Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.. Chính
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
……….o0o……….
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI TƯ DUY VỚI ĐỔI
MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thùy Linh
Mã sinh viên: 2112280051
Số thứ tự: 47 Lớp tín chỉ: TRI114ECTTTQT.1 Giảng viên hướng dẫn: TS Đào Thị Trang
Hà Nội – 11/2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……….
…… 3
NỘI DUNG……… 5
Chương I Lý luận và thực tiễn……… 5
1.1 Lý luận……… 5
1.1.1 Khái niệm lý luận………5
1.1.2 Đặc trưng và tính chất của lý luận……… 5
1.2 Thực tiễn……… 6
1.1.1 Khái niệm thực tiễn……….6
1.1.2 Đặc trưng của thực tiễn……… 6
1.1.3 Những hình thức của thực tiễn………7
1.3 Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn……….7
1.3.1 Mối liên hệ thống nhất giữa lý luận và thực tiễn………7
1.3.2 Sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn………9
Chương II Vận dụng mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn để phân tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta……… 10
2.1 Cơ sở đề ra đường lối đổi mới……….10
2.2 Nội dung đổi mới: sự vận dụng linh hoạt mối quan hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế………11
2.2.1 Đổi mới tư duy………11
2.2.2 Đổi mới kinh tế……… 13
2.3 Đề xuất nhiệm vụ và phương hướng cho tương lai……… 14
KẾT LUẬN………15
TÀI LIỆU THAM KHẢO………16
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Bất kì một quốc gia nào, một nền văn minh nào muốn phát triển đều phải trải qua những nấc thang có tính tất yếu lịch sử Đó là sự đổi mới Với tư cách là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, từ năm 1986, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, đưa nước ta bước đầu thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội, xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và có chủ trương tiến vào nền kinh tế quốc tế Sự nghiệp đó vẫn được tiếp tục cho đến thế kỉ 21 - thế kỉ chứng kiến đất nước Việt Nam đang quyết tâm đuổi kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt Tuy nhiên, song song với sự nỗ lực ấy, hoàn cảnh, điều kiện quốc tế và trong nước như hiện tại đã làm xuất hiện rất nhiều luồng ý kiến và dự báo khác nhau về phương hướng phát triển của thời đại Điều đó đã đặt ra cho chúng ta rất nhiều vấn đề liên quan đến cơ
sở lý luận và thực tiễn để hiểu rõ bản chất của thời thế và từ đó, áp dụng cho nền kinh tế nước nhà
Triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn luôn là
cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Lý luận nhận thức và thực tiễn cũng vậy Chỉ khi nắm rõ mối liên hệ giữa hai phạm trù triết học này, “chúng ta mới có thể định
ra đúng đắn sách lược của chúng ta, và chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những điểm
cơ bản của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những điểm chi tiết của nước này hay nước nọ” Từ đó, Đảng và Nhà nước mới đề ra được những phương hướng đổi mới đúng đắn, phù hợp
Trải qua các giai đoạn phát triển của dân tộc, giới học thuật nước nhà đã ghi nhận rất nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới ở Việt Nam trên nhiều khía cạnh khác nhau: từ kinh tế đến chính trị, an ninh – quốc phòng đến ngoại giao quốc tế
Ấy thế nhưng, chưa có nhiều công trình lý giải cặn kẽ mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế Là một sinh viên, em luôn hi vọng được mở rộng tri thức, phát triển năng lực bản thân cũng như muốn góp phần nhỏ công sức của mình vào
sự nghiệp nghiên cứu khoa học của đất nước Chính vì thế, vận dụng những kiến thức đã học ở môn “Triết học Mác – Lênin”, đặc biệt là nội dung về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, em xin chọn đề tài “Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn
và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy với đổi mới kinh tế ở nước ta.”
