1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài : Chuỗi cung ứng của cà phê Trung Nguyên Giảng Viên: TS.Đoàn Ngọc Duy Linh

35 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuỗi Cung Ứng Của Cà Phê Trung Nguyên
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngoan, Trần Thị Hường, Dương Thị Kha, Trần Thị Tuyết Anh, Trần Thị Thanh Thanh, Nguyễn Thị Cẩm Giang, Đặng Thị Linh Thùy, Đinh Thị Thanh Lan, Vũ Thị Kim Anh, Đoàn Thị Thúy, Trần Thị Thu Thảo
Người hướng dẫn TS. Đoàn Ngọc Duy Linh
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Tp.Hcm
Chuyên ngành Quản Trị Cung Ứng
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 691,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Chuỗi Cung Ứng- Dưới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng:  “Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường” – “Fundaments o

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM

☺☺☺☺☺☺☺☺

MÔN

Quản Trị Cung Ứng

Đề tài : Chuỗi cung ứng của cà phê Trung Nguyên

Giảng Viên: TS.Đoàn Ngọc Duy Linh

Trang 3

Lời mở đầu

Quản trị chuỗi cung ứng là môn học nghiên cứu các hoạt động tổ chức, xây dựng, và quản lý hoạt động cung ứng vật tư, hàng hoá trong doanh nghiệp Điểm trọng yếu ở đây là giúp sinh viên có cái nhìn mới, hiểuquản lý chuỗi cung ứng như một nghề chuyên môn và có vai trò rất quan trọng để nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong giai đoạn pháttriển kinh tế hiện nay Môn học giới thiệu các khái niệm, định nghĩa, quan điểm, giá trị, mục đích, phương pháp, và các kỹ thuật xây dựng hệ thống quản lý chuỗi cung ứng để người học có được cái nhìn tổng quát trước khi

đi vào chuyên sâu

Sau khi học môn này sinh viên sẽ đạt được những kiến thức và kỹ năng sau:

 Hiểu được đây là một ngành học, một khoa học, một nghề chuyên môn rất mới trên thế giới và ở Việt Nam

 Nắm bắt được các lý thuyết sử dụng trong công tác quản trị chuỗi cung ứng để áp dụng trong thực tế nghề nghiệp

 Hiểu được các khái niệm, định nghĩa, quan điểm, giá trị, mục đích vàphương pháp quản lý chuỗi cung ứng

 Tiếp cận các kỹ thuật xây dựng hệ thống quản trị chuỗi cung ứng

 Đo lường hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng

 Có cái nhìn về triển vọng phát triển nghề nghiệp tương lai

*Bài tiểu luận có gì sơ sót mong thầy và các bạn thông cảm.*

Xin chân thành cảm ơn !

I./CHUỖI QUÀN TRỊ CUNG ỨNG LÀ GÌ???

Trang 4

1 Khái niệm Chuỗi Cung Ứng

- Dưới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng:

 “Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường” – “Fundaments of Logistics

Management” của Lambert, Stock và Elleam (1998, Boston MA:Irwin/McGraw-Hill, c.14)

 “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” –

“Supplychain management: strategy, planing and operation” củaChopra Sunil và Pter Meindl, (2001, Upper Saddle Riverm NI:Prentice Hall c.1)

 “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” – “An introduction to supply

chain management” Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, 1995

 “Việc kết hợp một cách hệ thống, chiến lược các chức năng kinh doanh truyền thống và sách lược giữa các chức năng kinh doanh

đó trong phạm vi một công ty và giữa các công ty trong phạm vi chuỗi cung ứng, nhằm mục đích cải thiện kết quả lâu dài của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng” – Mentzer, De Witt,

Deebler, Min

- Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một định nghĩa về chuỗi cungứng:

Trang 5

Chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa hàng loạt các nhà cung ứng vàkhách hàng được kết nối với nhau, trong đó mỗi khách hàng đến lượt mìnhlại là nhà cung ứng cho tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm đến tayngười tiêu dùng Chuỗi này được bắt đầu khai thác từ các nguyên liệunguyên thủy, và người tiêu dùng là mắt xích cuối cùng của chuỗi.

