1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT TẠI XÃ PHÚ ĐÌNH HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN doc

5 688 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 382,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT TẠI XÃ PHÚ ĐÌNH HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN Lê Đồng Tấn1* , Nguyễn Anh Hùng2 , Dương Thị Vân Anh 3 1 Viện Sinh thái và Tài ngu

Trang 1

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT

TẠI XÃ PHÚ ĐÌNH HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN

Lê Đồng Tấn1*

, Nguyễn Anh Hùng2

, Dương Thị Vân Anh 3

1 Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 2 Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên

3 Học viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

TÓM TẮT

Hệ thực vật xã Phú Đình huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng và phong phú Bước đầu

đã ghi nhận được 547 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 121 họ 372 chi 5 ngành Thảm thực vật

xã Phú Đình có 3 lớp quần hệ: rừng kín, thảm cây bụi và thảm cỏ với 3 kiểu thảm thực vật chính

gồm: Rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp và núi thấp Thảm cây bụi

nhiệt đới chủ yếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới Thảm cỏ dạng lúa trung bình nhiệt đới

có hay không có cây gỗ Do tác động của các hoạt động khai thác và đốt nương làm rẫy nên thảm thực vật đã bị suy thoái Rừng nguyên sinh hầu như không còn và thay thế vào đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên

Từ khoá: Phú Đình, thảm thực vật, khai thác, đốt nương làm rẫy, diễn thế

MỞ ĐẦU

Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá

đối với các quốc gia Thực vật rừng là nguồn

tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo

cung cấp cho loài người từ lương thực, thực

phẩm, các loài thuốc chữa bệnh… Quần thể

thực vật rừng tạo nên môi trưòng sinh thái

thích hợp là nơi cư trú cho nhiều loài sinh vật,

nó cũng góp phần cải tạo môi trường không

khí, đất, nước và làm tăng vẻ đẹp nơi sống

của con người

Một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của

nhân loại là diện tích rừng ngày càng bị thu

hẹp Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng

mất rừng như: Chiến tranh, thiên tai (gió, bão,

lửa rừng…) và bùng nổ dân số với các hoạt

động như khai thác gỗ củi, chặt phá rừng làm

nương rẫy… để giải quyết nhu cầu cuộc sống

trước mắt trong nhiều thập kỷ qua Hậu quả

làm cho thảm thực vật tự nhiên bị phá huỷ

nghiêm trọng, diện tích đất trống, đồi trọc

ngày càng tăng lên, làm mất dần tính đa dạng

sinh học Từ đó, đã dẫn đến giải phóng bạo

lực tự nhiên, những thiệt hại do thiên tai gây

ra sẽ không lường hết được

Tel: 0983 647523, Email: tanledong@yahoo.co.in

Nhận thức việc mất rừng là tổn thất duy nhất nghiêm trọng đang đe doạ sức sinh sản lâu dài của những tài nguyên có khả năng tái tạo Trong những năm qua nước ta đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề trồng rừng và bảo vệ rừng Mục tiêu đến năm 2010 nước ta phải trồng được 5 triệu ha rừng mới (2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất) nhằm đưa độ che phủ rừng lên 43% (tương đương năm 1943) góp phần bảo đảm an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen

và tính đa dạng sinh học

Phú Đình là một xã nằm ở phía Nam huyện Định Hoá có tổng diện tích tự nhiên 990ha Trong đó đất lâm nghiệp là 1755,8ha (Rừng sản xuất 205,8ha đặc dụng 1550ha) Dân số là

5900 người, chiếm 6,42% dân số của huyện, bao gồm 5 dân tộc anh em sinh sống là Kinh, Tày, Dao, Nùng và Sán Chỉ Nếu như huyện Định Hoá là một phần căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thì xã Phú Đình đã vinh dự được Bác

