợi, ăn liền ngày càng phát triển, đòi hỏi thời gian chế biến tối thiểu
và hương vị quen thuộc như thực phẩm chế biến tại gia Xu hướng tiêu dùng thủy sản hiện nay tại EU đặt nặng vấn đề sức khỏe, tiện lợi và đa dạng, vì thế, những sản phẩm được ưa chuộng hiện nay đều cố gắng đáp ứng được các tiêu chí này của người tiêu dùng EU
1.2.2.3 Phân nhóm thị trường thủy sản EU
Theo khu vực
Nhóm nước thị trường Bắc Âu, bao gồm Anh, Hà Lan và các nước vùng Xcăng-đi-na-vơ Các nước Bắc Âu đều nằm ven biển, sở hữu nguồn hải sản tự nhiên tương đối phong phú, lại có thế mạnh về đánh bắt hải sản nên các nước này
là những nước chuyên XK hải sản, đặc biệt là tôm nước lạnh Tuy nhiên, thị trường này cũng nhập khẩu tôm nhưng chủ yếu nhằm đa dạng hóa chủng loại tôm tiêu dùng trong người dân Những nước này nhập khẩu từ châu Á rất ít do sức tiêu thụ thấp Một số sản phẩm ưa dùng tại Bắc Âu: cá trích, cá thu, cá minh thái, cá tuyết,
Trang 25cá mình dẹt và cá hồi nước ngọt
Nhóm nước khu vực Địa Trung Hải (Ý, Tây Ban Nha,…) chuộng các loại nhuyễn thể bao gồm các loại nhuyễn thể chân đầu (mực, bạch tuộc) và nhuyễn thể hai mảnh vỏ (ốc, hến, sò,…)
Nhóm nước còn lại có xu hướng thích các sản phẩm như cá chỉ vàng, cá ngừ
và tôm
Thời gian gần đây, các sản phẩm cá nước ngọt như cá tra, cá basa, cá rô phi… đã xuất hiện và dần chiếm lĩnh thị trường EU Khách hàng EU tỏ ra ưa thích những sản phẩm này, do đó, hi vọng trong tương lai những sản phẩm cá nước ngọt
sẽ có một vị trí đáng kể trên thị trường EU
Theo nhóm tuổi
Ðộ tuổi của người tiêu dùng cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng hành vi tiêu dùng các sản phẩm thủy sản Ở nhiều nước EU, những người thuộc độ tuổi trên 50 tiêu thụ thủy sản nhiều nhất Nhóm người này cũng ưa chuộng
và chọn mua nhiều sản phẩm tươi và nguyên con so với nhóm người trẻ tuổi hơn
Theo dạng sản phẩm
Bao gồm các sản phẩm theo phương thức bảo quản sản phẩm tươi hoặc ướp lạnh, đông lạnh; hoặc chế biến sẵn và dạng sản phẩm được chế biến như nguyên con, phi-lê, cắt miếng, sơ chế, ăn liền
1.2.2.4 Kênh phân phối thủy sản tại thị trường EU
Kênh phân phối ở các nước EU rất khác nhau, nhưng mang một số đặc điểm chung Ở tất cả thị trường, hệ thống phân phối thủy sản hầu hết tập trung vào các nhà nhập khẩu, nhà phân phối, nhà bán buôn, cũng như nhà môi giới thực phẩm, đại
lý và nhà bán lẻ, mỗi kiểu phân phối có những đặc trưng và kinh nghiệm riêng Tuy nhiên, số lượng các liên kết trong chuỗi cung ứng hiện đang giảm dần Nguyên nhân chính là do ngành hậu cần trong thương mại thủy sản ngày một phát triển, mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành ngày càng khốc liệt đã đẩy những nhà cung ứng yếu kém ra khỏi cuộc chơi
Bốn loại hình chủ chốt trong kênh phân phối thủy sản ở EU bao gồm:
Nhà nhập khẩu: là đơn vị tổ chức mua và bán thủy sản phần lớn cho các công
ty chế biến, nhà bán buôn, bán lẻ và tái XK Thông thường những nhà nhập khẩu
Trang 26này có quyền sở hữu đối với hàng hóa và tự mình thực hiện các thủ tục nhập khẩu
Nhờ vào mối quan hệ lâu đời với các nhà XK, những nhà nhập khẩu này thường đặt
ra yêu cầu về chất lượng, quy cách đóng gói, nhiệt độ, loại bao bì đóng gói và các yêu cầu kĩ thuật… đối với sản phẩm nhập khẩu
Cơ sở chế biến công nghiệp: vừa đóng vai trò là nhà nhập khẩu, vừa chế biến sản phẩm cuối cùng Họ nhập khẩu nguyên liệu thô (hàng sơ chế) sau đó chế biến ra sản phẩm là đầu vào của công ty chế biến khác hoặc chế biến ra thành phẩm cung cấp cho thị trường
Đại lý: là người trung gian thiết lập mối quan hệ giữa nhà XK và nhà nhập khẩu, theo dõi các lệnh mua bán hàng Họ không trực tiếp đứng ra mua hoặc sở hữu hàng hóa mà hoạt động dựa trên mức thù lao được hưởng là phí hoa hồng Đại lý thường rất am hiểu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và giá cả Có 2 loại đại lý:
đại lý đại diện cho người mua và đại lý đại diện cho người bán
Các kênh bán lẻ có thể kể đến là các trung tâm bán lẻ, siêu thị và dịch vụ thực phẩm bao gồm cả nhà hàng Mỗi kênh này đều có nhu cầu và yêu cầu khác nhau đối với các nhà cung cấp thủy sản nhập khẩu Nếu như chất lượng là yếu tố quyết định đối với hệ thống siêu thị và nhà hàng thì đối với các trung tâm bán lẻ, giá
