MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT TẠI XÃ PHÚ ĐÌNH HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN Lê Đồng Tấn1* , Nguyễn Anh Hùng2 , Dương Thị Vân Anh 3 1 Viện Sinh thái và Tài ngu
Trang 1MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT
TẠI XÃ PHÚ ĐÌNH HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN
Lê Đồng Tấn1*
, Nguyễn Anh Hùng2
, Dương Thị Vân Anh 3
1 Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 2 Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên
3 Học viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
TÓM TẮT
Hệ thực vật xã Phú Đình huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng và phong phú Bước đầu
đã ghi nhận được 547 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 121 họ 372 chi 5 ngành Thảm thực vật
xã Phú Đình có 3 lớp quần hệ: rừng kín, thảm cây bụi và thảm cỏ với 3 kiểu thảm thực vật chính
gồm: Rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp và núi thấp Thảm cây bụi
nhiệt đới chủ yếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới Thảm cỏ dạng lúa trung bình nhiệt đới
có hay không có cây gỗ Do tác động của các hoạt động khai thác và đốt nương làm rẫy nên thảm thực vật đã bị suy thoái Rừng nguyên sinh hầu như không còn và thay thế vào đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên
Từ khoá: Phú Đình, thảm thực vật, khai thác, đốt nương làm rẫy, diễn thế
MỞ ĐẦU
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá
đối với các quốc gia Thực vật rừng là nguồn
tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo
cung cấp cho loài người từ lương thực, thực
phẩm, các loài thuốc chữa bệnh… Quần thể
thực vật rừng tạo nên môi trưòng sinh thái
thích hợp là nơi cư trú cho nhiều loài sinh vật,
nó cũng góp phần cải tạo môi trường không
khí, đất, nước và làm tăng vẻ đẹp nơi sống
của con người
Một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của
nhân loại là diện tích rừng ngày càng bị thu
hẹp Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng
mất rừng như: Chiến tranh, thiên tai (gió, bão,
lửa rừng…) và bùng nổ dân số với các hoạt
động như khai thác gỗ củi, chặt phá rừng làm
nương rẫy… để giải quyết nhu cầu cuộc sống
trước mắt trong nhiều thập kỷ qua Hậu quả
làm cho thảm thực vật tự nhiên bị phá huỷ
nghiêm trọng, diện tích đất trống, đồi trọc
ngày càng tăng lên, làm mất dần tính đa dạng
sinh học Từ đó, đã dẫn đến giải phóng bạo
lực tự nhiên, những thiệt hại do thiên tai gây
ra sẽ không lường hết được
Tel: 0983 647523, Email: tanledong@yahoo.co.in
Nhận thức việc mất rừng là tổn thất duy nhất nghiêm trọng đang đe doạ sức sinh sản lâu dài của những tài nguyên có khả năng tái tạo Trong những năm qua nước ta đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề trồng rừng và bảo vệ rừng Mục tiêu đến năm 2010 nước ta phải trồng được 5 triệu ha rừng mới (2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất) nhằm đưa độ che phủ rừng lên 43% (tương đương năm 1943) góp phần bảo đảm an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen
và tính đa dạng sinh học
Phú Đình là một xã nằm ở phía Nam huyện Định Hoá có tổng diện tích tự nhiên 990ha Trong đó đất lâm nghiệp là 1755,8ha (Rừng sản xuất 205,8ha đặc dụng 1550ha) Dân số là
5900 người, chiếm 6,42% dân số của huyện, bao gồm 5 dân tộc anh em sinh sống là Kinh, Tày, Dao, Nùng và Sán Chỉ Nếu như huyện Định Hoá là một phần căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thì xã Phú Đình đã vinh dự được Bác
