Về sau, do khoa học ngày càng phát triển nên cách hiểu cũng như đối tượng nghiên cứu của triết học cũng ngày càng được thu hẹp dần, chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản của tồn tại và nhậ
Trang 1Chương I TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Trang 210/11/22 2
I KHÁI NIỆM TRIẾT HỌC VÀ ĐỐI TƯỢNG
NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC
1 Triết học là gì ?
• Triết học ra đời rất sớm, khoảng từ thế kỷ VII - VI tr.CN cả ở
phương Đông và phương Tây
• Thuật ngữ “triết”, theo tiếng Hán nghĩa là trí, sự hiểu biết về
mặt đạo lý, sự nhận thức sâu rộng
• Trong tiếng Hy Lạp cổ, thuật ngữ “phylosophy” cũng có nghĩa
là yêu mến sự thông thái Nói chung triết học lúc đầu được
hiểu theo nghĩa khá rộng Về sau, do khoa học ngày càng phát triển nên cách hiểu cũng như đối tượng nghiên cứu của triết học cũng ngày càng được thu hẹp dần, chỉ đề cập đến những vấn đề
cơ bản của tồn tại và nhận thức đối với tồn tại ấy
Trang 3• Quan niệm về triết học có nhiều thay đổi trong lịch sử: cổ đại, trung cổ, cận đại, hiện đại
Tuy nhiên, triết học dù ở thời đại nào cũng có những vấn đề
quan tâm chung, cái mà chúng ta ngày này gọi là những nội
dung cơ bản của nhận thức triết học
Triết học Mác ra đời và đã xác định rõ ràng khái niệm triết học: theo đó triết học là hệ thống tri thức chung nhất của con người
về thế giới về vai trò và vị trí của con người trong thế giới đó`
Trang 410/11/22 4
2 Đối tượng nghiên cứu của triết học
Với tư cách là một môn học về thế giới quan, đối tượng của triết học có sự thay đổi trong lịch sử:
Thời kỳ cổ đại: đối tượng nghiên cứu triết học cũng đồng thời là đối tượng của các khoa học
Thời kỳ trung cổ: đối tượng của triết học phụ thuộc
vào đối tượng nghiên cứu của thần học
Thời kỳ cận đại: đối tượng của triết học được xác định bao trùm đối tượng nghiên cứu của các khoa học cụ thể
Triết học Mác-Lênin cho rằng: đối tượng nghiên cứu của triết học trong thời đại ngày nay là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, nghiên cứu các quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Trang 5II TÍNH QUY LUẬT VỀ SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC
Sự hình thành, phát triển của triết học gắn liền với điều kiện kinh tế-xã hội;
Gắn với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội; Gắn với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội;
Gắn với sự xâm nhập, đấu tranh giữa các trường phái triết học khác nhau
Ngoài ra, sự phát triển của triết học không chỉ trong sự tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau giữa các tư tưởng triết học,
mà còn giữa triết học với chính trị, tôn giáo, nghệ thuật… Sự
thâm nhập lẫn nhau đó đã làm cho triết học phát triển rất đa dạng
Trang 610/11/22 6
III - Vai trò của triết học trong
đời sống xã hội
Trang 71 Vai trò TGQ và PPL của triết học
a) Vai trò (chức năng) TGQ:
Với tư cách là hạt nhân lý luận của TGQ, làm cho TGQ phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn và tri thức do các nhà khoa học mang lại
CNDV và CNDT là cơ sở cho hai TGQ cơ bản đối lập nhau Chính vì vậy nó đóng vai trò là nền tảng cho TGQ của hai hệ
tư tưởng đối lập nhau, giữa cuộc đấu tranh của CNDV và CNDT trong lịch sử triết học, và cũng là cách này hay cách khác trong cuộc đấu tranh giữa các giai cấp và các lực lượng
xã hội đối lập nhau.
Trang 810/11/22 8
b)Vai trò phương pháp luận
thành ba cấp độ: Phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất
– Phương pháp luận ngành (còn gọi là phương pháp luận bộ môn) là phương pháp luận của một ngành khoa học cụ thể nào đó.
– Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho một số
ngành khoa học.
– Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm điểm
xuất phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người.
giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất
Trang 92 Vai trò của triết học đối với các khoa
học cụ thể
học cụ thể, nó là thế giới quan, phương pháp luận cho khoa học
cụ thể, là cơ sở lý luận cho khoa học cụ thể trong việc đánh giá các thành tựu đã đạt được, cũng như vạch ra các phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể
sự phát triển của các khoa học; ngược lại CNDT thường được sử dụng làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và cản trở khoa học phát triển
của khoa học hiện đại, là sự khái quát các thành tựu của khoa
học mang lại; đồng thời, nó lại đóng vai trò to lớn đối với ự phát triển của khoa học hiện đại
Trang 1010/11/22 10
đã đạt được cũng như xác định phương pháp trong nghiên cứu.
được những thành tựu to lớn làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội
thể, mà còn có vai trò to lớn trong việc rèn luyện năng lực tư duy con người
thì không thể không có tư duy lý luận" (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1994, tập 20, tr 489)