cả là yếu tố quyết định
Hình 1.1: Hệ thống phân phối thủy sản của EU
(Nguồn: Eurostat)
Trang 27Nhìn chung, nhà XK thủy sản nước ngoài sẽ cung cấp thủy sản cho nhà nhập khẩu EU, vì những nhà nhập khẩu này có kinh nghiệm và am hiểu về các thủ tục nhập khẩu cũng như thị trường nội địa, đồng thời, họ có khả năng tài chính để thực hiện những hợp đồng lớn và triển khai các chiến dịch quảng cáo cũng như một số yêu cầu hoặc dịch vụ đặc biệt khác Sau đó, nhà nhập khẩu EU sẽ cung cấp thủy sản trực tiếp cho các chuỗi siêu thị, DN chế biến hoặc những nhà sản xuất thành phẩm (Thế Anh, 2010) Tuy nhiên, việc cung cấp cho chuỗi siêu thị được những nhà nhập khẩu ưa chuộng hơn vì họ cho rằng khi đã gây dựng được mối quan hệ với các siêu thị thì sẽ có được những đơn hàng lâu dài và ổn định
1.2.2.5 Quy định của EU liên quan đến hàng thủy sản nhập khẩu
Những sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào EU đều cần có chứng nhận chính thức từ cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu nếu những nước này không nằm trong khối EU Những cơ quan có thẩm quyền này phải được sự công nhận của EC
Độ tin cậy của những cơ quan này là điều kiện tiên quyết để một quốc gia được phép XK sang EU Cơ quan này với những quyền hạn pháp lý cần thiết và các nguồn lực sẵn có phải đảm bảo thanh tra, kiểm tra và kiểm soát thường xuyên toàn
bộ chuỗi sản xuất, trong đó bao gồm các khía cạnh liên quan đến vệ sinh và an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng
Đối với tất cả các sản phẩm thủy sản, nước xuất xứ cần nằm trong danh sách xác thực những nước hội đủ điều kiện để XK các sản phẩm có liên quan Tiêu chí bao gồm:
Các nước XK phải có một cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm chính thức trong việc kiểm soát toàn bộ dây chuyền sản xuất của sản phẩm Cơ quan này được giao quyền hạn và định rõ là để thực hiện những công tác thanh tra, đảm bảo chứng thực an toàn vệ sinh của thủy sản XK sang EU
Cá sống, trứng và giao tử của chúng dùng cho mục đích chăn nuôi cùng với động vật thân mềm hai mảnh vỏ sống phải đáp ứng được tiêu chuẩn liên quan đến sức khỏe động vật Điều này đòi hỏi các cơ quan thú y cần đảm bảo thực thi có hiệu quả tất cả những chương trình giám sát và kiểm soát sức khỏe cần thiết
Các cơ quan nhà nước cũng cần cam đoan đáp ứng đầy đủ những yêu cầu liên quan đến vệ sinh và sức khỏe cộng đồng Vấn đề vệ sinh bao gồm những yêu
Trang 28cầu cụ thể về cấu trúc của tàu, bến cá, cơ sở chế biến, quá trình hoạt động, đông lạnh, bảo quản và cất trữ Những quy định này nhằm đảm bảo hàng thủy sản nhập khẩu đạt được tiêu chuẩn cao và tránh nhiễm bẩn trong quá trình chế biến
Những điều kiện cụ thể được áp dụng cho nhập khẩu những mặt hàng thân mềm hai mảnh vỏ (ví dụ: trai, sò), động vật da gai biển (ví dụ: nhím biển) hoặc động vật chân bụng biển (ví dụ: ốc biển) sống hoặc đã qua chế biến Những mặt hàng này chỉ được phép nhập khẩu vào EU nếu như có xuất xứ từ những khu vực nằm trong danh sách được đồng ý và phê duyệt Cơ quan nhà nước của những quốc gia XK được yêu cầu phải đảm bảo trong việc phân loại những sản phẩm này, đồng thời giám sát chặt chẽ khu vực sản xuất nhằm loại trừ trường hợp nhiễm độc tố gây ngộ độc
Đối với sản phẩm thủy sản nuôi trồng, các nước XK cần có kế hoạch kiểm soát kim loại nặng, chất gây ô nhiễm, dư lượng thuốc trừ sâu và thuốc thú y phù hợp với yêu cầu của EU
Cơ quan có thẩm quyền của nước XK đề ra kế hoạch kiểm soát phù hợp, kế hoạch này phải được sự đồng ý ban đầu của EC và được sửa đổi và bổ sung hằng năm
Chỉ những tàu thuyền và những cơ sở đã được phê duyệt (ví dụ như nhà máy chế biến, kho lạnh…), thông qua sự kiểm tra và xác nhận của cơ quan thẩm quyền của nước XK đáp ứng được những tiêu chí EU đề ra mới được nhập khẩu vào EU
Cơ quan này cung cấp những chứng nhận cần thiết và có nghĩa vụ thanh tra thường xuyên và điều chỉnh khi cần Danh sách những cơ sở được phê duyệt nêu trên được duy trì bởi EC và được công bố trên trang web của họ
Để xác nhận sự tuân thủ những quy định trên, Văn phòng Thực phẩm và Thú
Y (Food and Veterinary Office) của EC sẽ kiểm tra lại một lần nữa Mục đích của việc kiểm tra nhằm thiết lập sự tin tưởng giữa EC và cơ quan có thẩm quyền của