Nói cách khác chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinhdoanh cung cấp một sản phẩm trên một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sảnsuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng

Chuỗi cung ứng bao gồm các công ty và hoạt động kinh doanh cần đểthiết kế, sản xuất, phân phối và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ Các hoạtđộng kinh doanh tùy thuộc vào chuỗi cung ứng cung cấp cho họ những gì

họ cần để tồn tại và phát triển Mỗi doanh nghiệp phù hợp với một hoặcnhiều chuỗi cung ứng và có vai trò nhất định trong từng chuỗi cung ứng đó.Tốc độ thay đổi và sự bất ổn về sự tiến triển của thị trường đã khiến cáccông ty cần hiểu rõ về chuỗi cung ứng mà họ tham gia và hiểu được vai tròcủa họ Các công ty nào biết cách xây dựng và tham gia vào những chuỗicung ứng mạnh mẽ sẽ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong thị trường củahọ

Với quan điểm rộng hơn về chuỗi cung ứng, các hoạt động phụ nàyngày nay được coi là một phần công việc cần thực hiện đối với đòi hỏi củakhách hàng Quản lý chuỗi cung ứng coi chuỗi cung ứng và các công ty làmột thực thể độc nhất Nó đem lại một cách tiếp cận hệ thống để hiểu vàquản lý các hoạt động khác nhau cần kết hợp dòng sản phẩm và dịch vụnhằm phục vụ khách hàng tốt nhất Phương pháp hệ thống này đem lại mộtkhuôn khổ trong đó đáp ứng tốt nhất các nhu cầu kinh doanh mà theo cáchkhác dường như mâu thuẫn lẫn nhau

Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả đòi hỏi cải tiến đồng thời các mức độdịch vụ khách hàng và tính hiệu quả các hoạt động nội bộ của công ty trong

Trang 6

chuỗi cung ứng Dịch vụ khách hàng ở mức cơ bản nhất có nghĩa là luônluôn đạt tỷ lệ đáp ứng đơn đặt hàng cao, tỷ lệ giao hàng đúng thời hạn cao,

và tỷ lệ sản phẩm khách hàng trả lại vì bất cứ lý do gì thấp Tính hiệu quả

trong nội bộ công ty trong một chuỗicung ứng có nghĩa là các công ty này có

tỷ số thu hồi vốn đầu tư vào hàng tồnkho và vào các tài sản khác hấp dẫn và

họ có cách giảm thiểu các chi phí sảnxuất kinh doanh

Mỗi chuỗi cung ứng đều có một kiểunhu cầu thị trường và các thách thức kinhdoanh riêng nhưng các vấn đề về cơ bản giống nhau trong từng chuỗi Cáccông ty trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào cũng phải quyết định riêng vàchung trong 5 lĩnh vực sau:

1 Sản xuất: Thị trường muốn loại sản phẩm nào? Cần sản xuất bao

nhiêu loại sản phẩm nào và khi nào? Hoạt động này bao gồm việclập kế hoạch sản xuất chính theo công suất nhà máy, cân đối côngviệc, quản lý chất lượng và bảo trì thiết bị

2 Hàng tồn kho: Ở mỗi giai đoạn trong một chuỗi cung ứng cần tồn

kho những mặt hàng nào? Cần dự trữ bao nhiêu nguyên liệu, bánthành phẩm hay thành phẩm? Mục đích trước tiên của hàng tồnkho là hoạt đông như một bộ phận giảm sốc cho tình trạng bấtđịnh trong chuỗi cung ứng Tuy nhiên, việc trữ hàng tồn rất tốnkém, vì thế đâu là mức độ tồn kho và điểm mua bổ sung tối ưu?

3 Vị trí: Các nhà máy sản xuất và lưu trữ hàng tồn cần được đặt ở

đâu? Đâu là vị trí hiệu quả nhất về chi phí cho sản xuất và lưu trữhàng tồn? Có nên sử dụng các nhà máy có sẵn hay xây mới Một

Trang 7

khi các quyết định này đã lập cần xác định các con đường sẵn có

để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng

4 Vận chuyển: Làm thế nào để vận chuyển hàng tồn từ vị trí chuỗi

cung ứng này đến vị trí chuỗi cung ứng khác? Phân phối bằnghàng không và xe tải nói chung là nhanh chóng và đáng tin nhưngchúng thường tốn kém Vận chuyển bằng đường biển và xe lửa đỡtốn kém hơn nhưng thường mất thời gian trung chuyển và khôngđảm bảo Sự không đảm bảo này cần được bù bằng các mức độtrữ hàng tồn cao hơn

5 Thông tin: Phải thu thập bao nhiêu dữ liệu và chia sẻ bao nhiêu

thông tin? Thông tin chính xác và kịp thời sẽ giúp lời cam kết hợptác tốt hơn và quyết định đúng hơn Có được thông tin tốt, người

ta có thể có những quyết định hiệu quả về việc sản xuất cái gì vàbao nhiêu, về nơi trữ hàng và cách vận chuyển tốt nhất

