Dựa vào tập tính sống người ta cũng chia động vật nổi ra làm hai nhóm sau:- Sinh vật nổi hoàn toàn Holoplankton: là những sinh vật trong vòngđời của nó hoàn toàn sống nổi trong nước chỉ
Trang 1NHỮNG KIẾN THỨC CHUNG VỀ ĐỘNG VẬT THỦY SINH
I Các Khái Niệm
1 Động vật nổi (zooplankton)
Động vật nổi (zooplankton) là tập hợp những động vật sống trong môitrường nước, ở tầng nước trong trạng thái trôi nổi, cơ quan vận động của chúngrất yếu hoặc không có, chúng vận động một cách thụ động và không có khả năngbơi ngược dòng nước Theo phương thức sống và sự phân trong tầng nước màngười ta chia thành các dạng sau
a Pleuston: là những sinh vật nổi, sống ở màng nước (phần giới
hạn giữa nước và không khí)
Hình B.1: Các dạng sinh vật Neuston
Trang 2b Neuston: là những sinh vật nổi có kích thước hiển vi, sống ở màng
nước (phần giới hạn giữa nước và không khí) Trong nhóm này nóđược chia thành hai loại là (i) Epineuston là sinh vật dạng neustonnhưng phần cơ thể tiếp xúc với không khí nhiều hơn là tiếp xúc vớinước; (ii) Hyponeuston là sinh vật dạng neuston nhưng phần cơ thểtiếp xúc với nước nhiều hơn là tiếp xúc với không khí
c Plankton: là những sinh vật nổi, sống trong tầng nước, không có khả
năng bơi ngược dòng nước, di động thụ động là chủ yếu
Trong nhóm sinh vật nổi này người ta còn dựa vào kích thước để phân chia thànhcác dạng như sau
- Sinh vật nổi cực lớn (Megaloplankton): có kích thước > 1m, điển hìnhlà các loài sứa biển
- Sinh vật nổi lớn (Macroplankton): có kích thước trong khoảng 1-100cm,điển hình là các loài sứa nhỏ
- Sinh vật nổi lớn vừa (Mesoplankton): có kích thước trong khoảng 10mm, điển hình là các loài thuộc giáp xác chân chèo (Copepoda), giápxác râu ngành (Cladocera)
1 Sinh vật nổi nhỏ (Microplankton): có kích thước từ 0.051 1.0mm, điểnhình là các loại ấu trùng thuộc giáp xác chân chèo (Copepoda), giápxác râu ngành (Cladocera), nhuyển thể (Mollusca) và trùng bánh xe(Rotatoria)
- Sinh vật nổi cực nhỏ (Nanoplankton): có kích thước khoảng vài mươimicro mét, điển hình là các loài thuộc động vật nguyên sinh(Protozoa), vi khuẩn (Bacteria)
Trang 3Dựa vào tập tính sống người ta cũng chia động vật nổi ra làm hai nhóm sau:
- Sinh vật nổi hoàn toàn (Holoplankton): là những sinh vật trong vòngđời của nó hoàn toàn sống nổi trong nước chỉ trừ giai đoạn trừng nghĩ(cyst) là ở tầng đáy như ở trùng bánh xe, giáp xác râu ngành, chân chèovà một số dạng của nguyên sinh động vật
- Sinh vật nổi không hoàn toàn (Mesoplankton): là những sinh vật chỉsống nổi trong một giai đoạn nào của vòng đời như là khi ở giai đoạnấu trùng, phần lớn cuộc đời còn lại sống đáy hay sống bám như thủytức, nhuyển thể
Dựa vào sự phân bố theo độ sâu (chủ yếu là sinh vật biển), sinh vật nổi cũngđược chia thành hai nhóm chủ yếu
- Sinh vật nổi tầng mặt (Epiplankton): gồm những sinh vật ở độ sâu từ
0-200 m, đây là vùng có sự xâm nhập của ánh sáng, có thực vật và cóquá trình tự dưỡng
- Sinh vật nổi ở tầng sâu (Nyctoplankton): gồm những sinh vật sống ởđộ sâu hơn 200 m, nơi này không có ánh sáng xuyên thấu nên khôngcó thực vật phân bố
2 Động vật đáy (zoobenthos).