nước XK (European Commission)
1.3 Tiềm năng và lợi thế của An Giang trong chế biến và xuất khẩu cá tra
An Giang là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, nằm ở cửa ngõ đầu nguồn sông Mê Kông chảy vào địa phận Việt Nam nên nơi đây có một lợi thế tự
Trang 29nhiên rất lớn cũng như kinh nghiệm để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, trong đó
có nuôi trồng cá tra Trong nhiều năm qua, thủy sản, mà đối tượng chủ lực là cá tra
đã được tập trung đầu tư để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh (Nhân Hòa, 2010) Nghề nuôi trồng thủy sản ở An Giang rất phổ biến với nhiều mô hình như:
nuôi ao đất, lồng bè, đăng quầng,… đặc biệt là mô hình nuôi cá bè – nghề truyền thống của người dân An Giang, trong đó cá tra và basa là hai loài cá nuôi chủ lực, khi nhắc đến An Giang người ta liên tưởng ngay đến “Làng bè Châu Đốc” (Trương Ngô Bích Ngọc, 2011)
Vị trí địa lý
Với lợi thế về vị trí địa lý, nằm trên đoạn gần cuối của dòng sông Mê Kông, nơi mà dòng chảy đã trở nên tĩnh lặng hơn so với phía thượng lưu và ít bị ô nhiễm hơn phía cuối nguồn và cũng là tỉnh đầu nguồn của sông Cửu Long, từ nhiều năm qua, An Giang là địa phương đầu tiên được tận hưởng nguồn cá thiên nhiên hết sức phong phú về sản lượng cũng như thành phần loài, đặc biệt là cá tra
Điều kiện tự nhiên – xã hội
An Giang nằm ở vùng trung tâm của hạ lưu lưu vực sông Mê Kông, là tỉnh đầu nguồn của vùng ĐBSCL có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và có hai con sông chính là sông Tiền dài 80 km, sông Hậu dài 100 km, cùng với nhánh sông Châu Đốc (28 km) và sông Vàm Nao (7 km) Tất cả tạo nên cảnh quan đặc thù của vùng sông nước An Giang, nguồn nước tốt và thời tiết hết sức thuận lợi cho nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển Diện tích tự nhiên 3.406 km2; phía Bắc giáp với Vương quốc Cam-pu-chia (biên giới 96,6 km), phía Nam – Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông – Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ
An Giang là tỉnh có dân số khá đông, theo số liệu thống kê năm 2011 dân số
cả tỉnh trên 2,1 triệu người, đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực ĐBSCL, mật
độ dân số 608 người/km² (Tổng cục Thống kê), phần đông dân cư sống dọc theo đường giao thông thủy, bộ, kênh rạch Số người trong độ tuổi lao động khoảng 1,39 triệu người chiếm tỷ lệ 67% dân số toàn tỉnh (Cổng thông tin điện tử An Giang, 2013) hàng năm có trên 30.000 người bước vào tuổi lao động, từ đó cho thấy nguồn lực lao động của tỉnh rất dồi dào
Trang 30Điều kiện thủy văn và chất lượng nước
Hàng năm mùa lũ bắt đầu từ tháng 7 – 8 khi nhiễu động nhiệt đới hoạt động gây ra mưa to và dài ngày, làm xuất hiện những trận lũ đầu mùa, nước sông Tiền và sông Hậu lên nhanh với cường suất 10 – 20 cm/ngày
Cường suất lũ ở An Giang thường không ổn định, dao động từ 17 – 36 cm/ngày Khi lũ chảy tràn vào đồng ruộng, cường suất lũ giảm dần và ổn định từ 2 – 4 cm/ngày Độ dốc lũ ổn định hơn qua các năm, lớn nhất có thể đạt 5 cm/km đối với sông Tiền và 4 cm/km đối với sông Hậu Do đặc điểm cường suất lũ có giá trị tương đối thấp, mực nước lên chậm, từ từ nên đã tạo điều kiện cho hoạt động thủy sản ở An Giang phát triển mạnh từ bao đời nay
Lưu lượng dòng chảy lớn nhất: Thời gian lũ thường kéo dài từ 4 tháng đến 7 tháng, tuỳ theo năm có lũ lớn hoặc lũ nhỏ Từ số liệu đo đạc từ nhiều năm, lưu lượng nước lũ khá lớn, cực đại dao động từ 16.900 – 27.000 m3/s ở sông Tiền tại Tân Châu và 8.000 m3/s ở sông Hậu tại Châu Đốc
Lưu lượng dòng chảy nhỏ nhất: Dòng chảy sông Cửu Long tuy phong phú, nhưng phân bố không đều theo thời gian, mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 chiếm 80 – 90%, mùa cạn từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau chỉ chiếm 10 –20% lượng dòng chảy năm Tuỳ thuộc vào độ lớn lũ năm trước mà lưu lượng nước kiệt nhất vào tháng 3 hoặc tháng 4 Lưu lượng kiệt nhất tại Tân Châu dao động từ 1.246 – 1.556
m3/s (Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, 2011)
Vận tốc dòng chảy: vào mùa lũ 0,5 – 0,6 m/giây, ở mùa khô 0,1 – 0,2 m/giây Vận tốc nước chảy qua bè đặt gần bờ sẽ thấp hơn giá trị này Từ bờ ra lòng sông khoảng 50 m, người ta có thể đặt 2 – 3 hàng bè nối nhau