Hồ chọn làm nơi ở và làm việc cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại Khuôn Tát
và Tỉn Keo
Trang 2116
Nhằm thể hiện đạo lý “uống nước nhớ
nguồn”, thể hiện sự quan tâm của Đảng và
Chính phủ, trong những năm gần đây, Định
Hoá đã được đầu tư, tôn tạo, bảo vệ để xứng
đáng là một trong những khu di tích lịch sử
quan trọng của đất nước Vấn đề đặt ra là thực
hiện như thế nào để phát huy hiệu quả và tiềm
năng vốn có của chúng Thực tế cho thấy giá
trị của rừng chính là cơ sở để phát triển kinh
tế - xã hội, tạo nên cảnh quan du lịch sinh thái
nên công tác bảo vệ, nghiên cứu rừng càng
được chú trọng
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Các trạng thái thảm thực vật tại xã Phú Đình,
huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên
- Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu ngoài thực địa được thực
hiện theo phương pháp điều tra theo tuyến và
ô tiêu chuẩn
Tuyến điều tra được xác định theo phương
pháp điển hình cho từng kiểu thảm thực vật
Trên tuyến điều tra, thống kê tất cả cây gỗ
(d>5cm) trong phạm vi 4m, cây có d<5cm
trong phạm vi 2m, cây thân thảo và thảm
tươi trong phạm vi 1m ở hai bên tuyến
Những cây chưa biết tên thu tiêu bản để
giám định tên loài
Ô tiêu chuẩn có diện tích 2500m2 (50x50m)
được bố trí dọc theo tuyến điều tra Trong ô
tiêu chuẩn bố trí hệ thống ô dạng bản có kích
thước 25m2
(5x5m) trên hai đường chéo và
trung tâm ô tiêu chuẩn để thu thập số liệu
Các chỉ tiêu đo đếm trong ô tiêu chuẩn gồm:
tên loài cây, chiều cao, đường kính thân cây,
đường kính tán lá, độ tàn che của thảm thực
vật… các yếu tố lập địa (độ cao, độ dốc,
hướng phơi…)
Sử dụng khung phân loại của UNESCO [5]
để phân loại thảm thực vật Kết hợp sử
dụng các chỉ tiêu về hệ số tổ thành loài để
phân biệt các quần xã (ưu hợp) thực vật
(Thái Văn Trừng) [4]
Tên loài cây được xác định theo Phạm
Hoàng Hộ [3] và được chỉnh lý theo cuốn
Tên cây rừng Việt Nam [1] và Danh lục thực
vật Việt Nam [2]
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hệ thực vật
Bước đầu đã ghi nhận 547 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 121 họ 372 chi 5 ngành như sau:
- Ngành thông đất – Lycopodiophyta: 2 họ 3 chi 4 loài
- Ngành cỏ Tháp bút – Equisetophyta: 1 họ 1 chi 2 loài
- Ngành Dương xỉ Polypodiophyta: 6 họ 9 chi 14 loài
- Ngành Thông – Pinophyta: 1 họ 1 chi 2 loài
- Ngành Ngọc lan – Magnoliophyta: 111 họ
357 chi 528 loài, trong đó
Lớp hai lá mầm - Magnoliopsida: 92 họ 290 chi 434 loài
Lớp một lá mầm – Liliopsida: 19 họ 67 chi
94 loài
Có 2 loài quí hiếm được trong sách đỏ Việt
Nam, đó là: Trám đen - Canarium tramdenum Dai & Yakov., Chò nâu - Dipterocarpus retusus Blume, Giổi lông - Michelia balansae (DC.) Dandy
Họ có nhiều loài gồm họ Cỏ (Poaceae) 38 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 34 loài, họ Đậu (Fabaceae) 21 loài, họ Cúc (Asteraceae)
16 loài, họ Na (Annonaceae) 15 loài, họ Cam
(Caesalpiniaceae), họ Re (Lauraceae) 12 loài,
họ Dâu tằm (Moraceae) và họ Hoa hồng (Rosaceae) cùng có 12 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 11 loài, họ Dẻ (Fagaceae) 10 loài, họ Bông (Malvaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Trôm (Sterculiaceae) và họ Gai (Urticaceae) có 10 loài
Họ có chi nhiều gồm họ Cỏ (Poaceae) 28 chi,
Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 22 chi, họ Cúc (Asteraceae) 13 chi, Họ Na (Annonaceae) 12 chi, Họ Đậu (Fabaceae) 11 chi, họ Cà phê (Rubiaceae) 10 chi, họ Cam (Rutaceae) 9 chi,