Động vật đáy là tập hợp những động vật không xương sống thủy sinh,sống trên mặt nền đáy (epifauna) hay trong tầng đáy (infauna) của thủy vực.Ngoài các đối tượng trên, có một số loài sống tự do trong tầng nước nhưng cũngcó thời gian khá dài (theo tỉ lệ thời gian sống) sống bám vào giá thể hay vùi mìnhtrong tầng đáy thì vẫn được xếp trong nhóm động vật đáy
Trang 4Động vật đáy sống trong một khu vực, một thủy vực không những chịutác động của các yếu tố lý hoá học của nước mà chúng còn chịu tác động trực tiếpvới chất đáy.
Theo các đặc tính phân bố cũng như kích thước mà người ta phân chia làmcác nhóm sau
a Dựa vào loại hình thủy vực, nơi mà sinh vật đáy phân bố, người ta xếp
chúng vào các nhóm như sinh vật đáy biển, sinh vật đáy ao, sinh vật đáy hồ
b Dựa vào kích thước mà sinh vật đáy được phân chia thành (i) sinh vật đáy
cở lớn (Mcrobenthos): nhóm này bao gồm các sinh vật đáy có kích thước >2 mm;(ii) sinh vật đáy cở vừa (Mesobenthos): sinh vật trong nhóm này có kích thước0.1-2.00 mm và (iii) sinh vật đáy cở nhỏ (Microbenthos) có kích thước nhỏ hơn 0.1mm
c Dựa vào cấu trúc nền đáy nơi chúng phân bố mà chia thành các dạng như
sinh vật ưa đáy bùn, ưa đáy cát, cát bùn
• Theo thành phần hạt lắng tụ và thành phần cơ học, tính chất đất của nền đáy
thủy vực được chia thành các dạng sau: (i) đáy bùn nhảo có thành phần hạt mịn chiếm hơn 50%; (ii) đáy bùn có thành phần hạt mịn chiếm 30-50%; đáy bùn cát có thành phần hạt mịn chiếm 10-30%; đáy cát bùn có thành phần hạt mịn chiếm 5-10%; đáy cát có thành phần hạt mịn chiếm ít hơn 5% và đáy đá không có hạt mịn.
d Dựa vào tập tính sống mà phân chia chúng thành các dạng như (i) sinh
vật sống cố định: do đời sống cố định nên một số cơ quan bị thoái hoá nhưhệ vận động, hệ thần kinh nhưng cũng có một số phần hay cơ quan pháttriển để thích nghi như xúc giác, xúc tu ; (ii) sinh vật sống đục khoét:chúng đục gỗ hay đá và chui vào đó để sống xem như là tổ; (iii) sinh vật
Trang 5bơi, bò ở đáy: thường thấy ở giáp xác; (iv) sinh vật dưới đáy: những loàinày ít di động và phát triển theo hướng có vỏ để bảo vệ như da gai(Echinodermata); (v) sinh vật chui sâu dưới đáy: chúng sống chui sâu vàonền đáy, đặc điểm thích nghi là cơ thể dài, có phần phụ như ống hút thoátnước và nhóm cuối cùng là (vi) sinh vật sống bám.
3 Năng suất sinh học của thủy vực.
Thủy sinh vật trong thủy vực quan hệ với nhau chủ yếu bằng con đườngdinh dưỡng, chúng liên hệ nhau thông qua chuổi thức ăn (food chain) hay mạngthức ăn (food web); sinh vật này là nguồn thức ăn cho sinh vật kia kết quả là làmcho các nhóm sinh vật phát triển và có sự gia tăng sinh khối Tổng hợp tất cả cáckhối lượng sinh vật trong thủy vực gọi là sinh lượng và sự gia tăng sinh lượngtrong một thời gian nào đó của thủy vực gọi là năng suất sinh học của thủy vực
Quá trình chuyển hoá vật chất từ dạng sống thành không sống và từkhông sống thành sống trong một thủy vực gọi là chu trình vật chất trong thủyvực
Năng suất sinh học sơ cấp hay là năng suất sinh học bậc I là năng suấtsinh học của thực vật thủy sinh mà trong thủy vực chủ yếu là của tảo
Năng suất sinh học thứ cấp hay năng suất sinh học bậc II là năng suất sinhhọc của động vật thủy sinh
4 Sự đa dạng
Số loài trong quần xã (sự phong phú về thành phần loài) tăng theo sựphức tạp của mạng thức ăn và điều kiện sinh thái của vùng đó Đánh giá sự đadạng về loài thì rất phức tạp do có nhiều quần xã, loài ưu thế và có rất nhiều loàihiếm (Pielou, 1977) Có nhiều chỉ số đa dạng được sử dụng nhưng chỉ số đượcdùng phổ biến nhất để đánh giá sự xuất hiện thường xuyên cũng như là số loài là
Trang 6chỉ số Shannon, ký hiệu là H’ được tính theo công thức ∑
H
1
2log
5 Năng suất tối ưu
Giá trị tối năng suất tối ưu (standing crop hay standing stock) là khốilượng chất hữu cơ có thể thu hoạch được tại một thời điểm nào trong một đơn vịdiện tích Nó là thuật ngữ thường được dùng trong sinh thái thủy sinh và đượctính toán như là sinh lượng (biomass) Giá trị này và sức sản xuất có sự khác biệtlớn trong một hệ sinh thái thí dụ thực vật nổi trong hồ có sức sản xuất cao nhưnggiá trị năng suất tối ưu lại rất thấp; nếu thực vật nổi bị động vật nổi tiêu thụ ởmức độ thấp nhưng tảo lại không bị hạn chế sự phát triển do thiếu ánh sáng haychất dinh dưỡng thì nó vẫn tạo ra chất hữu cơ Ngược lại, nếu mật độ tảo rất caogần đến giá trị khả năng của môi trường và sự hạn chế về nguồn lợi này sẽ gâyhậu quả là năng suất thấp hơn so với giá cao của năng suất tối ưu
II Vai Trò của Động Vật Thủy Sinh.