Nhiệt độ nước biến thiên không nhiều, cao nhất là 310C vào tháng 5 và tháng
10, thấp nhất 260C vào tháng giêng Biên độ chênh lệch trong ngày khoảng 1,50C, nhiệt độ trên tầng mặt cao hơn dưới đáy 2 – 30C
Độ trong và pH: trong mùa khô, độ trong của nước từ 40 – 60 cm và pH khoảng 7,5 Mùa mưa, độ trong chỉ 8 – 10 cm và pH nước sông khá ổn định là đặc điểm rất có lợi cho đời sống của thủy sinh vật và cá
Độ cứng dao động từ 2 – 5 độ (độ Đức), chủ yếu được hình thành trên cơ sở muối cacbonat canxi và thuộc dạng nước ít muối khoáng
Trang 31Các chất khí hòa tan: ở sông Tiền và sông Hậu nước tương đối thoáng sạch, dưỡng khí đầy đủ (4,3 – 9,7 mg/lít), hàm lượng khí cac-bo-nic thấp (1,7 – 5,2 mg/lít) nghĩa là nằm dưới giới hạn có hại đối với cá và sinh vật dưới nước Ngoài ra không có các khí độc trong nước sông (Trung tâm Nghiên cứu khoa học nông vận).
Thức ăn, vật tư phục vụ nuôi cá
Nguồn cá tạp tự nhiên nước ngọt và nước lợ vẫn cung cấp làm thức ăn cho cá nuôi dồi dào, đặc biệt là vào cuối mùa gió Tây Nam hàng năm (sau đỉnh lũ) nước sông từ thượng nguồn đổ xiết về hạ lưu và mang về nguồn lợi cá tự nhiên rất dồi dào cả về số lượng lẫn chủng loại, nhiều nhất là cá linh (Labeobarb siamensis) và các loại cá tự nhiên khác Ngoài nguồn cá tự nhiên nước ngọt còn các loại cá tạp đánh bắt từ biển Rạch Giá được chuyển đến khu vực nuôi bè với đoạn đường ngắn, giá cả phù hợp và thường xuyên Bên cạnh đó, khu vực tứ giác Long Xuyên đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác các loại nông sản và là nguồn cung cấp chủ yếu nguyên liệu nông sản để chế biến thức ăn cho cá nuôi bè (cám, tấm, đậu, bắp )
Hiện đa số các hộ nuôi cá tỉnh An Giang sử dụng thức ăn tự chế tấm cám, cá tạp, bột cá, đậu nành trong qui trình nuôi Ưu điểm của việc sử dụng thức ăn tự chế là chi phí thức ăn rẻ, chất lượng cá thương phẩm tương đương so với sử dụng thức ăn viên, đây cũng là một trong những lợi thế của tỉnh An Giang cũng như các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL (Đoàn Văn Hổ, 2009) Ngoài thức ăn tự chế, người nuôi cá đã biết sử dụng thức ăn công nghiệp, các thành phần bổ sung cho cá như các chất khoáng vi lượng và các loại vitamin Thức ăn công nghiệp được sử dụng kết hợp với thức ăn tự chế trong qui trình nuôi nhằm mục đích hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng cá
Trang 32(Cam-pu-Giang ngày một phát triển (Trương Ngô Bích Ngọc, 2011)
Cơ sở chế biến
Hiện nay, toàn tỉnh có 17 DN với 23 nhà máy chế biến thủy sản, tổng công
suất khoảng 333,5 nghìn tấn sản phẩm/năm (Quang Vinh – Minh Hiển, 2013)
Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
Ngành chế biến thủy sản đông lạnh của tỉnh có trình độ công nghệ tương đối hiện đại, máy móc được thiết bị lắp đặt đồng bộ của các hãng chuyên ngành nổi tiếng giúp sản phẩm XK vào các thị trường khó tính trên thế giới Từ năm 2000 đến nay, ngoài nguồn vốn đầu tư ban đầu, để thật sự có khả năng cạnh tranh trên thương trường, các DN chế biến thủy sản An Giang đã đầu tư hơn 100 tỉ đồng đổi mới công nghệ, trang thiết bị, nâng công suất, lắp đặt thêm phân xưởng nhằm đa dạng hóa mặt hàng phục vụ XK và tiêu thụ nội địa Các cơ sở chế biến thủy sản đều đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện an toàn vệ sinh và thú y thủy sản Các cơ sở này cũng chú trọng vào công tác đa dạng hóa các mặt hàng thủy sản chế biến, nâng cao tỷ trọng
XK các mặt hàng có giá trị gia tăng và tươi sống (Nhân Hòa, 2010) Người nuôi cá được tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật qua các kênh chuyển giao công nghệ, đề tài nghiên cứu khoa học, phương tiện truyền thông và các cơ quan chức năng của ngành thủy sản Theo yêu cầu của tiêu chuẩn GlobalGAP, tất cả các công đoạn trong chuỗi sản xuất sản phẩm thủy sản như giống, thức ăn, nuôi thương phẩm, chế biến xuất khẩu đều phải được chứng nhận đạt tiêu chuẩn GlobalGAP Hiện nay, tỉnh
An Giang có điều kiện rất thuận lợi để phát triển cá tra nhanh và bền vững do khâu giống (Trung tâm Giống thủy sản An Giang) và khâu thức ăn (Xí nghiệp thức ăn gia súc An Giang - AFIEX) đều đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn GlobalGAP Không những vậy, UBND tỉnh An Giang còn xây dựng chuỗi liên kết trong quá trình nuôi, chế biến cá tra, từ hỗ trợ vốn, thức ăn, kỹ thuật nuôi, sản xuất theo GlobalGAP (Phan Hồng Cương, 2012)