Tổng của các quyết định này sẽ xác định công suất và tính hiệuquả của chuỗi cung ứng của công ty Những gì mà công ty cóthể làm và các cách mà nó có thể thực hiện trong thị trườngcủa nó đều phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả của chuỗicung ứng Nếu chiến lược của một công ty là phục vụ một thịtrường khổng lồ và cạnh tranh giá trần, tốt hơn hết công ty đóphải có một chuỗi cung ứng được tối ưu hóa với chi phí thấpnhất Công ty là gì và công ty có thể làm gì đều được định hìnhbởi chuỗi cung ứng và thị trường mà công ty phục vụ

2 Đặc điểm cơ bản về quản lý chuỗi cung ứng

a) Cấu trúc chuỗi cung ứng

Trang 8

Với hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm công ty, các nhàcung cấp và khách hàng của công ty đó Đây là tập hợp những đối tượngtham gia cơ bản để tạo ra một chuỗi cung ứng cơ bản Những chuỗi cungứng mở rộng có ba loại đối tượng tham gia truyền thống:

+ Loại thứ nhất là nhà cung cấp của các nhà cung cấp hay nhà cungcấp cuối cùng ở vị trí bắt đầu của chuỗi cung ứng mở rộng

+ Loại thứ hai là khách hàng của các khách hàng hay khách hàng cuốicùng ở vị trí kết thúc của chuỗi cung ứng

+ Loại thứ ba là tổng thể các công ty cung cấp dịch vụ cho những công

ty khác trong chuỗi cung ứng Đây là các công ty cung cấp dịch vụ về hậucần, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin

Trong chuỗi cung ứng cũng có sự kết hợp của một số công ty thực hiện

những chức năng khác nhau Những công ty đó là nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng cá nhân hay khách hàng là tổ chức Những công ty thứ cấp này sẽ có nhiều công ty khác nhau cung cấp

hàng loạt những dịch vụ cần thiết

b) Thiết lập chuỗi cung ứng phù hợp với chiến lược kinh doanh

Có 3 bước để chuỗi cung ứng phù hợp với chiến lược kinh doanh của công

ty bạn:

 Bước 1: Hiểu thị trường mà công ty bạn phục vụ

Chúng ta bắt đầu từ các câu hỏi về khách hàng của công ty: loại kháchhàng phục vụ? loại khách hàng bán sản phẩm? loại chuỗi cung ứng củacông ty?

 Bước 2: Xác định năng lực cạnh tranh cốt lõi của công ty

Bước tiếp theo chính là xác định vai trò của công ty trong chuỗi cung ứng:

- Công ty là đối tượng tham gia nào trong chuỗi cung ứng: nhà sản xuất,nhà phân phối, nhà bán lẻ hay nhà cung cấp dịch vụ?

- Công ty có thể làm gì để trở thành một bộ phận của chuỗi cung ứng?

- Khả năng cạnh tranh cốt lõi của công ty là gì?

- Công ty muốn tạo lợi nhuận bằng cách nào?

Trang 9

 Bước 3: Phát triển khả năng cần thiết trong chuỗi cung ứng

Khi xác định loại thị trường mà công ty đang phục vụ, vai trò của công tytrong chuỗi cung ứng thì bước sau cùng là thực hiện việc phát triển năng lựccần thiết để đáp ứng vai trò này Mỗi trục điều khiển có thể được triển khai,tập trung vào tính kịp thời hay hiệu quả trên cơ sở yêu cầu kinh doanh

+ Sản xuất – tác nhân thúc đẩy này có thể đáp ứng nhanh qua việc xây

dựng nhà máy với công suất thừa, sử dụng kỹ thuật sản xuất linhhoạt nhằm tạo ra đủ loại sản phẩm Để đáp ứng tính kịp thời, công tythực hiện việc sản xuất tại các nhà máy nhỏ đặt gần khách hàngchính để rút ngắn thời gian giao hàng Để đáp ứng tính hiệu quả,công ty cũng có thể sản xuất ở các nhà máy lớn tập trung để đạt tínhkinh tế nhờ qui mô hay tối ưu hóa sản xuất một số sản phẩm