1 Thành phần của mạng thức ăn, thức ăn tự nhiên trong thủy vực.
Mối quan hệ chủ yếu của các sinh vật trong thủy vực là quan hệ thức ăn,thông qua chu trình vật chất, các mối quan hệ đó được biểu diễn theo sơ đồ dướiđây (Hình 2) Sinh vật bắt là tảo (sinh vật tự dưỡng) cho đến sinh vật cuối cùng làcá (nguồn lợi sinh vật mà con người có thể sử dụng) Nguồn dinh dưỡng bắt đầucho tảo được cung cấp từ bên ngoài và cả quá trình tích tụ bên trong thủy vực đó(trong chu trình này còn có cả quá trình chuyển hoá của vi sinh vật, nhưng nó ngoài phạm vi nghiên cứu về thủy sinh vật) Các mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp được
thể hiện thông qua mũi tên chỉ dẫn, trược tiếp đến hay quá nhiều giai đoạn để
Trang 7đến sản phẫm cần thiết Một đặc tính trong chu trình vật chất này là chu trìnhcàng dài thì năng lượng tiêu hao (năng lượng không sử dụng) càng lớn.
Hình B.2: chu trình vật chất hay mạng thức ăn trong thủy vực
2 Thành phần trong năng suất sinh học của thủy vực.
Theo quá trình chuyển hoá thì sinh vật trước trong chuổi (hay mạng) thức
ăn sẽ là nguồn cung cấp năng lượng cho sinh vật bậc kế tiếp, quá trình đó có thểtóm tắt theo sơ đồ là
Tảo Î Động vật nổi nhỏ Î Động vật nổi lớn Î Cá ăn động vật nổi Î Cá dữï
Î Động vật đáy Î Cá ăn đáy Î Cá dữ
Trang 8Theo sơ đồ này thì sinh vật đứng trước là nguồn thức ăn cho sinh vật phíasau, nếu mất đi một mắc xích thì chu trình không được hoàn chỉnh và gây
ra tình trạng mất cân bằng sinh thái
3 Lọc sạch nước của thủy vực.
Do đặc tính dinh dưỡng của từng nhóm sinh vật trong quần xã mà tínhchất này được coi như là đặc tính ưu việt nhất của thủy sinh vật, quá trình lọcsạch được thể hiện ở các dạng như sau
- Làm giảm nguồn hữu cơ gây ô nhiễm môi trường: đặc tính ăn lọc củacác nhóm sinh vật không xương thủy sinh như Protozoa, Rotatoria vàCladocera ngoài ra còn có Mollusca sẽ làm giảm đi nguồn vật chất hữu
cơ Sự phân giải vật chất hữu cơ trong môi trường nước thành vật chất
vô cơ của vi sinh vật cũng góp phần quan trọng trong việc làm sạchmôi trường
- Tích lũy chất độc, kim loại nặng: khả năng sinh vật có thể tích lũy mộtlượng giới hạn chất độc trong thời gian ngắn, nhưng trong quá trìnhsinh trưởng và phát triển do sự hấp thu lâu dài nên cơ thể có khả năngtích tụ một lượng chất độc đáng kể cao gấp hàng chục hay hàng trămlần Quá trình này đã chuyển hoá chất độc từ môi trường nước sang cơthể sinh vật khiến cho nguồn nước được sạch hơn
- Loại bỏ chất độc, chất ô nhiễm ra khoải tầng nước: quá trình lọc nướccủa thủy sinh vật đã chuyển từ chất hữu cơ lơ lững thành chất lắng tụ ởnền đáy, quá trình này chủ yếu do hoạt động của nhóm Bivalvia, khiếncho chất độc chất hữu cơ được loại ra khoải tầng nước