1.4 Lợi ích của việc đẩy mạnh xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang 1.4.1 Lợi ích kinh tế
Một là, XK cá tra là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn không chỉ của riêng tỉnh An Giang mà còn cả khu vực ĐBSCL Con cá tra An Giang đã có mặt ở
thị trường 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, xuất khẩu cá tra đã đóng góp
Trang 33hàng tỷ USD cho đất nước mỗi năm, trở thành mặt hàng chiến lược quốc gia Tỉ suất lợi nhuận của ngành đạt từ 0,10 – 0,13 nếu tính theo mô hình nuôi ao cá tra với năng suất bình quân đạt 150 tấn/ha (Âu Thị Ánh Nguyệt, 2013) Năm 2010, diện tích nuôi cá tra của tỉnh là 1.068 ha, sản lượng đạt 234.000 tấn, sản lượng chế biến đạt 150.000 tấn, kim ngạch XK đạt 340 triệu USD Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm lĩnh vực này là 22,6% Có thể nói, công nghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra chính là một đòn bẩy giúp ngành công nghiệp An Giang phát triển, góp phần tăng kim ngạch XK hàng năm khoảng 22% và luôn chiếm 40 - 50% tổng giá trị kim ngạch XK của địa phương Sáu tháng đầu năm 2013, các DN XK cá tra ở An Giang
đã xuất được 87 nghìn tấn, kim ngạch đạt 218 triệu USD Nếu so sánh với mặt hàng gạo thì giá trị của mặt hàng cá tra cao hơn gần 10 lần (Minh Hiển, 2013) Cá tra xuất khẩu hiện đang mang lại một nguồn lợi kinh tế to lớn cho địa phương
Hai là, XK cá tra đem lại nguồn ngoại tệ không nhỏ phục vụ cho mục đích xây dựng và đổi mới của tỉnh An Giang Đây được xem là nguồn vốn chủ yếu dùng
để nhập khẩu trang thiết bị, máy móc, công nghệ tiên tiến phục vụ công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Sử dụng vốn từ
XK cũng chính là một trong những biện pháp tối ưu để phát triển một cách độc lập, bền vững đất nước nói chung và địa phương nói riêng, tránh được gánh nặng nợ nần
từ nguồn vốn vay và phụ thuộc nước ngoài Bên cạnh đó, lượng ngoại tệ này cũng nhằm mục đích tái đầu tư, hoàn thiện hệ thống ao hồ, xây dựng nhà máy, kho lạnh, lắp đặt dây chuyền sản xuất hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế Từ đó, chất lượng sản phẩm XK sẽ được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng nước ngoài, góp phần nâng cao vị thế của ngành XK của tỉnh trên thị trường quốc
Trang 34nhịp độ tăng trưởng GDP toàn tỉnh là 11,07%, trong đó, khu vực nông nghiệp thủy sản tăng 3,77%, công nghiệp xây dựng tăng 12,42% và dịch vụ tăng 14,05% (Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư An Giang) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỷ trọng thương mại dịch vụ chiếm 54,1%, công nghiệp xây dựng chiếm 12,16%, nông nghiệp thủy sản chiếm 33,74% (Cổng thông tin điện tử An Giang, 2013)
Bốn là, XK cá tra còn kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ như sản xuất thức ăn cho cá, thú y thủy sản, hậu cận, vận chuyển,
dịch vụ thanh toán… góp phần phát triển mạnh mẽ và toàn diện các ngành kinh tế của tỉnh
1.4.2 Lợi ích xã hội
Một là, nghề nuôi cá tra không những mang lại nguồn thu lớn cho các hộ nông dân nuôi cá mà còn góp phần giúp giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động ở địa phương và các tỉnh lận cận Hiện nghề này đã giúp cho trên 5000 nông
hộ ở ĐBSCL giàu lên một cách nhanh chóng (Minh Hiển, 2013) Thu nhập của các
hộ gia đình nuôi cá thường cao hơn so với trồng cây ăn trái và cây lúa, các hộ gia đình làm mô hình VAC (Vườn ao chuồng) cũng có thu nhập chính là từ nuôi cá An Giang với đặc điểm dân số đông (hơn 2,1 triệu người), số dân trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 2/3 dân số (Cổng thông tin điện tử An Giang, 2013) Tuy nhiên,
đa số dân cư làm nông nghiệp là chính và lực lượng lao động phổ thông chiếm tỷ lệ lớn Do đó, hàng loạt nhà máy chế biến cá tra ra đời đã tạo việc làm cho phần lớn lao động nhàn rỗi ở địa phương, góp phần làm giảm nạn thất nghiệp, giúp xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập người dân, từ đó, đời sống người dân ngày càng ổn định, an ninh trật tự địa phương được giữ vững Việc nuôi, chế biến, XK cá tra của tỉnh không ngừng tăng nhanh, mạnh cả về mặt số lượng lẫn chất lượng đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế xã hội chung của tỉnh cũng như giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nông thôn