Hồ chọn làm nơi ở và làm việc cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại Khuôn Tát

và Tỉn Keo

Trang 2

116

Nhằm thể hiện đạo lý “uống nước nhớ

nguồn”, thể hiện sự quan tâm của Đảng và

Chính phủ, trong những năm gần đây, Định

Hoá đã được đầu tư, tôn tạo, bảo vệ để xứng

đáng là một trong những khu di tích lịch sử

quan trọng của đất nước Vấn đề đặt ra là thực

hiện như thế nào để phát huy hiệu quả và tiềm

năng vốn có của chúng Thực tế cho thấy giá

trị của rừng chính là cơ sở để phát triển kinh

tế - xã hội, tạo nên cảnh quan du lịch sinh thái

nên công tác bảo vệ, nghiên cứu rừng càng

được chú trọng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Các trạng thái thảm thực vật tại xã Phú Đình,

huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên

- Phương pháp nghiên cứu

Thu thập số liệu ngoài thực địa được thực

hiện theo phương pháp điều tra theo tuyến và

ô tiêu chuẩn

Tuyến điều tra được xác định theo phương

pháp điển hình cho từng kiểu thảm thực vật

Trên tuyến điều tra, thống kê tất cả cây gỗ

(d>5cm) trong phạm vi 4m, cây có d<5cm

trong phạm vi 2m, cây thân thảo và thảm

tươi trong phạm vi 1m ở hai bên tuyến

Những cây chưa biết tên thu tiêu bản để

giám định tên loài

Ô tiêu chuẩn có diện tích 2500m2 (50x50m)

được bố trí dọc theo tuyến điều tra Trong ô

tiêu chuẩn bố trí hệ thống ô dạng bản có kích

thước 25m2

(5x5m) trên hai đường chéo và

trung tâm ô tiêu chuẩn để thu thập số liệu

Các chỉ tiêu đo đếm trong ô tiêu chuẩn gồm:

tên loài cây, chiều cao, đường kính thân cây,

đường kính tán lá, độ tàn che của thảm thực

vật… các yếu tố lập địa (độ cao, độ dốc,

hướng phơi…)

Sử dụng khung phân loại của UNESCO [5]

để phân loại thảm thực vật Kết hợp sử

dụng các chỉ tiêu về hệ số tổ thành loài để

phân biệt các quần xã (ưu hợp) thực vật

(Thái Văn Trừng) [4]

Tên loài cây được xác định theo Phạm

Hoàng Hộ [3] và được chỉnh lý theo cuốn

Tên cây rừng Việt Nam [1] và Danh lục thực

vật Việt Nam [2]

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Hệ thực vật

Bước đầu đã ghi nhận 547 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 121 họ 372 chi 5 ngành như sau:

- Ngành thông đất – Lycopodiophyta: 2 họ 3 chi 4 loài

- Ngành cỏ Tháp bút – Equisetophyta: 1 họ 1 chi 2 loài

- Ngành Dương xỉ Polypodiophyta: 6 họ 9 chi 14 loài

- Ngành Thông – Pinophyta: 1 họ 1 chi 2 loài

- Ngành Ngọc lan – Magnoliophyta: 111 họ

357 chi 528 loài, trong đó

 Lớp hai lá mầm - Magnoliopsida: 92 họ 290 chi 434 loài

 Lớp một lá mầm – Liliopsida: 19 họ 67 chi

94 loài

Có 2 loài quí hiếm được trong sách đỏ Việt

Nam, đó là: Trám đen - Canarium tramdenum Dai & Yakov., Chò nâu - Dipterocarpus retusus Blume, Giổi lông - Michelia balansae (DC.) Dandy

Họ có nhiều loài gồm họ Cỏ (Poaceae) 38 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 34 loài, họ Đậu (Fabaceae) 21 loài, họ Cúc (Asteraceae)

16 loài, họ Na (Annonaceae) 15 loài, họ Cam

(Caesalpiniaceae), họ Re (Lauraceae) 12 loài,

họ Dâu tằm (Moraceae) và họ Hoa hồng (Rosaceae) cùng có 12 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 11 loài, họ Dẻ (Fagaceae) 10 loài, họ Bông (Malvaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Trôm (Sterculiaceae) và họ Gai (Urticaceae) có 10 loài

Họ có chi nhiều gồm họ Cỏ (Poaceae) 28 chi,

Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 22 chi, họ Cúc (Asteraceae) 13 chi, Họ Na (Annonaceae) 12 chi, Họ Đậu (Fabaceae) 11 chi, họ Cà phê (Rubiaceae) 10 chi, họ Cam (Rutaceae) 9 chi,

họ Ráy (Araceae) và họ Gai (Urticaceae) có 8 chi, họ Bông (Malvaceae) 7 chi, Họ Vang (Caesalpiniaceae) 7 chi, Họ Re (Lauraceae) 6 chi, họ Cau dừa (Arecaceae) họ Sim (Myrtaceae) và họ Trôm (Sterculiaceae) cùng