họ Ráy (Araceae) và họ Gai (Urticaceae) có 8 chi, họ Bông (Malvaceae) 7 chi, Họ Vang (Caesalpiniaceae) 7 chi, Họ Re (Lauraceae) 6 chi, họ Cau dừa (Arecaceae) họ Sim (Myrtaceae) và họ Trôm (Sterculiaceae) cùng
có 5 chi
Chi có nhiều loài gồm chi Ficus (họ Moraceae) có nhiều loài nhất 9 loài, sau đó là chi Elaeocarpus (họ Elaeocarpaceae) có 7 loài; các chi Phyllanthus (họ Euphorbiaceae), Ormosia (họ Fabaceae), Lithocarpus (họ Fagaceae), Litsea (họ Lauraceae), Rubus (họ Rosaceae) và Smilax (họ Smilacaceae) cùng
có 5 loài; các chi Bauhinia (họ Caesalpiniaceae), Syzygium (Myrtaceae),
Trang 3Sterculia (Sterculiaceae) và Bambusa (họ
Poaceae) có 4 loài
Thảm thực vật
Theo khung phân loại của UNESCO (1973)
thảm thực vật xã Phú Đình có các kiểu như sau:
I.A.1a Rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa
nhiệt đới ở địa hình thấp và núi thấp
I.A.1a (1) Cây gỗ lá rộng: kiểu này chủ yếu là
rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác, phân bố
chủ yếu trên khu vực núi Hồng ở độ cao từ
300 m trở lên Là rừng thứ sinh, nhưng do
phục hồi sau khai thác nên cấu trúc rừng vẫn
còn lưu giữ được những tính chất của mô
hình rừng nguyên sinh vốn đã từng tồn tại
trên khu vực trước đây Rừng gồm có tầng A1
(tầng vượt tán) cao 20-25m, đường kính
30-40cm, có tán không đồng đều, tạo nên tầng
nhô với độ tàn che 0,1-0,2 Thành phần gồm
Xoan nhừ (Allospondias axilaris), Trám trắng
(Canarium album), Vạng (Endosperma
chinense), Quếch (Aphanamixis grandifolia),
Chặc khế (Dysoxylum binectariferum), các
loài thuộc chi Beilschmiedia họ Re
(Lauraceae), chi Castanopsis và Lithocarpus
họ Dẻ (Fabaceae) Tầng A2 (tầng ưu thế
sinh thái) gồm những cây cao 15-18m, đường
kính 20-30cm có tán khá tương đối khép kín
tạo thành tầng tán rừng Thành phần gồm:
Kháo (Machilus bonii), Kháo nhớt (Phoebe
tavoyana), Côm (Elaeocarpus angustifolius),
Muồng tía (Zenia insignis), Gội (Aglaia
monopetala), Dổi (Manglietia fordiana),
Ràng ràng (Ormosia balansea), Dẻ cau
(Lithocarpus kemmeratensis), Chẹo tía
(Canarium album)… Tầng dưới tán cao
7-10m gồm các loài Trâm (Syzygium sp.), Ràng
ràng (Ormosia balanse), Sảng (Sterculia sp.),
các loài thuộc chi Litsea, Machilus, Phoebe
họ Re (Lauraceae) Tầng cây bụi thưa, gồm
các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đơn
(Melastomataceae) Tầng cỏ quyết là các loài
cây thuộc Cỏ (Poaceae), Cói (Cyperaceae),
Ráy (Araceae, Riềng (Gingiberaceae), và các
loài khuyết thực vật thuộc ngành Dương xỉ
Ngoài ra trong rừng còn có hệ dây leo (chủ
yếu thuộc họ Đậu - Fabaceae) khá phát triển
I.A.1b Rừng tre nứa nhiệt đới địa hình thấp
và núi thấp Kết quả điều tra cho thấy, rừng
tre nứa đều có nguồn gốc phát sinh hình thành
từ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở
địa thấp và núi thấp do khai thác quá mức và chặt đốt rừng làm nương rẫy Trong loại hình rừng tre nứa, tùy theo mức độ tham gia của cây gỗ lá rộng mà hình thành nên rừng thuần loại hay rừng hỗn giao
I.A.1b (1) Rừng thuần loại Được đặc trưng
bởi loại hình rừng Vàu (Indosasa angustata)
hình thành sau khai thác kiệt hoặc do hậu quả của đốt nương làm rẫy Kiểu này có diện khá lớn, phân bố trên độ cao dưới 400 m Rừng gồm có tầng tán rừng được ưu thế bởi Vàu đắng có chiều cao 7-8m, mật độ 4000-5000 cây/ha, phân bố đều trên mặt đất với độ tàn che 0,7-0,8 Dưới tán rừng là tầng cây bụi cao 3-4m với thành phần loài gồm: Ba chạc
(Euodia lepta), Mắt trâu (Micromelum hirsutum), Muồng truổng (Zanthoxylum avicenniae), Lấu đỏ (Psychotria rubra), Bướm bạc (Mussaenda dehiscens), Trung