Hai là, XK giúp tạo nguồn vốn cho nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng thiết yếu
nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân trong tỉnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
Ba là, sự lớn mạnh của các DN XK ở địa phương cũng góp phần vào sự
Trang 35nghiệp phát triển giáo dục của tỉnh Điển hình là “Quỹ khuyến học Doãn Tới”, do
ông Doãn Tới (Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần Nam Việt) và bà Dương Thị Kim Hương (vợ ông Doãn Tới) tự nguyện dành 1.000.000 USD – khoảng trên 17.800.000.000 VNĐ (tỷ giá năm 2009) để lập ra nhằm mục đích khuyến học, khuyến tài cho các thế hệ trẻ, góp phần xây dựng xã hội học tập ở An Giang
Có thể nói, tác động tích cực nhất của XK cá tra đến sự phát triển xã hội là giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động, một vấn đề luôn được các cấp lãnh đạo quan tâm và đặt lên hàng đầu Song, trong những năm qua, lực lượng lao động trong ngành thủy sản tăng nhanh về mặt số lượng nhưng về mặt chất lượng vẫn chưa phát triển tương xứng với yêu cầu về trình độ và kỹ thuật cao, số người được đào tạo chuyên môn vẫn còn ít, đa số là lao động phổ thông Do đó, nâng cao trình độ cho người lao động là việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay nhằm đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng cao của đối tác nước ngoài về các yêu cầu kỹ thuật trong nuôi trồng và chế biến cá tra XK
1.5 Kinh nghiệm của một số tỉnh thành khác về đẩy mạnh xuất khẩu
cá tra
1.5.1 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Tháp
Theo đánh giá, hiện Đồng Tháp là tỉnh có thế mạnh về sản xuất cá tra, đặc biệt là sản xuất giống, cung cấp cá con và thức ăn thủy sản Theo số liệu năm 2012, toàn tỉnh hiện có khoảng 1.174 cơ sở nhân giống cá tra, sản xuất được hơn 28 tỷ cá bột và trên 2 tỷ cá tra giống Các cơ sở này không những cung ứng đủ giống cá tra cho địa bàn tỉnh mà còn cung ứng khoảng 60–70% cá tra giống cho các tỉnh khu vực ĐBSCL
Lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp cho rằng, để đảm bảo đầu ra đáp ứng được tiêu chuẩn ngày càng cao của các nước nhập khẩu và được các thị trường khó tính chấp nhận, vấn đề chủ chốt cần quan tâm đó là chất lượng con giống, nghĩa là “phải truy xuất nguồn gốc con giống, từ lúc bột ươm nuôi lên ươm cá giống là phải có tiêu chuẩn y như cá thịt thì thị trường mới chấp nhận nhập khẩu cá tra thương phẩm”
(Ông Dương Nghĩa Quốc - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Tháp) Do đó, tỉnh Đồng Tháp đang liên kết để tìm hướng đi mới cho con cá tra giống thông qua việc
Trang 36tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tập huấn chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ trực tiếp cá giống
bố mẹ đến tận tay người nuôi nhằm tìm kiếm một giải pháp mang tính đồng bộ, trong đó có thống nhất về con giống Các cơ sở sản xuất phải đảm bảo thống nhất các tiêu chuẩn về chất lượng theo hướng VietGAP và GlobalGAP Trong thời gian vừa qua, Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Tháp đã phối hợp với Viện nuôi trồng thủy sản
2 cung cấp con giống bố mẹ để thay đổi đàn giống bố mẹ hiện nay trên địa bàn tỉnh (K.K., 2012)
1.5.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bến Tre
Nằm trong khu vực ĐBSCL nhưng Bến Tre có môi trường thiên nhiên thuận lợi hơn các tỉnh khác cho phát triển nghề nuôi cá tra Năm 2012, diện tích nuôi cá tra của Bến Tre ổn định khoảng 680 ha, tập trung tại các huyện Chợ Lách, Giồng Trôm, Châu Thành, Bình Đại, Mỏ Cày Nam, Ba Tri với tổng sản lượng đạt 158.805 tấn Theo đó, Bến Tre đang phấn đấu đến năm 2015 đưa tổng diện tích nuôi cá tra toàn tỉnh lên 1.200 ha (N.B – H.H., 2013)
Các DN, các cơ sở nuôi cá của tỉnh Bến Tre phát triển ổn định một phần nhờ vào hệ thống quản lý nuôi thủy sản khá tốt Bên cạnh đó, tỉnh Bến Tre còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong nuôi trồng và chế biến cá tra XK Các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương của tỉnh thường xuyên thực hiện xử lý các trường hợp xả thải trực tiếp bùn đáy ao ra ngoài