+ Tồn kho – Tính đáp ứng nhanh có thể đạt được thông qua việc tồn

trữ sản phẩm ở mức cao với đủ chủng loại Tính đáp ứng kịp thời cóthể đạt được bằng cách tồn trữ sản phẩm nhiều nơi gần với kháchhàng, sẵn sàng cung ứng ngay khi cần Quản lý tồn kho hiệu quả đòihỏi giảm mức tồn kho cho tất cả các sản phẩm, đặc biệt là các sảnphẩm không bán được thường xuyên Ngoài ra, có thể đạt được tínhkinh tế nhờ qui mô và tiết kiệm chi phí bằng cách tồn trữ sản phẩm ởnhững địa điểm trung tâm

+ Địa điểm –Tính kịp thời có thể đạt được thông qua việc mở nhiều

địa điểm gần nơi khách hàng Ví dụ: Co-opmart sử dụng địa điểm đểđáp ứng nhanh cho khách hàng thông qua việc mở cửa hàng ở nơi cónhiều khách hàng Tính hiệu quả có thể đạt được bằng việc hoạtđộng ở một số địa điểm, tập trung vào các hoạt động ở những địađiểm phổ biến; Big C, Metro thoả mãn thị trường theo vùng địa lýnhưng chỉ tập trung vào những địa điểm có các hoạt động đầy đủ

+ Vận tải – Tính đáp ứng nhanh có thể đạt được thông qua phương

thức vận chuyển nhanh và linh hoạt Nhiều công ty bán hàng quacatalogs hay qua Internet có mức đáp ứng rất cao qua chuyển giaohàng trong vòng 24 giờ: Fed.Ex và UPS là 2 công ty cung cấp dịch

vụ vận chuyển nhanh Tính hiệu quả có thể đạt được bằng cách vậnchuyển sản phẩm với lô lớn hơn và thực hiện ít thường xuyên hơn

Trang 10

Sử dụng hình thức vận chuyển như tàu, xe lửa, và đường dẫn rất hiệuquả

+ Thông tin – Sức mạnh của tác nhân thúc đẩy này phát triển mạnh vì

kỹ thuật thu nhận và chia sẻ thông tin ngày càng phổ biến, dễ sửdụng và rẻ hơn Thông tin là một sản phẩm rất hữu ích vì nó thểđược ứng dụng trực tiếp để nâng cao khả năng thực thi của 4 tácnhân thúc đẩy khác của chuỗi cung ứng Khả năng đáp ứng ở mứccao có thể đạt được khi công ty thu thập, chia sẻ chính xác và kịpthời những dữ liệu từ các hoạt động của 4 tác nhân thúc đẩy kia.Chuỗi cung ứng phục vụ trong thị trường điện tử là đáp ứng nhanhnhất trên thế giới

I TÌNH HÌNH LOGISTICS Ở VIỆT NAM

1) Thị trường dịch vụ logictis Việt Nam: cơ hội và thách thức

Từ năm 2001 đến nay, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thịtrường dịch vụ Logistics Việt Nam có sự chuyển biến tích cực với số lượngcác doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Logistics phát triển nhanh và cótốc độ tăng trưởng cao

Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổchức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển,lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn

Trang 11

khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụkhác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởngthù lao.

Hiện các doanh nghiệp logistics của Việt Nam đang hoạt động kháchuyên nghiệp và hiệu quả nhưng trên thực tế mới chỉ đáp ứng được 25%nhu cầu thị trường và chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp các dịch vụ đơn lẻ,một số công đoạn cuả chuỗi dịch vụ quan trọng này Thực tế này là do cácdoanh nghiệp logistics của Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa vànhỏ, quy mô và năng lực còn nhiều hạn chế , song tính hợp tác và liên kết

để tạo ra sức cạnh tranh lại còn rất yếu nên làm cho khả năng cạnh tranhthấp

Qua số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển - trườngĐại học Kinh tế quốc dân về hoạt động logistics ở 10 tỉnh, thành phố trong

cả nước năm 2011 cho thấy có tới 69,28% ý kiến cho rằng các doanhnghiệp thiếu sự liên kết hợp tác, 54,7% ý kiến cho rằng thiếu đội ngũ nhânviên có tính chuyên nghiệp và có tới 80,26% lao động trong các doanhnghiệp logistics chỉ được đào tạo qua công việc