Trang 4Đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích đưa ra nhận thức đúng đắn và sự vận dụng có hiệu quả những vần đề nêu trên Từ đó có thể nêu lên được cơ sở lý luận
để xây dựng hình ảnh chủ nghĩa xã hội Việt Nam với lối tư duy và nền kinh tế tiến
bộ, phát triển
Kết cấu tiểu luận gồm những phần sau:
- Chương I: Cơ sở triết học của đề tài: bàn về lý luận, thực tiễn và mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn
- Chương II: Vận dụng mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn để phân tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy với đổi mới kinh tế
Trang 5NỘI DUNG Chương 1: Lý luận và thực tiễn
1.1 Lý luận
1.1.1 Khái niệm lý luận
Trong thực tế, khái niệm lý luận thường được hiểu với nhiều nội dung và ý nghĩa khác nhau Người ta thường hiểu lý luận là những học thuyết, quan điểm mà quá trình nhận thức đạt được, ví dụ: những hệ thống lý thuyết, quan niệm trong các tài liệu nghiên cứu, báo cáo khoa học, sách giáo khoa v.v Tuy nhiên, lý luận còn được hiểu là một quá trình nhận thức Trong trường hợp này, lý luận có nghĩa là hoạt động lý luận, bao gồm cả những yếu tố bên trong và những điều kiện bên ngoài của hoạt động Tuỳ theo từng bối cảnh, từng hệ thống lý luận mà người ta quan tâm đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của lý luận Ở đây, chúng ta chủ
yếu bàn về lý luận với tư cách là hoạt động nhận thức lý luận (hoạt động lý luận).
Lý luận (hay lí luận khoa học) là hệ thống những tri thức được khái quái từ những kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật,… Hay nói cách khác, lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức và cũng là sự thể hiện trình độ cao của nhận thức
Lý luận học có quan hệ mật thiết với rất nhiều môn khoa học khác Đối tượng nghiên cứu của lý luận học là tư tưởng của con người và lối tư duy của con người nhằm cải biến thực tế khách quan để góp phần mang lại sự phát triển cho con người, đem lại lợi ích cho con người
1.1.2 Đặc trưng và tính chất của lý luận
Từ bản chất của lý luận, có thể chỉ ra và phân tích những đặc trưng và tính chất của nó như sau:
Lý luận có tính trừu tượng hoá, khái quát hoá và những tính chất này hình thành trên cơ sở của phân tích, so sánh sự vật, hiện tượng Tính chất này thể hiện ở trong quá trình hoạt động và cả trong kết quả của hoạt động lý luận Nó thể hiện rõ
ở việc chủ thể sử dụng những công cụ là các phạm trù, khái niệm, quy luật trong hoạt động nhận thức
Trang 6Lý luận còn biểu hiện rõ tính chủ thể của con người bởi lẽ, xét về mặt tâm
lý, chủ thể lý luận là người hoạt động tự giác và tích cực, chủ động nắm bắt đối tượng để phân tích, so sánh
Lý luận có tính xuyên suốt và nó có khả năng chi phối tư duy logic Từ đó,
lý luận chi phối ngày càng mạnh mẽ mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của đời sống xã hội Tuy nhiên, ta không thể đồng nhất mọi khái niệm lý luận với chân lý
vì lý luận có hai dạng - khái niệm lý luận chân chính - khoa học và khái niệm lý luận giả tạo - phản khoa học Những gì gọi là giả tạo, phản khoa học không thể là chân lý
Lý luận còn mang tính khuynh hướng Triết học đã cho ta thấy: có lý luận tiến bộ, cách mạng; có lý luận bảo thủ, phản cách mạng; có lý luận giáo điều, chiết trung, nguỵ biện, duy lý, phi duy lý; có lý luận khoa học và phản khoa học v.v Tuy nhiên, tính khuynh hướng của lý luận không phải là quá trình tự thân của lý luận,
mà do thực tiễn quy định Lý luận không tự thân xuất hiện, tồn tại, vận động, phát triển Xét đến cùng, giá trị cũng như sự xuất hiện, tiêu vong của một khái niệm là ở khả năng phản ánh đời sống thực tiễn một cách trung thực và sâu sắc như thế nào
1.2 Thực tiễn
1.2.1 Khái niệm thực tiễn
Theo quan điểm của triết học Mác Lê nin, “thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất – cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và
xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ”
Trong “Luận cương về Feuerbach” C Mác cũng khẳng định: “Điểm cao nhất mà chủ nghĩa duy vật trực quan, tức là chủ nghĩa duy vật không quan niệm tính cảm giác là hoạt động thực tiễn, vươn tới được là sự trực quan về những cá nhân riêng biệt trong “xã hội công dân”
1.2.2 Đặc trưng của thực tiễn
Từ quan niệm về thực tiễn, ta có thể thấy thực tiễn gồm những đặc trưng sau:
Trang 7Thứ nhất, thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con người, mà chỉ