4 Là sinh vật chỉ thị.
Trang 9Sự tồn tại và phát triển của một nhóm sinh vật nào đó trong một môitrường nào đó là kết quả của quá trình thích nghi Sự phát triển mạnh của mộtnhóm sinh vật nào đó sẽ biểu hiện được tính chất môi trường ở đó thích hợp chosự phát triển của quần xã này Thí dụ môi trường giàu chất hữu cơ sẽ là môitrường thuận lợi cho nhóm sinh vật ăn lọc như Protozoa, Rotatoria hayCladocera, tùy theo mức độ ô nhiễm sẽ có từng nhóm nào phát triển.
Mặt khác sự không thích ứng hay sự mất đi một nhóm sinh vật nào đótrong khu hệ cũng là một dấu hiệu cho thấy khuynh hướng diễn biến của môitrường thí dụ trong một thủy vực có hàm lượng độc tố của nông dược cao sẽ ứcchế quá trình phát triển và có thể tiêu diệt các nhóm sinh vật như Rotatoria,Cladocera Khi môi trường được phục hồi lại, hàm lượng nông dược giảm đi thìnhóm sinh vật Rotatoria phát triển nhanh chóng và trở lại tình trạng ban đầu,nếu môi trường hoàn toàn vô độc thì nhóm Cladocera xuất hiện lại
Tóm lại sự xuất hiện hay biến mất của một nhóm sinh vật nào đó thể hiệnđược đặc tính môi trường thì đó gọi là sinh vật chỉ thị Động vật thủy sinh vớiđặc tính sinh trưởng nhanh, sức sinh sản cao, vòng đời ngắn rất thích hợp choviệc nghiên cứu làm sinh vật chỉ thị đặc tính của môi trường nước
II Lịch Sử Nghiên Cứu
Việc nghiên cứu Thủy sinh vật bắt đầu từ nữa thế kỹ thứ XIX trên yêu cầusản xuất, từ đó hình thành nên các trạm nghiên cứu như
+ 1831 thành lập trạm nghiên cứu Svatopon ở USSR
+ 1834 tại Macxen thành lập trạm nghiên cứu biển
+ 1872 thành lập trạm nghiên cứu biển ở Neopon Italia
+ 1876 thành lập trạm nghiên cứu Newpo ở USA
Trang 10+ 1890 thành lập rtrạm nghiên cứu Polun, Đức Đây là trạm nghiên cứunước ngọt đầu tiên.
+ 1891 thành lập trạm nghiên cứu Glubokoie, USSR
Mặc dù đã có sự thành lập các trạm nghiên cứu nhưng chủ yếu là phầnp[hân loại và chỉ ở các sinh vật có kích thước lớn, dể tìm
Dần đến cuối thế kỷ thứ XIX các nghiên cứu đã đi sâu hơn và phươngpháp nghiên cứu hoàn thiện hơn
1894 thông báo của Richard đã mô tả 11 loài giáp xác ở Bắc Việt nam tạiLào cai và Cát bà
1952 Brehm lại công bố thêm 1 loài giáp xác mới được phát hiện ở Hảidương
Sau cách mạng tháng tám phần nghiên cứu về Thủy sinh Động vật khôngxương sống được đẩy mạnh qua công bố của Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái vàPhạm Văn Miên với 35 loài Copepoda, 35 loài Cladocera (1965) và mãi đến 1978đã tổng kết được 39 loài Copepoda, 45 loài Cladovcera và 54 loài Rotatoria
Riêng phần nghiên cứu Thủy sinh vật ở miền Nam Việt nam có nhiều hạnchế nhưng cũng có được một số thành quả nhất định
+ Stingetin (1905) và Daday (1907) công bố 11 loài Cladocera
+ A Shirota và Hoàng Quốc Trương (1966) công bố danh sách loàiplankton ở miền Nam Việt nam nhất là các thủy vực nước ngọt với 151 loàiProtozoa, 72 loài Rotatoria, 49 loài Cladocera, 30 loài Copepoda và rất nhiều loàisinh vật nổi biển
+ Đặng Ngọc Thanh và Phạm Văn Miên (1978) đã công bố 18 loàiCopepoda và 30 loài Cladocera ở các thủy vực nước ngọt Nam Việt nam
Trang 11Từ sau 1975 cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về Thủy sinh vậttrong cả nước nhưng chỉ tập trung nghiên cứu trên lĩnh vực năng suất sinh học,phần khu hệ hiện nay chỉ thiên về phần sinh vật chií thị và các loài ưu thế.