Đây chính là những nguyên nhân cơ bản làm cho năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp logistics Việt Nam thấp thua xa so với các doanhnghiệp nước ngoài trong tình hình hiện nay là điều dễ hiểu và các doanhnghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn đóng vai trò là “vệ tinh” cho các công tylogistics nước ngoài, chỉ đảm nhận một số dịch vụ đơn lẻ trong hoạt độnglogistics như làm thủ tục Hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, khobãi….Trong bối cảnh khi mà hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ngàycàng phát triển, thương mại nội địa ngày càng mở rộng nhu cầu dịch vụlogistics càng gia tăng thì đây là vấn đề cần phải đặc biệt quan tâm, khắcphục để hạn chế thua thiệt ngay trên “sân nhà” đối với lĩnh vực được coi làngành dịch vụ “cơ sở hạ tầng” của nền kinh tế, không chỉ đem lại nguồn lợi

to lớn đối với đất nước mà còn có vai trò quan trọng trong đổi mới mô hìnhtăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế hiện nay

Với việc các doanh nghiệp logistics nước ngoài chiếm tới 75% thịtrường và các doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng 25% nhu cầu thịtrường logistics và chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ cho một số côngđoạn của chuỗi dịch vụ quan trọng này với quy mô thị trường chiếm tới25% GDP thì chắc chắn có ảnh hưởng lớn đến ngành Logistics Việt Nam

và cả nền kinh tế Việt Nam nói chung Lấy ví dụ về khai thác Cảng biểnhiện nay, một số cảng biển ở phía nam gần đây đua nhau hạ giá cước làmhàng chỉ ở mức 32 USD/container 20 feet và 50 USD/container 40 feetthấp hơn nhiều so với các cảng cùng chất lượng dịch vụ trong khu vực nhưThái Lan 55 USD/container 20 feet, Singapo – 117 USD/ container 40feet…Đây là nguy cơ mất thị phần khai thác cảng biển của Việt Nam vào

Trang 12

tay giới đầu tư nước ngoài là rất lớn Vì với mức giá thấp như vậy dẫn đếnthua lỗ nặng ở các cảng biển buộc phải bán giảm bớt cổ phần, khi đó nhàđầu tư nước ngoài sẽ có cơ hội để nắm giữ cổ phần chi phối Điều này rõràng là ảnh hưởng trực tiếp đến ngành Logistics Việt Nam và ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi ích và sự phát triển kinh tế của đất nước.

Với việc Việt Nam thực hiện các cam kết về tự do hoá dịch vụ Logisticstrong WTO và Hội nhập ASEAN về Logistics theo lộ trình 4 bước đến năm

2014 là: (1) Tự do hoá thương mại, dỡ bỏ rào cản thuế; (2) Tạo cơ hội chodoanh nghiệp trong lĩnh vực Logistics; (3) Nâng cao năng lực quản lýLogistics và (4) Phát triển nguồn nhân lực Bối cảnh đó đặt ra nhiều cơ hội

và thách thức cho ngành Logistics ở Việt Nam Trước hết là cơ hội để pháttriển Logistics của Việt Nam là tiếp cận được thị trường Logistics rộng lớnhơn với những ưu đãi thương mại để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ;phát huy lợi thế địa lý - chính trị trong phát triển cơ sở hạ tầng Logisticsnhư phát triển cảng nước sâu, sân bay quốc tế, hệ thống đường sắt xuyên Á,các trung tâm Logistics; Hội nhập Logistics tạo cơ hội cho Việt Nam pháttriển quan hệ đối tác, thị trường xuất khẩu được mở rộng, góp phần cơ cấulại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng Bên cạnh đó, trên conđường thực hiện mục tiêu hội nhập ngành Logistics, Việt Nam cũng đangđối mặt với nhiều thách thức như: Cơ sở hạ tầng cho hoạt động Logisticsnghèo nàn và thiếu đồng bộ, hạn chế đến sự phát triển, dẫn đến chi phíLogistics của Việt Nam còn cao hơn nhiều so với các nước; Doanh nghiệpLogistics quy mô nhỏ, hoạt động manh mún và thiếu tính chuyên nghiệp;Thiếu hụt nguồn nhân lực Logistics được đào tạo bài bản và có trình độquản lý Logistics; Môi trường pháp lý còn nhiều bất cập, sự khác biệt về hệthống luật pháp, thông quan hàng hoá và các thủ tục hành chính là nhữngthách thức đối với nước ta trong hội nhập về Logistics

Với các mục tiêu đặt ra cho lĩnh vực dịch vụ Logistics đến năm 2020,như tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ Logistics đến năm 2020 là 40% và hình thànhdịch vụ trọn gói 3PL là những mục tiêu đầy khó khăn Để có thể thực hiệnđược các mục tiêu đặt ra, ngành Logistics Việt Nam phải thực hiện đồngthời nhiều giải pháp cả ở tầm vĩ mô và vi mô như Xây dựng quy hoạch vàchiến lược tổng thể phát triển Logistics của Việt Nam đến năm 2020 và tầmnhìn 2030; Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động Logistics, pháttriển khung thể chế và quản lý vĩ mô hệ thống Logistics; Phát triển thịtrường Logistics, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh sản phẩm dịch vụLogistics; Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Logistics;Phát triển và nâng cao trình độ nguồn nhân lực Logistics

Việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Logistics trong hoạt động kinhdoanh là điều cần thiết, nhằm thúc đẩy và tạo động lực phát triển kinhdoanh Nhưng trong điều kiện hiện nay khi mà các doanh nghiệp trongnước mới chỉ cung ứng dịch vụ truyền thống, đơn lẻ, chủ yếu là làm đại lý,quy mô doanh nghiệp logistics chủ yếu là vừa và nhỏ, kinh doanh còn

Trang 13

manh mún, lao động vừa thiếu lại vừa yếu, chưa có sự hợp tác, liên minhliên kết để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài thì kinh doanhtheo kiểu “chụp giật”, manh mún, cạnh tranh theo kiểu hạ giá cước làmhàng, hạ giá thành để làm đại lý cho nước ngoài một cách không lành mạnh

là kiểu làm ăn không theo đúng quy tắc thị trường, là tiền lệ xấu tạo chocác doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh thị trường ngành logistics non trẻcủa Việt Nam

Trong tình hình hiện nay, để hóa giải vấn đề này, trước hết là thuộc về cácdoanh nghiệp logistics của Việt Nam, cần phải có quan điểm logistics ngay

từ chính các doanh nghiệp, các doanh nghiệp logistics Việt Nam cần phảilàm ăn theo đúng quy tắc của thị trường, phải liên kết hoạt động, hợp tác,thiết lập mối quan hệ kinh tế cùng có lợi, mỗi doanh nghiệp cần tập trungthế mạnh của mình và sẽ thuê ngoài những dịch vụ không phải thếmạnh.Sự liên kết, phối hợp hỗ trợ nhau là điều rất cần thiết cho các doanhnghiệp Việt Nam

2) Thực trạng hoạt động dịch vụ logictis tại Việt Nam

a) Về số lượng doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ logistics

Việt Nam có khoảng 800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vựclogistics (có tài liệu nói 1.000 doanh nghiệp) Đây là một con số khá lớnnhưng trên thực tế đa phần lại là những doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ Dovốn ít nên cơ cấu tổ chức doanh nghiệp cũng đơn giản, không thật sựchuyên sâu, không tổ chức được các văn phòng đại diện ở nước ngoài nênnguồn thông tin bị hạn chế, các công việc ở nước ngoài đều phải thông quacác đại lý của các công ty đa quốc gia Điều này dẫn đến đa số các doanhnghiệp chỉ dừng lại ở việc làm đại lý cấp 2, cấp 3, thậm chí cấp 4 cho cácđối tác nước ngoài có mạng lưới toàn cầu mà chưa tổ chức kết nối được cáchoạt động vận tải đa phương thức Tuy có số lượng lớn, các công tylogistics Việt Nam mới đáp ứng được 25% nhu cầu nội địa và mới chỉ tậptrung vào một vài ngành dịch vụ trong chuỗi giá trị dịch vụ có doanh sốhàng tỉ đô la Mỹ này

Hiện nay có nhiều công ty logistics lớn trên thế giới đã vào Việt Namnhưng theo cam kết gia nhập WTO thì sau 5 đến 7 năm các doanh nghiệpnày mới có thể thiết lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.Đây là thời

Trang 14

gian quý báu để các doanh nghiệp Việt Nam liên kết dành thị phần Tuynhiên, dù chỉ mới là liên doanh liên kết, nhưng hiện thời các doanh nghiệpnước ngoài đã chia sẻ thị phần khá lớn; do đó khi được quyền thiết lậpdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì cánh cửa mở cho các doanh nghiệpViệt Nam sẽ còn hẹp hơn nữa Hiện tại, APL, Mitsui OSK, MaerskLogistics, NYK Logistics là những tập đoàn hùng mạnh với khả năngcạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ, hệ thốngmạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khépkín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản

lý cao, đã và đang từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trườngtrong nước

b) Về phạm vi hoạt động của các công ty logistics của Việt Nam

Hiện nay, các công ty logistics Việt Nam mới chỉ hoạt động trong phạm vịnội địa hoặc một vài nước trong khu vực, trong khi phạm vi hoạt động củacác công ty nước ngoài như APL Logistics là gần 100 quốc gia, MaerskLogistics là 60 quốc gia, Exel cũng vậy Đây là một trong những cản trởcác doanh nghiệp VN cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng Trong