có 5 chi

Chi có nhiều loài gồm chi Ficus (họ Moraceae) có nhiều loài nhất 9 loài, sau đó là chi Elaeocarpus (họ Elaeocarpaceae) có 7 loài; các chi Phyllanthus (họ Euphorbiaceae), Ormosia (họ Fabaceae), Lithocarpus (họ Fagaceae), Litsea (họ Lauraceae), Rubus (họ Rosaceae) và Smilax (họ Smilacaceae) cùng

có 5 loài; các chi Bauhinia (họ Caesalpiniaceae), Syzygium (Myrtaceae),

Trang 3

Sterculia (Sterculiaceae) và Bambusa (họ

Poaceae) có 4 loài

Thảm thực vật

Theo khung phân loại của UNESCO (1973)

thảm thực vật xã Phú Đình có các kiểu như sau:

I.A.1a Rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa

nhiệt đới ở địa hình thấp và núi thấp

I.A.1a (1) Cây gỗ lá rộng: kiểu này chủ yếu là

rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác, phân bố

chủ yếu trên khu vực núi Hồng ở độ cao từ

300 m trở lên Là rừng thứ sinh, nhưng do

phục hồi sau khai thác nên cấu trúc rừng vẫn

còn lưu giữ được những tính chất của mô

hình rừng nguyên sinh vốn đã từng tồn tại

trên khu vực trước đây Rừng gồm có tầng A1

(tầng vượt tán) cao 20-25m, đường kính

30-40cm, có tán không đồng đều, tạo nên tầng

nhô với độ tàn che 0,1-0,2 Thành phần gồm

Xoan nhừ (Allospondias axilaris), Trám trắng

(Canarium album), Vạng (Endosperma

chinense), Quếch (Aphanamixis grandifolia),

Chặc khế (Dysoxylum binectariferum), các

loài thuộc chi Beilschmiedia họ Re

(Lauraceae), chi Castanopsis và Lithocarpus

họ Dẻ (Fabaceae) Tầng A2 (tầng ưu thế

sinh thái) gồm những cây cao 15-18m, đường

kính 20-30cm có tán khá tương đối khép kín

tạo thành tầng tán rừng Thành phần gồm:

Kháo (Machilus bonii), Kháo nhớt (Phoebe

tavoyana), Côm (Elaeocarpus angustifolius),

Muồng tía (Zenia insignis), Gội (Aglaia

monopetala), Dổi (Manglietia fordiana),

Ràng ràng (Ormosia balansea), Dẻ cau

(Lithocarpus kemmeratensis), Chẹo tía

(Canarium album)… Tầng dưới tán cao

7-10m gồm các loài Trâm (Syzygium sp.), Ràng

ràng (Ormosia balanse), Sảng (Sterculia sp.),

các loài thuộc chi Litsea, Machilus, Phoebe

họ Re (Lauraceae) Tầng cây bụi thưa, gồm

các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đơn

(Melastomataceae) Tầng cỏ quyết là các loài

cây thuộc Cỏ (Poaceae), Cói (Cyperaceae),

Ráy (Araceae, Riềng (Gingiberaceae), và các

loài khuyết thực vật thuộc ngành Dương xỉ

Ngoài ra trong rừng còn có hệ dây leo (chủ

yếu thuộc họ Đậu - Fabaceae) khá phát triển

I.A.1b Rừng tre nứa nhiệt đới địa hình thấp

và núi thấp Kết quả điều tra cho thấy, rừng

tre nứa đều có nguồn gốc phát sinh hình thành

từ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở

địa thấp và núi thấp do khai thác quá mức và chặt đốt rừng làm nương rẫy Trong loại hình rừng tre nứa, tùy theo mức độ tham gia của cây gỗ lá rộng mà hình thành nên rừng thuần loại hay rừng hỗn giao

I.A.1b (1) Rừng thuần loại Được đặc trưng

bởi loại hình rừng Vàu (Indosasa angustata)

hình thành sau khai thác kiệt hoặc do hậu quả của đốt nương làm rẫy Kiểu này có diện khá lớn, phân bố trên độ cao dưới 400 m Rừng gồm có tầng tán rừng được ưu thế bởi Vàu đắng có chiều cao 7-8m, mật độ 4000-5000 cây/ha, phân bố đều trên mặt đất với độ tàn che 0,7-0,8 Dưới tán rừng là tầng cây bụi cao 3-4m với thành phần loài gồm: Ba chạc