III Phương Pháp Nghiên Cứu
1 Chọn điểm thu mẫu.
Để có những quyết định đúng đắn trong công tác nghiên cứu thì việc xácđịnh vị trí thu mẫu có một vai trò hết sức quan trọng Chuẩn bị cho công việc nàyphải có một chuyến khảo sát tình hình địa lý nếu một vùng quá rộng lớn thì cóthể sử dụng bản đồ với tỉ lệ 1/25000
Điểm điều tra, thu mẫu phải đặc trưng cho toàn bộ khu vực, nếu khu vựchay thủy vực có địa hình phức tạp thì ta chọn nhiều mặt cắt
Khi khảo sát các chỉ tiêu sinh học thì cũng phải chú ý đến các yếu lý họcvà hoá học của nước, cũng cần lưu ý đến yếu tố cơ học (thủy vực nước chảy)
2 Thời gian và chu kỳ thu mẫu.
Thời gian thu mẫu: hàng ngày vào buổi sáng trong khoảng từ 6-10 giờ làthuận lợi nhất
Chu kỳ thu mẫu: tùy theo mục đích nghiên cứu mà định ra chu ý thu mẫucho thích hợp Cần chú ý đến các yếu tố liên quan đến sự phát triển của quần xãthủy sinh vật như chế độ canh tác, thủy triều , cũng có thể xác định sự phân bốtheo độ sâu hay mùa vụ mà đặt ra chu kỳ thu mẫu
3 Kỹ thuật thu mẫu
a Động vật nổi
Dụng cụ thu mẫu là lưới phiêu sinh, có dạng hình chóp (hình 2) Lưới nàylàm bằng tơ hay nylon
Trang 12Hình B.3: hình dạng một lưới phiêu sinhTùy theo nhóm sinh vật mà chọn loại lưới có kích thước mắt lưới khácnhau Ký hiệu về các loại được thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1: ký hiệu lưới và kích cở mắt lưới
Mã số lưới tơ Cở mắt lưới (µm) Mã số lưới tổng hợp Cở mắt lưới (µm)
+ Thu mẫu định lượng: cũng với phương thức và dụng thu mẫu như phầnđịnh tính, phần định lượng cũng được tiến hành tương tự nhưng cũng cần phảixác định lượng nước đã đi qua lưới Mẫu vật thu được cũng chuyển sang lọ lưutrữ và cố định bằng formalin với nồng độ bảo quản là 2%
Trang 13b Động vật đáy.
+ Thu mẫu định tính: mẫu định tính được thu nhằm xác định thành phầnloài động vật đáy phân bố nơi đó do vậy có nhiều biện pháp và dụng cụ để thuthập
Hình B.4: Hình dạng gàu Petersen và nguyên tắc hoạt động của nóTrong nghề nuôi thủy sản việc thu mẫu định tính được dựa vào mục tiêulà xác định loài ưu thế, loài tham gia chủ yếu vào chu trình vật chất trong thủyvực và nhằm vào việc xác định năng suất sinh học của thủy vực nên dùng gàuPetersen thu mẫu là thích hợp nhất
Trong một thủy vực nên thu thập nhiều điểm, nhiều vị trí đặc trưng sẽ thểhiện được sự phân bố của các nhóm sinh vật này Mẫu thu được sẽ được sàng sơbộ bằng sàng có mắt lưới 0.5 mm để loại bỏ bùn và một ít rác rồi cho vào túinylon, cố định mẫu trong formalin với nồng độ 8%
+ Thu mẫu định lượng: dùng gàu petersen để thu mẫu, quá trinh cũngđược tiến hành tương tự như đã thu mẫu định tính nhưng cần xác định rỏ diện
Trang 14tích miệng gàu cũng như số lần lấy mẫu để tính toán diện tích nền đáy đã thuđược.
Hình B.5: Bản đồ thể hiện vị trí thu mẫu trên sông
4 Phương pháp phân tích
Mẫu vật thu được sẽ chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích
Trang 15a Phân tích định tính.