xu thế toàn cầu hoá, chủ hàng thường có xu hướng thuê ngoài từ rất nhiềuquốc gia và lãnh thổ trên thế giới Mặc dù có thể tính đến vai trò của cácđại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các quốc gia khác, nhưng quan

hệ này thường khá lỏng lẻo và không đồng nhất

c) Về tình trạng cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ

Trang 15

Do phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu hàng theo điềukiện FOB, FCA trong incoterms, nên quyền định đoạt về vận tải đều dongười mua chỉ định và dĩ nhiên người mua sẽ chỉ định một công ty nước họ

để thực hiện điều này Do đó các công ty logistics của Việt Nam sẽ làngười ngoài cuộc Bất cập này không phải dễ dàng giải quyết vì phần lớncác nhà xuất khẩu của Việt Nam đều gia công hoặc xuất hàng cho nhữngkhách hàng lớn đã có những hợp đồng dài hạn với các công ty logisticstoàn cầu Đơn cử như hãng giày Nike, công ty có rất nhiều hợp đồng làm

ăn với các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng riêng về khâu vận tải vàlogistics thì các doanh nghiệp Việt Nam không thể tham gia vào trong quátrình thương thảo

Đối với các nhà nhập khẩu của Việt Nam, do Việt Nam nhập siêu nên đây

là thị trường hấp dẫn cho các công ty logistics của Việt Nam Nếu nhưtrước đây, các nhà nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu mua hàng theo điềukiện CIF, thì hiện nay các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam đangchuyển dần sang hình thức mua FOB, tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệplogisitics Việt Nam khai thác Tuy nhiên, một phần khá lớn trong thị trườngnày vẫn nằm trong tay các hãng logisitics nước ngoài do có nhiều doanhnghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp tại Việt Nam mà họ cũng chính là ngườinhập khẩu hàng nhiều nhất

Hơn nữa, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa ý thức đượcviệc đầu tư vào quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng Các doanh nghiệp ViệtNam hầu hết không có phòng quản lý logistics hoặc chuỗi cung ứng màphòng này thường được hiểu là phòng kinh doanh xuất nhập khẩu Điềunày tạo ra rào cản đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong việcchào các dịch vụ logistics giá trị gia tăng

d) Về cơ sở hạ tầng vận tải

Thực tế tiềm năng phát triển hàng hóa của Việt Nam rất lớn, với tỷ lệ tăngtrưởng trung bình 20%/năm và có thể tăng lên 25%/năm trong thời gianngắn (năm 20011, lượng hàng qua cảng Việt Nam là 320,17 triệu tấn hànghóa, tăng 18% so với năm 2010, theo Công ty Tư vấn Sprite) Tuy nhiên,Việt Nam được xếp hạng thấp nhất về cơ sở hạ tầng vận chuyển hàng hóatrong số các nền kinh tế trọng điểm ở khu vực Đông Nam Á

Phần lớn cảng biển tại Việt Nam không được thiết kế cho việc bốc dỡ hàngcho tàu chuyên dùng, nhiều cảng nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh chỉđược thiết kế cho hàng rời, không có trang thiết bị xếp dỡ container chuyêndụng Các cảng không có dịch vụ hàng hải trực tiếp kết nối Việt Nam với

Trang 16

các cảng biển tại châu Âu hay Mỹ Mặt khác, các sân bay trong nước cũngthiếu các thiết bị phù hợp để bốc dỡ hàng hóa, thiếu sự đầu tư các kho bãimới trong khu vực gần các sân bay, bến cảng Hệ thống kho bãi hiện tạitrên cả nước lại không phù hợp với hàng hóa bốc dỡ nhanh, trong đó cónhiều kho bãi đã được khai thác hơn 30 năm qua và không đáp ứng đượccác tiêu chuẩn quốc tế Chưa kể đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ hỗ trợgiao tiếp thông tin (viễn thông) Ngay cả tại khu vực phía Nam, nơi kinh tếphát triển cao trong 10 năm qua, sự yếu kém trong công tác lập kế hoạch vàthiếu đầu tư đã dẫn đến tình trạng ùn tắc hàng hóa đang gặp phải tại thànhphố Hồ Chí Minh Nguyên nhân chủ yếu là do quy hoạch cảng không thốngnhất, tại một số địa phương quy hoạch không hợp lý và không khoa học Thế nhưng, trên thực tế có rất ít dự án hạ tầng được đầu tư trực tiếp bằngnguồn vốn (cả vốn trong nước và vốn nước ngoài) thành công Khoảngcách lớn giữa các dự án hạ tầng được phê duyệt và và dự án đã thực hiệncàng làm tăng thêm thách thức cho ngành logistics Tốc độ phát triển cơ sở