(Euodia lepta), Mắt trâu (Micromelum hirsutum), Muồng truổng (Zanthoxylum avicenniae), Lấu đỏ (Psychotria rubra), Bướm bạc (Mussaenda dehiscens), Trung

quân (Ancistrocladus sacndens), Nóng

(Aporosa dioica), Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Trọng đũa (Ardisia neriifolia), Găng (Randia spinosa) Tầng thảm tươi có

độ dày rậm Cop1 – Cop2, thành phần gồm Lá

dong (Phrynium placentarium), Sẹ (Alpinia tonkinensis), Gừng gió (Zingiber Zerumbet),

các loài thuộc họ Rau dền (Amaranthaceae),

họ Ráy (Araceae), họ Cói (Cyperaceae) Trong loại hình này, rải rác có gặp một số loài cây gỗ với thành phần gồm: Cứt ngựa

(Archidendron balansae), Trâm (Syzygium

pentapetalus), Hu đay (Trema orientalis), Thôi ba (Alangium kurzii), Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum), Dọc (Garcinia multiflora), Dẻ gai (Castanopsis indica), Xoan ta (Melia azedarach)…

I.A.1b (2) Rừng hỗn giao với cây lá rộng Đây là rừng phục hồi sau khai thác kiệt và phân bố trên các sườn đồi ở độ cao dưới 600m Khác với rừng thuần loại, trong loại hình này, ngoài tầng chính của rừng được ưu thế bởi Vàu đắng cao 7-8m, rừng có 1 tầng cây gỗ lá rộng cao 15-20m với độ tàn che 0,2-0,3 Chúng tôi đã thống kê được trên 30 loài cây gỗ trong loại hình này, tuy nhiên chỉ một

số loài chiếm ưu thế, trong đó đáng chú ý là

Kháo (Machilus bonii), Kháo nhớt (Phoebe tavoyana), Côm (Elaeocarpus angustifolius), Muồng tía (Zenia insignis), Bời lời lá tròn (Litsea monopetala), Dổi (Manglietia