Lấy mẫu định tính ra quan sát dưới kính hiển vi hay kính lúp với độphóng đại thích hợp nhằm xác định các đặc điểm hình thái cấu tạo và các đặcđiểm phân loại, trên cơ sở đó định danh theo tài liệu phân loại thích hợp
Trong quá trình phân tích cần chú ý đến sự xuất hiện của các loài đã địnhdanh trong mẫu, đánh dấu +, ++, +++ để biểu thị sự xuất hiện ít, vừa hay nhiềutrong các lần quan sát từ đây có thể coi như là cơ sở để xác định loài ưu thế chonghiên cứu định lượng
b Phân tích định lượng
+ Động vật nổi: đếm toàn bộ số động vật có trong mẫu định lượng bằng
buồng đếm Bogorov sau đó xác định mật độ theo công thức 1000
V
X
D= với D là
mật độ hay số lượng động vật nổi (ct/m3); X là số lượng sinh vật đếm được trong
mẫu; V là thể tích mẫu nước đã thu (L).
+ Động vật đáy: đếm và cân toàn bộ số động vật đáy có trong mẫu định
lượng, chú ý nên phân thành từng nhóm sinh vật, sau đó xác định mật độ hay
Hình B 6: hình ảnh một bàn phân tích định tính tiêu chuẩn
Trang 16khối lượng theo công thức
S
X
D= với D là mật độ hay kối lượng động vật đáy
(ct/m2); X là số lượng hay khối lượng sinh vật đã xác định được trong mẫu; S là
diễn tích mẫu đã thu (m2), dựa vào diện tích gàu và số gàu theo công thức
d
n
S = với n là số lượng gàu đã thu mẫu, d là diện tích miệng gàu (m2)
5 Phương pháp xử lý kết quả.
Sau khi phân tích xong, kết quả được thể hiện thành bảng, trên cơ sở đóđánh giá tính đa dạng, sinh lượng
a Bảng định tính.
Bảng định tính sẽ liệt kê thành phần loài đã thu thập được trong các khuvực nghiên cứu, thí dụ với 3 thủy vực (a, b, c) và 4 đợt thu mẫu ta có thể thànhlập được bảng kết quả định tính Từ kết quả trên bảng này sẽ thể được mục đíchcủa người trình bày đó là sự biến động thành phần loài trong một thủy vực và sựkhác biệt của chúng giữa cá thủy vực Mối quan hệ này xem như một ma trận
Bảng xx: Biến động thành phần loài zooplankton theo thời gian và không gian.
Trang 17Moina dubia + ++ + + ++ ++
Copepoda
.
.
Khác
.
.
b Bảng định lượng.
Từ kết quả nghiên cứu về định lượng ta có thể lập thành bảng tổng kết cũng như kết quả định tính, bảng này sẽ thể hiện được số lượng của từng nhóm sinh vật trong từng thủy vực ở từng thồi điễm khảo sát Sự biến động này là cơ sở để đánh giá đặc tính thủy vực
Bảng xx: Biến động số lượng (ct/m3) zooplankton ở vùng nghiên cứu
Stt Các nhóm sinh vật
2 Rotatoria 12 11
3 Cladocera 15 16
4 Copepoda 19 7
5 Nauplius 12 9
6 Khác 17 13
Tổng 88 70
Bảng xxx: Biến động số lượng (ct/m2) zoobenthos ở vùng nghiên cứu Đợt I Đợt II Đợt III Đợt IV Stt Các nhóm sinh vật A b c a b c a b c a b c 1 Oligochaeta 1.3 1.4 15 17 19 20 22 25 27 29 30 33 2 Polychaeta 1.2 1.1
3 Gastropoda 1.5 1.6
Trang 184 Bivalvia 1.9 0.7
5 Crustacea 1.2 0.9
6 Insecta 1.7 1.3
Tổng 8.8 7.0
Tài Liệu Tham Khảo
1 Carpenter, S.R and J.F Kitchell, 1993 The trophic cascade in lakes Cambridge University Press, Cambridge
2 Holme, N.A and A.D Mclntyre, 1984 Methods for the study of marine benthos Blackwell Scientific publications
3 Horne, A.J and C.R Goldman, 1994 Limnology, second edition McGraw-Hill, New York
4 McCafferty W.P and A.V provonsha 1981 Aquatic entomology The fishermen’s and ecologist’ illustrated guide to insects and their relatives Science books international, Boston, Massachusetts