là những hoạt động vật chất – cảm tính Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, phải sử dụng những lực lượng vật chất, công cụ vật chất để tác động tới đối tượng vật chất của tự nhiên hay xã hội, làm biến đổi nó, tạo ra sản phẩm vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của con người Có thể nói, chỉ có thực tiễn mới trực tiếp làm thay đổi thế giới hiện thực, mới thực sự mang tính chất phê phán và cách mạng Đây là đặc điểm quan trọng nhất của thực tiễn và cũng chính là cơ sở để phân biệt hoạt động thực tiễn với hoạt động lý luận của con người
Thứ hai, thực tiễn mang tính chất lịch sử - xã hội của con người Điều đó có nghĩa là ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, hoạt động thực tiễn của con người diễn ra khác nhau Ví dụ, nếu ở thời kỳ nguyên thủy, con người tận dụng những công cụ thô sơ làm từ đá để sinh tồn thì giờ đây, cách mạng công nghệ 4.0 đã cho phép con người sử dụng những thiết bị điện tử tân tiến, hiện đại để làm ra của cải phục vụ đời sống Thực tiễn là sản phẩm của lịch sử toàn thế giới, là phương thức
cơ bản của sự tồn tại xã hội của con người
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người Khác với động vật, con người biết chủ động tác động vào thế giới để cải tạo, phát triển vật chất để từ đó, làm ra các sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của mình Như vậy, nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác với hoạt động bản năng thụ động thích nghi của động vật
1.2.3 Những hình thức của thực tiễn
Thực tiễn tồn tại dưới nhiều lĩnh vực khác nhau Có thể nói, có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động hiện thực của con người thì có bấy nhiêu hình thức tồn tại của thực tiễn Song, về cơ bản, thực tiện có ba hình thức chính: hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học Trong đó, hoạt động sản xuất giữ vai trò trung tâm, là hình thức có sớm nhất, cơ bản nhất và quan trọng nhất của con người bởi sản xuất vật chất tạo tiền đề cho sự tồn tại của các hình thực thực tiễn khác Bên cạnh đó, các hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học cũng có tính độc lập tương đối của mình
1.3.Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn
1.3.1 Mối liên hệ thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Trang 8Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn được thể hiện bằng chính mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn Đó là mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, nương tựa vào nhau, tác động qua lại với nhau Nếu không có thực tiễn thì không thể có lý luận và ngược lại, không có lý luận khoa học thì cũng không thể có thực tiễn chân chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định "Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông"
Về phía thực tiễn, thực tiễn là cơ sở, là nguồn động lực của nhận thức và do
đó, cũng là của lý luận Thực tiễn cung cấp những tài liệu, vật liệu nhận thức của con người Mọi tri thức, lý luận, xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức; rèn luyện các giác quan của con người ngày càng tinh tế và hoàn thiện hơn Như Ph Ăng-ghen đã khẳng định: “Chính việc người ta biến đổi tự nhiên … là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cách cải biến tự nhiên”
Thực tiễn còn đóng vai trò như là mục đích của nhận thức Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do yêu cầu của thực tiễn Nếu chỉ dừng lại trong lĩnh vực ý thức, nhận thức sẽ không có khả năng cải biến một cái
gì ngoài khả năng ý thức Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ con người
Không những thế, thực tiễn được xem như tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Theo quan điểm của triết học Mác Lê nin, chân lý là tri thức phù hợp với hiện thực khách quan mà con người phản ánh và được thực tiễn kiểm nghiệm Tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý không thể là sự tán thành của số đông, sự có lợi, có ích mà phải là thực tiễn Bởi vì chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, tri thức, tư tưởng mới được
”hiện thực hoá”, “vật chất hơn” thành các khách thể cảm tính Từ đó mới có căn cứ
để đánh giá nhận thức của con người đúng hay sai, hợp lý hay bất hợp lý
Về phía lý luận, lý luận luôn phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt chỉ đạo các hoạt động thực tiễn chứ không phải để trang trí hay phục vụ những ý tưởng viển vông Nó cung cấp cho thực tiễn lối tư duy đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực vật chất khách quan, từ đó hình thành cơ sở để định
ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn Thực tế cho thấy không có lý luận thì trong hoạt động thực tiễn người ta sẽ có xu hướng sa vào kinh nghiệm một cách quá đà, dẫn tới hiện tượng thần thánh hóa kinh nghiệm, nhận
Trang 9định kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn Kém
