1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trần Tế Xương Tư liệu văn 11 cuộc đời con người sự nghiệp sáng tác thơ trích tác phẩm tiêu biểu

1 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 1
Dung lượng 279,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Tế Xương Tư liệu văn 11 cuộc đời con người sự nghiệp sáng tác thơ trích tác phẩm tiêu biểu của ông Cuộc đời: + Sống trong giai đoạn bi phẫn nhất của dân tộc + Là người học hành có chí, có tài làm thơ, mang khát vọng học hành thành đạt để có cuộc sống tử tế Tên khai sinh: Trần Duy Uyên. Gia đình: + Xuất thân trong gia đình nhà nho nghèo. + Vợ: Phạm Thị Mẫn, con nhà nền nếp, hay lam hay làm, thương chồng thương con, nhẫn nại,... Thời đại: đầy biến động, nhiễu nhương, thối nát. Kiên trì đeo đuổi tám khoa thi (các năm 1886, 1888, 1891, 1894, 1897, 1900, 1903, 1906). Có lẽ phong cách phóng khoáng, không tuân thủ theo lối văn khuôn sáo cử nghiệp, cộng với cách thức thi cử “chọn nhân tài” của chế độ thực dân phong kiến đương thời, nên ông lận đận mãi. Năm 1894, ông mới đỗ Tú tài thiên thủ, lấy thêm cuối bảng. Cuộc đời: + Sống trong giai đoạn bi phẫn nhất của dân tộc + Là người học hành có chí, có tài làm thơ, mang khát vọng học hành thành đạt để có cuộc sống tử tế + Thi cử lận đận: Đề tài chính: + Thế sự (thế cuộc đảo điên, đạo đức suy đồi, sức băng hoại của đồng tiền,...) + Khoa cử (thời đại vứt bút lông đi, giắt bút chì) + Người vợ + Chân dung tự hoạ (nhà nho quân tử, nhà nho tài tử) Ngôn ngữ: nôm na thông dụng nhưng thâm thuý, sâu cay Giọng điệu: + Trào phúng + Trữ tình + Trào phúng kết hợp trữ tình Đánh giá thơ Tú Xương, thấy công lao Tú Xương góp vào văn học ta không phải là ít. Đừng quên rằng cái hồi đó chữ Tàu, chữ Tây mới là tiếng nói con bà cả, chữ tiếng ta chỉ là một thứ con bà hai nếu không nói là con sen con đòi. Tôi chưa dám khẳng định xem ở Tú Xương, con người yêu nước đã cho Tú Xương cái ý thức nuôi dưỡng tiếng nói dân tộc, hay là ngược lại, con người sành Nôm yêu tiếng mẹ đẻ ấy đã hình thành ch

Trang 1

T R Ầ N T Ế X Ư Ơ N G

( 1 8 7 0 - 1 9 0 7 )

- Quê: Vị Xuyên, Mĩ Lộc, Nam Định

S Ự N G H I Ệ P S Á N G T Á C

- Tên khai sinh: Trần Duy Uyên

- Gia đình:

+ Xuất thân trong gia đình nhà nho

nghèo

+ Vợ: Phạm Thị Mẫn, con nhà nền nếp,

hay lam hay làm, thương chồng thương

con, nhẫn nại,

- Thời đại: đầy biến động, nhiễu

nhương, thối nát

Kiên trì đeo đuổi tám khoa thi (các năm 1886, 1888, 1891, 1894,

1897, 1900, 1903, 1906)

Có lẽ phong cách phóng khoáng, không tuân thủ theo lối văn khuôn sáo cử nghiệp, cộng với cách thức thi cử “chọn nhân tài” của chế độ thực dân phong kiến đương thời, nên ông lận đận mãi

Năm 1894, ông mới đỗ Tú tài thiên thủ, lấy thêm cuối bảng

- Cuộc đời:

+ Sống trong giai đoạn bi phẫn nhất của dân tộc + Là người học hành có chí, có tài làm thơ, mang khát vọng học hành thành đạt để có cuộc sống tử tế

+ Thi cử lận đận:

- Đề tài chính:

+ Thế sự (thế cuộc đảo điên, đạo đức

suy đồi, sức băng hoại của đồng tiền, )

+ Khoa cử (thời đại "vứt bút lông đi, giắt

bút chì")

+ Người vợ

+ Chân dung tự hoạ (nhà nho - quân tử,

nhà nho - tài tử)

- Ngôn ngữ: nôm na thông dụng nhưng

thâm thuý, sâu cay

- Giọng điệu:

+ Trào phúng

+ Trữ tình

+ Trào phúng kết hợp trữ tình

- "Đánh giá thơ Tú Xương, thấy công lao Tú Xương góp vào văn học ta không phải là ít Đừng quên rằng cái hồi đó chữ Tàu, chữ Tây mới là tiếng nói con bà cả, chữ tiếng ta chỉ là một thứ con bà hai nếu không nói là con sen con đòi Tôi chưa dám khẳng định xem ở Tú Xương, con người yêu nước đã cho Tú Xương cái ý thức nuôi dưỡng tiếng nói dân tộc, hay là ngược lại, con người sành Nôm yêu tiếng mẹ đẻ ấy đã hình thành cho tâm hồn ái quốc đó Chỉ biết rằng trong Tú Xương có cả yêu nước, có cả yêu tiếng nói dân tộc Tú Xương là một nhà thơ có một vị trí rõ nét trong

sự biết ơn của chúng ta, nhất là những người cầm bút, kể cả thơ, kể cả văn xuôi, Tú Xương là một kho kinh nghiệm sáng tác cho ta học."

(Nguyễn Tuân, Văn nghệ tháng 5, 1961)

- "Trước hết, chúng ta hãy nghe nhà thơ tả chân dung của bà Tú:

Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ;

Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ.

Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo, rằng lùn;

Người ung dung tính hạnh khoan hoà, chỉ một bệnh hay gàn hay dở.

Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ

(Văn tế sống vợ)

( ) Người phụ nữ dũng cảm ấy luôn bị chồng châm biếm, nhưng cách châm biếm của Tú Xương đối với vợ là một cách biểu lộ niềm âu yếm thiết tha, lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ:

Có một cô lái, nuôi một thầy đồ.

Quần áo rách rưới, ăn uống xô bồ.

Cơm hai bữa: cá kho rau muống, Quà một chiều: khoai lang lúa ngô.

Sao dám khinh mình: thầy đâu thầy vậy Chẳng biết trọng đạo, cô lốc cô lô."

(Trần Thanh Mại, Tú Xương, con người và nhà thơ, NXB Văn học, H 1961)

TỰ CƯỜI MÌNH

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành,

Mắt thời lơ láo, mặt thời xanh.

Vuốt râu nịnh vợ con bu nó,

Quắc mắt khinh đời cái bộ anh!

Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ,

Rượu chè trai gái đủ tam khoanh.

Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi,

Cứ việc ăn chơi chẳng học hành.

(Thơ văn Tú Xương) Designed By Dun

Ngày đăng: 10/10/2022, 22:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w