quân (Ancistrocladus sacndens), Nóng
(Aporosa dioica), Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Trọng đũa (Ardisia neriifolia), Găng (Randia spinosa) Tầng thảm tươi có
độ dày rậm Cop1 – Cop2, thành phần gồm Lá
dong (Phrynium placentarium), Sẹ (Alpinia tonkinensis), Gừng gió (Zingiber Zerumbet),
các loài thuộc họ Rau dền (Amaranthaceae),
họ Ráy (Araceae), họ Cói (Cyperaceae) Trong loại hình này, rải rác có gặp một số loài cây gỗ với thành phần gồm: Cứt ngựa
(Archidendron balansae), Trâm (Syzygium
pentapetalus), Hu đay (Trema orientalis), Thôi ba (Alangium kurzii), Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum), Dọc (Garcinia multiflora), Dẻ gai (Castanopsis indica), Xoan ta (Melia azedarach)…
I.A.1b (2) Rừng hỗn giao với cây lá rộng Đây là rừng phục hồi sau khai thác kiệt và phân bố trên các sườn đồi ở độ cao dưới 600m Khác với rừng thuần loại, trong loại hình này, ngoài tầng chính của rừng được ưu thế bởi Vàu đắng cao 7-8m, rừng có 1 tầng cây gỗ lá rộng cao 15-20m với độ tàn che 0,2-0,3 Chúng tôi đã thống kê được trên 30 loài cây gỗ trong loại hình này, tuy nhiên chỉ một
số loài chiếm ưu thế, trong đó đáng chú ý là
Kháo (Machilus bonii), Kháo nhớt (Phoebe tavoyana), Côm (Elaeocarpus angustifolius), Muồng tía (Zenia insignis), Bời lời lá tròn (Litsea monopetala), Dổi (Manglietia
Trang 4118
fordiana), Ràng ràng (Ormosia balansea), Dẻ
cau (Lithocarpus kemmeratensis), Chẹo tía
(Engelhardtia roburghiana)… Tầng cây bụi
và thảm tươi có thành phần giống như ở rừng
tre nứa thuần loại như đã nêu trên Điều khác
biệt ở đây là các loài chịu bóng có mật độ cá
thể nhiều và độ dày rậm thảm tươi cao hơn
III.A.1a Thảm cây bụi nhiệt đới chủ yếu
thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới
III A.1a (1) Có cây gỗ hai lá mầm mọc rải
rác Các quần xã này hình thành do khai thác
quá mức, chặt phá rừng làm nương rãy và
chăn thả quá mức Tuy nhiên, do đất đai trong
khu vực còn tốt nên các trạng thái thảm cây
bụi chỉ là tạm thời và đang trong quá trình
diễn thế đi lên Có 2 ưu hợp phổ biến là: Ba
chạc (Euodia lepta) + Mua (Melastoma
tometosa) + Trinh nữ (Mimosa pudica) và Bọt
ếch (Glochidionsp.) + Thàu táu (Aporosa
tometosa) Trong loại hình này, cây gỗ
thường gặp là: Ràng ràng (Ormosia
kemmeratensis), Chẹo tía (Engelhardtia
balansae), Hu đay (Trema orientalis), Thôi ba
(Alangium kurzii), Lim xẹt (Peltophorum
pterocarpum)…
III A.1a (2) Không có cây gỗ hai lá mầm
mọc rải rác Kiểu này gồm có quần xã Cỏ lào
(Ageratum conyzoides) và quần xã cây Trinh
nữ (Mimosa pudica) tạo thành những khoảnh
nhỏ phân bố rãi rác trong khu vực Trạng thái
thảm cây bụi dạng này chủ yếu là nương rẫy
mới bỏ hoang, hoặc sau bỏ hoang nhưng bị
chăn thả Tuy nhiên nếu được bảo vệ, thảm
thực vật sẽ phát triển thành thảm cây bụi và
rừng thứ sinh
IV Thảm cỏ
Trên địa bàn, trạng thái thảm cỏ có diện tích
không nhiều, thường phân bố trên những khu
vực là đất nương rẫy do canh tác càn đi quét
lại nhiều lần và đất đai đã bị thoái hóa
IV.A.1 Thảm cỏ dạng lúa cao nhiệt đới có hay
không có cây gỗ
IV.A.1a Chịu hạn Đại diện là ưu hợp Lau
(Thysanolaena maxima) phân bố trên các
sườn núi Hiện tại thảm thực vật này đang
diễn thế đi lên do sự phát triển của các loài
cây tái sinh Trong thảm cỏ này, thành phần
cây bụi chủ yếu là: Ba chạc (Euodia lepta),
Mắt trâu (Micromelum hirsutum), Muồng