tự nhiên gây ô nhiễm môi trường, tổ chức lấy mẫu thức ăn, thuốc hóa chất định kỳ
và đột xuất để kiểm tra chất lượng sản phẩm, vận động tuyên truyền các cơ sở nuôi đăng ký kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y thủy sản Các cơ sở nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh từng bước áp dụng các quy trình, tiêu chuẩn nuôi thủy sản an toàn như VietGAP, GlobalGAP, ASC… nhằm tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng, nâng cao
giá trị XK, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường XK (Dương Thảo, 2013)
Ngoài ra, các ngân hàng ở địa phương cũng đang thực hiện tháo gỡ các rào cản về vay vốn, nhằm giúp cho các DN chế biến cũng như các hộ nuôi trồng trong tỉnh dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi để tập trung phát triển sản xuất,
XK Trong 8 tháng đầu năm 2013, các ngân hàng trên địa bàn cho 48 DN và các cơ
sở nuôi cá tra vay vốn, trong đó có 17 DN và 31 hộ gia đình Tổng doanh số cho vay vốn chế biến XK cá tra 241 tỷ đồng, nuôi cá tra 29 tỷ đồng Tổng số dư nợ hiện
Trang 37tại cho vay chế biến cá tra XK 112 tỷ đồng, nuôi cá tra 75 tỷ đồng Ngoài ra, các ngân hàng cũng đã tiến hành rà soát đánh giá, thực hiện gia hạn nợ cho khách hàng 6,3 tỷ đồng (N.B – H.H., 2013)
1.5.3 Kinh nghiệm của thành phố Cần Thơ
Là trung tâm kinh tế hàng đầu của khu vực ĐBSCL, Cần Thơ cũng là một trong những địa phương có sản lượng cá tra nuôi trồng và XK lớn trong khu vực
Cần Thơ thường xuyên tổ chức những buổi hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo tập huấn kỹ thuật cho nông dân và các DN chế biến thủy sản ở địa phương và các tỉnh lân cận nhằm giải quyết những khúc mắc trong quá trình nuôi trồng hoặc những khó khăn do diễn biến không tốt của thị trường, từ đó, đưa ra những biện pháp hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ họ nâng cao năng suất cũng như chất lượng thành phẩm, góp phần tăng nhanh kim ngạch và sản lượng XK
Ngoài ra, lãnh đạo các cơ quan ban ngành và các DN ở Cần Thơ cũng đặc biệt chú trọng đến công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường thông qua quảng bá hình ảnh, thương hiệu của địa phương
1.5.4 Bài học rút ra cho tỉnh An Giang
Cùng nằm trong khu vực ĐBSCL với sự tương đồng nhất định về các điều kiện tự nhiên, khí hậu cũng như các điều kiện cần thiết để phát triển nghề nuôi cá và chế biến XK cá, những bài học kinh nghiệm từ 2 tỉnh Đồng Tháp, Bến Tre và thành phố Cần Thơ thật sự hữu ích và có thể áp dụng tại tỉnh An Giang:
Chú trọng đến chất lượng thành phẩm cá tra XK thông qua chất lượng con giống Tập trung vào nghiện cứu cho ra con giống theo chất lượng và tiêu chuẩn của những nước nhập khẩu nhằm đảm bảo đầu ra đạt yêu cầu của những thị trường được xem là khó tính nhất
Quan tâm đặc biệt đến các vấn đề vệ sinh và môi trường, thường xuyên kiểm tra mẫu thức ăn, thuốc hóa chất, dư lượng kháng sinh trong cá tra thành phẩm cũng như chất lượng nước ao nuôi trồng cá tra Xây dựng trung tâm kiểm nghiệm chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu XK
Lãnh đạo tỉnh làm việc với các ngân hàng nhằm tháo gỡ các rào cản vay vốn, giúp các cơ sở nuôi trồng cũng như các DN chế biến tiếp cận được nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi với các điều kiện được nới lỏng Từ đó, giúp các hộ nuôi trồng và
Trang 38DN giải quyết được khâu thiếu vốn, tập trung toàn bộ năng lực cho sản xuất và XK
Không ngừng học tập kinh nghiệm, đổi mới kỹ thuật công nghệ trong nuôi trồng và chế biến cá tra, trên cơ sở đó, nắm bắt nhanh sự thay đổi của thị trường và thị hiếu người tiêu dùng nước ngoài, góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh của mặt hàng cá tra XK của tỉnh
Thường xuyên tham gia các hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu cá tra XK của địa phương nói riêng cũng như Việt Nam nói chung, tạo cơ hội cho DN
trong tỉnh mở rộng thị trường, bổ sung thêm những khách hàng tiềm năng