Trang 4

118

fordiana), Ràng ràng (Ormosia balansea), Dẻ

cau (Lithocarpus kemmeratensis), Chẹo tía

(Engelhardtia roburghiana)… Tầng cây bụi

và thảm tươi có thành phần giống như ở rừng

tre nứa thuần loại như đã nêu trên Điều khác

biệt ở đây là các loài chịu bóng có mật độ cá

thể nhiều và độ dày rậm thảm tươi cao hơn

III.A.1a Thảm cây bụi nhiệt đới chủ yếu

thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới

III A.1a (1) Có cây gỗ hai lá mầm mọc rải

rác Các quần xã này hình thành do khai thác

quá mức, chặt phá rừng làm nương rãy và

chăn thả quá mức Tuy nhiên, do đất đai trong

khu vực còn tốt nên các trạng thái thảm cây

bụi chỉ là tạm thời và đang trong quá trình

diễn thế đi lên Có 2 ưu hợp phổ biến là: Ba

chạc (Euodia lepta) + Mua (Melastoma

tometosa) + Trinh nữ (Mimosa pudica) và Bọt

ếch (Glochidionsp.) + Thàu táu (Aporosa

tometosa) Trong loại hình này, cây gỗ

thường gặp là: Ràng ràng (Ormosia

kemmeratensis), Chẹo tía (Engelhardtia

balansae), Hu đay (Trema orientalis), Thôi ba

(Alangium kurzii), Lim xẹt (Peltophorum

pterocarpum)…

III A.1a (2) Không có cây gỗ hai lá mầm

mọc rải rác Kiểu này gồm có quần xã Cỏ lào

(Ageratum conyzoides) và quần xã cây Trinh

nữ (Mimosa pudica) tạo thành những khoảnh

nhỏ phân bố rãi rác trong khu vực Trạng thái

thảm cây bụi dạng này chủ yếu là nương rẫy

mới bỏ hoang, hoặc sau bỏ hoang nhưng bị

chăn thả Tuy nhiên nếu được bảo vệ, thảm

thực vật sẽ phát triển thành thảm cây bụi và

rừng thứ sinh

IV Thảm cỏ

Trên địa bàn, trạng thái thảm cỏ có diện tích

không nhiều, thường phân bố trên những khu

vực là đất nương rẫy do canh tác càn đi quét

lại nhiều lần và đất đai đã bị thoái hóa

IV.A.1 Thảm cỏ dạng lúa cao nhiệt đới có hay

không có cây gỗ

IV.A.1a Chịu hạn Đại diện là ưu hợp Lau

(Thysanolaena maxima) phân bố trên các

sườn núi Hiện tại thảm thực vật này đang

diễn thế đi lên do sự phát triển của các loài

cây tái sinh Trong thảm cỏ này, thành phần

cây bụi chủ yếu là: Ba chạc (Euodia lepta),

Mắt trâu (Micromelum hirsutum), Muồng

truổng (Zanthoxylum avicenniae), Lấu đỏ (Psychotria rubra), Bướm bạc (Mussaenda dehiscens), Trung quân (Ancistrocladus sacndens), Nóng (Saurauia napaulensis), Ớt sừng (Tabernaemontana bovina), Thàu táu (Aporosa dioica), Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Trọng đũa (Ardisia neriifolia), Găng (Randia spinosa), các loài cây gỗ gồm

Hu đay (Trema orientalis), Thôi ba (Alangium kurzii), Lim xẹt (Peltophorum

balansea)…

IV.A.1 Thảm cỏ không dạng lúa cao nhiệt đới

có hay không có cây gỗ Đại diện là ưu hợp Chuối rừng (Musa sp.) Ưu hợp chuối rừng có diện tích không nhiều, thường là những khoảnh nhỏ phân bố rải rác trên các vùng đất

ở chân núi và sườn núi

KẾT LUẬN

Hệ thực vật xã Phú Đình huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng và phong phú Bước đầu đã ghi nhận được 547 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 121 họ 372 chi 5 ngành, trong đó Ngành thông đất (Lycopodiophyta) có 2 họ 3 chi 4 loài; Ngành

cỏ Tháp bút (Equisetophyta) có 1 họ 1 chi 2 loài; Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 6

họ 9 chi 14 loài; Ngành Thông (Pinophyta) có

1 họ 1 chi 2 loài; và Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có 111 họ 357 chi 528 loài Theo khung phân loại của UNESCO (1973), thảm thực vật xã Phú Đình có 3 lớp quần hệ: rừng kín, thảm cây bụi và thảm cỏ với 3 kiểu thảm thực vật chính gồm: Rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình

thấp và núi thấp Thảm cây bụi nhiệt đới chủ

yếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới Thảm cỏ dạng lúa trung bình nhiệt đới có hay không có cây gỗ

Do tác động của các hoạt động khai thác và đốt nương làm rẫy nên thảm thực vật đã bị suy thoái Rừng nguyên sinh hầu như không còn và thay thế vào đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên

Trang 5

119

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (2000), Tên cây rừng Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

[2] Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

[3] Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam, tập I, II, III

[4] Thái Văn Trừng (2000), Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Nxb KH&KT, Hà Nội

[5] Unesco, 1973 International classification and mopping of vegetation Unessco Paris: 14-37

SUMMARY

RESEARCH ON THE STATUS OF PLANTS IN PHU DINH COMMUNE

– DINH HOA DISTRICT – THAI NGUYEN PROVINCE

Le Dong Tan1 

, Nguyen Anh Hung2

, Duong Thi Van Anh 3

1

Institute of ecology and Biological Resources, 2 College of sciences – Thai Nguyen University,

3

Thai Nguyen University of Education

The flora of Phu Dinh commune, Dinh Hoa distrist Thai Nguyen province are multiform and plenteous At first 547 high vascular species have been found These species belong to 121 families, 372 genera 5 phylumla The vegetation of P.D.Commune Contains 3 layers of formation: Close forests, brushy covers, grass covers with 3 types of main vegetation: Rain forests which are usually green are in low locations and low mountains, tropical brushy covers are mainly green with large – leaved trees, grass/medium covers which are types of tropical rice have on don’t have woody sterms Because of effect of exploitation and slash – and – burn agriculture the vegetation are breakdown Primany forest are almost disappeared there are only vegetationg instead It is secondary forests which are in process of developing

Key words: Phu Dinh, vegetation, exploitation, slash – and – burn agriculture, process.

Tel: : 0983 647523, Email: tanledong@yahoo.co.in

Ngày đăng: 10/03/2014, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w