truổng (Zanthoxylum avicenniae), Lấu đỏ (Psychotria rubra), Bướm bạc (Mussaenda dehiscens), Trung quân (Ancistrocladus sacndens), Nóng (Saurauia napaulensis), Ớt sừng (Tabernaemontana bovina), Thàu táu (Aporosa dioica), Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Trọng đũa (Ardisia neriifolia), Găng (Randia spinosa), các loài cây gỗ gồm
Hu đay (Trema orientalis), Thôi ba (Alangium kurzii), Lim xẹt (Peltophorum
balansea)…
IV.A.1 Thảm cỏ không dạng lúa cao nhiệt đới
có hay không có cây gỗ Đại diện là ưu hợp Chuối rừng (Musa sp.) Ưu hợp chuối rừng có diện tích không nhiều, thường là những khoảnh nhỏ phân bố rải rác trên các vùng đất
ở chân núi và sườn núi
KẾT LUẬN
Hệ thực vật xã Phú Đình huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng và phong phú Bước đầu đã ghi nhận được 547 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 121 họ 372 chi 5 ngành, trong đó Ngành thông đất (Lycopodiophyta) có 2 họ 3 chi 4 loài; Ngành
cỏ Tháp bút (Equisetophyta) có 1 họ 1 chi 2 loài; Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 6
họ 9 chi 14 loài; Ngành Thông (Pinophyta) có
1 họ 1 chi 2 loài; và Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có 111 họ 357 chi 528 loài Theo khung phân loại của UNESCO (1973), thảm thực vật xã Phú Đình có 3 lớp quần hệ: rừng kín, thảm cây bụi và thảm cỏ với 3 kiểu thảm thực vật chính gồm: Rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình
thấp và núi thấp Thảm cây bụi nhiệt đới chủ
yếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới Thảm cỏ dạng lúa trung bình nhiệt đới có hay không có cây gỗ
Do tác động của các hoạt động khai thác và đốt nương làm rẫy nên thảm thực vật đã bị suy thoái Rừng nguyên sinh hầu như không còn và thay thế vào đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên
Trang 5119
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (2000), Tên cây rừng Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
[2] Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
[3] Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam, tập I, II, III
[4] Thái Văn Trừng (2000), Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Nxb KH&KT, Hà Nội
[5] Unesco, 1973 International classification and mopping of vegetation Unessco Paris: 14-37
SUMMARY
RESEARCH ON THE STATUS OF PLANTS IN PHU DINH COMMUNE
– DINH HOA DISTRICT – THAI NGUYEN PROVINCE
Le Dong Tan1
, Nguyen Anh Hung2
, Duong Thi Van Anh 3
1
Institute of ecology and Biological Resources, 2 College of sciences – Thai Nguyen University,
3
Thai Nguyen University of Education
The flora of Phu Dinh commune, Dinh Hoa distrist Thai Nguyen province are multiform and plenteous At first 547 high vascular species have been found These species belong to 121 families, 372 genera 5 phylumla The vegetation of P.D.Commune Contains 3 layers of formation: Close forests, brushy covers, grass covers with 3 types of main vegetation: Rain forests which are usually green are in low locations and low mountains, tropical brushy covers are mainly green with large – leaved trees, grass/medium covers which are types of tropical rice have on don’t have woody sterms Because of effect of exploitation and slash – and – burn agriculture the vegetation are breakdown Primany forest are almost disappeared there are only vegetationg instead It is secondary forests which are in process of developing
Key words: Phu Dinh, vegetation, exploitation, slash – and – burn agriculture, process.
Tel: : 0983 647523, Email: tanledong@yahoo.co.in