5 Đặng Ngọc Thanh và Nguyễn Trọng Nho, 1980 Năng suất sinh học vực nước Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Hà nội
6 Đặng Ngọc Thanh, 1976 Thủy sinh học Đại cương Nhà xuất bản Đại học và Trung học Chuyên nghiệp
Trang 19NGÀNH ĐỘNG VẬT NGUYÊN SINH
(PROTOZOA)
I Đặc Điểm Chung
- Xuất hiện sớm nhất trong giới động vật và ở nhiều vùng sinh sống khácnhau Nhóm sống tự do được tìm thấy trong nước, nhóm ký sinh thì pháthiện ở hầu hết sinh vật đa bào
- Là loại sinh vật đơn bào nhưng cũng có khi tạo quần lạc (colony) có đếnhàng ngàn tế bào, nhưng mỗi tế bào có cấu trúc, chức năng và nhiệm vụnhư nhau
1 Hình dạng và kích thước
Protozoa rất đa dạng nhưng phổ biến là dạng hình cầu, oval, cầu kéodài và hơi dẹp Có đủ các kiểu đối xứng như đối xứng tỏa tròn, đối xứng haibên, không đối xứng Miệng nằm ở mặt bụng
Kích thước cơ thể trong khoảng 0.005 -5.00 µm dài, đa số có chiều dàitrong khoảng từ 30-300µm,
2 Vận động
a Nhóm trùng chân giả (Sarchodina) di động nhờ vào phần dư ra của tế
bào gọi là chân giả (pseudopodia), tùy theo hình dạng của chân giả mà chiathành các dạng sau
Trang 20Chân dạng thùy lồi: loại này chia thành 4 dạng là (i) chân giống ngóntay, (ii) chân giống lưỡi, (iii) hình tròn và (iv) hình phân nhánh Dạngchân này vận động nhanh nhất với tốc độ 0.5-3.0 µ/s
Chân dạng sơi: có nhiều hay ít sơi tùy theo loài, thường dạng nhọn vàchỉ có ngoại chất
Chân dạng túi hay dạng rể: cũng là dạng sợi và là hợp phần của ngoạichất nhưng phân nhánh và
Chân đối xứng: loại này bán tạm thời, có liên quan đến trục thân, mọichân dạng này đều có phần cuối ở bên trong là một tuyến nào đó
b Nhóm trùng roi (Flagellata) có roi dài, mãnh Đó là chất nguyên sinh
kéo dài ra thành roi, khi xoắn lại làm con vật di chuyển về phía trước theohình trôn ốc hay lượn sóng Phần gốc của roi cứng và ít cử động, thường thìroi chỉ cử động khoảng 1/2 về phía ngoài Có loài có hai roi dùng để di độngnhưng có loài có thêm một roi phụ nhưng không cử động được Nhiệm vụ củaroi phụ là cơ quan định hướng cho vận động, nhưng cũng có khi xoắn hay vậnđộng nhẹ đẩy con vật đi tới trước Sợi này gồm 9 sợi nhỏ xếp thành hai lớpsong song nhau nằm trong một màng mỏng Gốc của roi gắn vào phần đầucủa tế bào, nơi bám vào tế bàt phức tạp, đôi khi phân thành hai Gốc roi làtuyến ngoại biên, tơ nhỏ trong roi nối với tuyến ngoại biên này, bên cạnh củanhân tế bào Lối di động bằng roi có tốc độ 15-300 µ/s
c Nhóm trùng cỏ (Ciliata) tương tự như trùng roi nhưng có nhiều điểm
khác biệt Tơ ngắn và nhiều và chỉ có một tuyến gốc, nó xếp theo chiều dài,theo đường chéo hay hàng quanh co, sự vận động của nó theo nhịp lượngsóng đều dọc theo cơ thể con vật Dưới kính hiển điện tử thì tơ xuất hiệnthành đám gồm 11 sợi, mỗi sợi dao động tự do hay theo chiều qua lại Trùngcỏ là nhóm động vật nguyên sinh vận động nhanh nhất tốc độ 200-1000 µ/s
Trang 21Ngoài ra sự vận động thực sự của động vật nguyên sinh còn là sự cogiản của cơ thể, đó là do sự co của các hạt đặc biệt trong tế bào hay hoạt động
co dãn của màng tế bào
Đa phần Protozoa sống bám vào giá thể nhưng thông thường khichúng ở giai đoạn tập đoàn thì đó chỉ là giai đoạn tạm thời chờ khi di chuyểnđến vùng mới có giá thể thích hợp với tính chất bám của cơ thể