hạ tầng của Việt Nam chậm hơn rất nhiều so với nước láng giềng TrungQuốc Lượng hàng tồn trữ cao và chuỗi cung ứng chậm chạp là nguyênnhân làm chậm quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

e) Về chi phí dịch vụ

Chi phí logistics của Việt Nam được dự đoán khoảng 25% GDP của ViệtNam, cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển như Mỹ và cao hơn các

Trang 17

nước đang phát triển như Trung Quốc hay Thái Lan Chính chi phí logistiscao này làm giảm hiệu quả những cố gắng của Việt Nam trong việc giớithiệu thị trường lao động giá rẻ và đẩy mạnh xuất khẩu Nguyên nhân chínhgây nên tình trạng này là cơ sở hạ tầng vận tải của Việt Nam đã quá cũ kỹ

và quá tải, hệ thống quản lý hành chính phức tạp và các nhà sản xuất ViệtNam không tích cực sử dụng các dịch vụ thuê ngoài 3PL (third partylogistics) của nước ngoài

Với khoảng 800 công ty đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics, nhu cầu củangành dịch vụ này vẫn đang tăng Nhưng dù vậy, ngành này chỉ mang lại4,4% cho tổng GDP của Việt Nam, trong khi ở Thái Lan và Singapore,ngành này mang lại 15% tổng GDP Bên cạnh đó, các công ty logistics củaViệt nam chỉ phục vụ được khoảng 25% nhu cầu nội địa với sự chia sẻ thịtrường từ các hãng nước ngoài bao gồm Maersk Logistics và APLLogistics Việt Nam có dự án đầu tư 17,5 tỷ USD để phát triển cơ sở hạtầng, góp phần thay đổi tình trạng này Nhưng cho đến khi đó, các công tylogistics địa phương đang cạnh tranh rất khốc liệt Hãng Nike đang sử dụngSchenker Logistics để vận chuyển và đưa hàng tới Đông Nam Á, nhưng vàicông ty 3PL của Việt Nam đang cố gắng trở thành đối tác có thể góp phầnlàm tăng giá trị khách hàng trong tương lai gần

f) Về hạ tầng thông tin

Đây chính là điểm yếu các doanh nghiệp logisitics Việt Nam Mặc dù cácdoanh nghiệp logistics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng công nghệthông tin (CNTT) vào hoạt động kinh doanh của mình nhưng vẫn còn kém

xa so với các công ty logistics nước ngoài Nếu chỉ xét về khía cạnh xâydựng website, phần lớn website của doanh nghiệp Việt Nam chỉ đơn thuầngiới thiệu về mình, về dịch vụ của mình, thiếu hẳn các tiện ích mà kháchhàng cần như công cụ track and trace (theo dõi đơn hàng), lịch tàu, e-booking, theo dõi chứng từ…Trong khi đó khả năng nhìn thấy và kiểm soátđơn hàng (visibility) là một yếu tố được các chủ hàng đánh giá rất cao khi

họ lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics cho mình Các công ty như APLLogistics, Maersk Logistics được Nike chọn là nhà cung cấp dịch vụ là docác công ty này có thể cung cấp cho Nike công cụ visibility trong bất kỳthời điểm nào, tại bất kỳ nơi nào nhân viên của Nike cũng có thể nắm bắt

và có thể kéo ra bất kỳ các loại báo cáo liên quan đến các đơn hàng củamình đã, đang và sẽ được thực hiện bởi các công ty trên Điều này sẽ giúpNike tính toán tốt những dự báo, kiểm soát hàng tồn, đáp ứng kịp thời yêucầu của khách hàng ở chi phí tối ưu nhất

g) Về tính liên kết

Ngày đăng: 10/10/2022, 21:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sử dụng hình thức vận chuyển như tàu, xe lửa, và đường dẫn rất hiệu quả. - Đề tài : Chuỗi cung ứng của cà phê Trung Nguyên Giảng Viên: TS.Đoàn Ngọc Duy Linh
d ụng hình thức vận chuyển như tàu, xe lửa, và đường dẫn rất hiệu quả (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w