Như vậy, trong chương 1, tác giả đã trình bày khái quát về các cơ sở lý luận liên quan đến hoạt động XK, những thông tin chung về EU, thị trường thủy sản EU cũng như là một số đặc điểm của thị trường này Bên cạnh đó, tác giả còn làm rõ những tiềm năng, lợi thế của tỉnh An Giang trong hoạt động chế biến cá tra XK và những lợi ích mà hoạt động này mang lại đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của địa phương Ngoài ra, trong chương này, tác giả cũng tìm hiểu những kinh nghiệm nhằm giải quyết những tồn tại và đẩy mạnh XK cá tra của một số tỉnh thành trong khu vực ĐBSCL Qua đó, cho thấy cái nhìn tổng quan về hoạt động XK nói chung
và XK cá tra nói riêng, cũng như thấy được những lợi ích mà hoạt động này mang lại, song song đó, nêu bật được những tiềm năng của thị trường thủy sản EU và sự
cần thiết phải đẩy mạnh XK cá tra sang thị trường EU
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA TỈNH AN GIANG SANG THỊ TRƯỜNG EU GIAI ĐOẠN 2008 – 2012
2.1 Thiết kế khảo sát
Mục tiêu khảo sát: Khảo sát được tiến hàng nhằm thu thập thông tin về tình
hình nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu cá tra của các doanh nghiệp ở An Giang sang thị trường EU, từ đó có cơ sở để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu sang EU của doanh nghiệp và mức độ hiệu quả của hoạt động xuất khẩu và
đưa ra được những giải pháp nhằm giải quyết những tồn tại một cách hiệu quả
Phương pháp khảo sát: Sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu khảo sát thông qua hình thức liên hệ trực tiếp và email
Chọn không gian mẫu và xác định kích thước mẫu cần thiết: Do đề tài
được giới hạn không gian trong tỉnh An Giang nên khảo sát chỉ được thực hiện với không gian mẫu là địa phận tỉnh An Giang Hiện tại, ở An Giang có tổng cộng 17
DN hoạt động trong lĩnh vực chế biến và XK cá tra nên kích thước mẫu khảo sát sẽ bao gồm toàn bộ 17 DN XK cá tra của tỉnh (chi tiết xem thêm phụ lục 3)
Đối tượng khảo sát: DN XK cá tra trên địa bàn tỉnh An Giang
Thời gian thực hiện khảo sát: Kéo dài trong 2 tuần từ ngày 21/10/2013 đến
ngày 01/11/2013
Xây dựng bảng câu hỏi
Bước 1: Xây dựng bảng câu hỏi ban đầu
Bước 2: Tham khảo ý kiến anh Nguyễn Hoàng Linh – Phó phòng KHCN
Sở NN&PTNT tỉnh An Giang – một trong những người đầu tiên tham gia vận động thành lập Hiệp hội cá tra An Giang về tính khả thi của bảng khảo sát
Bước 3: Tham khảo ý kiến người hướng dẫn khoa học để hoàn chỉnh bảng khảo sát
Bước 4: Hiệu chỉnh và hoàn tất bảng câu hỏi khảo sát
Mô tả phiếu khảo sát: bảng câu hỏi khảo sát được chia làm 3 phần
Phần thứ nhất gồm những câu hỏi liên quan đến thông tin DN
Phần thứ hai đề cập đến những thông tin về nguồn nguyên liệu, tình hình chế biến và XK Trong phần này, tác giả sử dụng thang đo định danh với câu hỏi một lựa chọn và thang đo thứ bậc với các mức ý nghĩa khác nhau nhằm đánh giá
Trang 40mức độ thường xuyên hoặc thuận lợi/ khó khăn
Phần cuối cùng của phiếu khảo sát yêu cầu DN điền vào bảng một số tiêu
chí đặc trưng của một số thị trường tiêu biểu ở EU (chi tiết xem thêm phụ lục 4)
Xử lý kết quả khảo sát: Sau khi thực hiện khảo sát và tổng hợp phiếu khảo
sát, có 15 phiếu khảo sát hợp lệ Kết quả khảo sát được tác giả xử lý bằng phần
mềm Microsoft Excel do kích thước mẫu được chọn khá nhỏ
2.2 Tình hình xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang sang thị trường EU giai đoạn 2008 – 2012
2.2.1 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
Năm 2007, việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO đã góp phần mở rộng quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước nói chung và thúc đẩy
XK nói riêng Tuy nhiên, ngay sau đó, tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn
đã ảnh hưởng không ít đến hoạt động XK của các DN trong nước, trong đó phải kể đến hoạt động chế biến XK cá tra của các DN ở tỉnh An Giang, song, các DN XK ở
An Giang luôn xem thị trường EU là một trong những thị trường XK đầy tiềm năng
(Nguồn: phòng TT-XNK, Sở Công Thương tỉnh An Giang)
Trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012, sản lượng cá tra của tỉnh An Giang XK sang EU tăng giảm không ổn định, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, trong đó nguyên nhân dễ dàng nhận thấy nhất đó là do chịu ảnh hưởng