lý luận, coi thường lý luận còn dẫn tới bệnh giáo điều Bởi lẽ, do kém lý luận, coi thường lý luận nên không hiểu được bản chất của lý luận và do đó không thể vận dụng lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả và chính xác
Do tính phổ biến, lý luận có thể dẫn đường cho các giai cấp, thậm chí toàn
xã hội Ví dụ, lý luận chủ nghĩa Mác Lê nin đã hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô sản Tuy nhiên, sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào việc lý luận có khoa học hay không Chính vì vậy mà nó dẫn tới hai khuynh hướng, xu hướng, hai khả năng khác nhau Lý luận tiến bộ, cách mạng sẽ trở thành sức mạnh vật chất, góp phần làm nên sự phát triển tích cực, vượt bậc đối với đời sổng xã hội Lý luận bảo thủ, lạc hậu có thể trở thành hòn đá cản trở sự phát triển của xã hội, làm tê liệt về tinh thần của cả một tập đoàn, giai cấp, xã hội, gây lũng đoạn cho cả tập đoàn, giai cấp, xã hội
Tuy nhiên, lý luận cốt để áp dụng vào thực tế Lý luận phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế để có thể mang lại nhiều giá trị cho con người, nếu không con người sẽ mắc phải bệnh lý luận suông: chỉ biết nói mà không biết làm
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được hiểu ở mối quan hệ biện chứng: thực tiễn cần có lý luận để soi đường, dẫn đắt, định hướng, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn để có thể thay đổi và cải tạo thế giới con người Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần cầu tiến và còn giữ trách nhiệm lịch sử Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ hỗ trợ nhau và tạo đòn bẩy phát huy vai trò của nhau Sự thống nhất đó là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác- Lênin
Nắm bắt được tính chất biện chứng của mối quan hệ lý luận – thực tiễn chính là tiền đề quan trọng để mỗi chúng ta có được lập trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng cực đoan cũng như chủ nghĩa giáo điều máy móc
1.3.2 Sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn
Với tư cách là hai mặt của thể thống nhất, lý luận và thực tiễn đối lập với nhauvới tư cách là đối lập của cái phản ánh, cái sản phẩm, cái bị quy định với cái được phản ánh, cái nguồn gốc, cơ sở, cái quy định, Nói một cách khác, lý luận là
Trang 10sự phản ánh của thực tiễn và lý luận cần dựa vào thực tiễn như một nền tảng để phát triển
Đối lập của lý luận với thực tiễn còn thể hiện ở sự lạc hậu của lý luận so với thực tiễn hoặc ngược lại Nó thường xảy ra khi tư tưởng của các tầng lớp, giai cấp thống trị không bắt kịp với sự biến đổi của thời đại hoặc không giải quyết được nhu cầu của thời đại
Để giải quyết mặt tiêu cực của sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn, con người cần phải rèn luyện khả năng nhận thức của mình để có thể thấu hiểu, phân tích mặt đối lập của lý luận và thực tiễn Con người phải liên tục cập nhật thông tin của thời đại, phải biết dựa vào điều kiện khách quan để tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho các hoạt động thực tiễn và từ đó, phát triển đời sống thực tiễn Như trong tác phẩm “Bút ký triết học”, V.I.Lenin đã từng viết: “Phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”
Chương II Vận dụng mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn để phân tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta.
2.1 Cơ sở đề ra đường lối đổi mới
Trước năm 1986, dưới sự ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa và uy tín của Liên Xô lúc bây giờ, Đảng ta đã rập khuôn theo mô hình Xô Viết vào Việt Nam một cách máy móc, thiếu sự sáng tạo: phát triển quan hệ sản xuất từ khi lực lượng sản xuất còn yếu và non trẻ Việt Nam là một nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất lạc hậu, kinh tế chậm phát triển, lại bị ảnh hưởng nặng nề từ chiến tranh Ấy thế nhưng, trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta đã nôn nóng, đốt cháy giai đoạn như: đẩy quan hệ sản xuất lên trước lực lượng sản xuất, đẩy nhanh việc cải tạo giai cấp tư sản, đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp, đưa hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao một cách ồ ạt; quản lý kinh tế bằng phương pháp tập trung, quan liêu, kế hoạch hóa, xóa bỏ thị trường, phân phối bao cấp một cách tràn lan; bộ máy nhà nước quan liêu, xa rời quần chúng
Những sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan này đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng ở Việt Nam những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước Tình trạng lạm phát kéo dài, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân khó khăn, lòng tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như sự quản lý của nước nhà
bị suy giảm nghiêm trọng