3 Dinh dưỡng và tiêu hoá
a Dinh dưỡng
Có nhiều hình thức dinh dưỡng ở Protozoa Chủ yếu ở các dạng sau
- Thực bào: Protozoa có thể lấy phần thức ăn nhỏ như tảo, vi khuẩn kểcả protozoa nhỏ khác, động vật đa bào cở nhỏ, vụn hữu cơ
- Quang hợp: Nhiều loài trùng roi có lục lạp, có hạt màu có khả năngquang hợp
- Hấp thu muối dinh dưỡng hòa tan: một số loài có khả năng hấp thuvật chất hoà tan như muối dinh dưỡng hay chất hữu cơ đơn giản để tổng hợpchất dự trử (kiểu nấm)
- Ký sinh: cũng thực hiện ở hình thức hoại sinh kiểu nấm hay thực bào
- Nhiều loài cũng có dạng dinh dưỡng hổn hợp tức là hai dạng dinhdưỡng đồng thời như thực bào và hoại sinh, tự dượng và dị dưỡng
b Tiêu hoá
Đối với sinh vật bị thực bào chúng sẽ chết sau vài giây trong không bàotiêu hoá hay có thể tồn tại trong đó sau vài giờ Men tiêu hoá từ nguyên sinhchất được tiết vào không bào tiêu hoá, có nhiều loại enzyme phân giải protein,glucid nhưng chưa xác định được enzyme phân giải lipid
Môi trường tiêu hoá ở dạng acid với pH trong khoảng 4.0-7.6
Trang 22Không bào tiêu hoá sau khi tiêu hoá xọng thì trở nên nhỏ lại do vậtchất thấm qua màng vào tế bào chất, sau đó không bào vở ra và biến mất Thức ăn được tích trử vào cơ thể nhiều hay ít tùy thuộc vào điều kiệnsinh thái môi trường và sinh lý cơ thể Dạng chất dự trử lại phụ thuộc nhiềuvào phương thức dinh dưỡng như bọn dị dưỡng (thực bào và hoại sinh) thìchất dự trữ là glycogen hay paraglycogen, bọn tự dưỡng có chất dự trữ là tinhbột, paramylum (giống như tinh bột nhưng không làm chuyển màu iod) vàchất béo.
4 Hô hấp
Đa phần sinh vật trong ngành protozoa là sinh vật hiếu khí, chúng hấpthu oxy hòa tan trong môi trường qua màng tế bào vì thế chúng có khả năngphát triển tốt ở vùng chỉ có hàm lượng oxy là 10% bảo hòa
Cũng có một số không ít loài sống kỵ khí ở vùng nước thải, vùng cónhiều hữu cơ trong bùn nơi nước tĩnh hay đáy hồ trong lúc mất oxy nhưngkhả năng này chỉ tạm thời, có thể cho rằng năng lượng cho hoạt động củachúng lấy từ sự phân giải của quá trình lên men như ở vi sinh vật và nấm
Không bào co bóp là bộ phận điều chỉnh áp suất thẩm thấu nhằm loạibỏ nước thừa trong cơ thể Những loài ký sinh hay sống ở vùng biển thì khôngcó loại không bào này Bắt từ đầu nhiều cái nhỏ nắm gần nhau sẽ liên kết vàhợp nhất lại thành cái lớn hơn, đến một cở nhất định nó sẽ vở tung và phóng
Trang 23chất tích trử của nó ra môi trường ngoài Không bào này có thể hình thành bấtcứ nơi nào trong tế bào.
Nhịp co bóp của không bào này phụ thuộc vào nhiệt độ, tuổi, tìnhtrạng sinh lý thức ăn, nồng độ muối và các yếu tố khác
Chất thải dạng nitơ tồn tại trong không bào cũng tham gia vào quá
trình điều hoà áp suất nhưng không chủyếu
5 Sinh sản
a Sinh sản vô tính.
Đây là phương thức sinh sản chủ yếucủa protozoa, đó là quá trình phân đôi tạo rahai cá thể mới, kết quả là chúng nhanhchóng tạo quần thể và chiếm ưu thế và hìnhthành nên cơ quan mới khi cần thiết
Sự phân chia vô nhiễm có khó khăn ở chổ nhân lớn của nhóm trùng cỏ Mộtsố loài nước ngọt sống tự do có phương thức đa phân và phân cắt tế bào chất
Đa phần động vật nguyên sinh có từ 4-12 nhiễm sắc thể (NST) nhưng chỉ cóvài loài có 2 NST và đặc biệt là Amoeba proteus có 500-600 NST.
b Sinh sản hữu tính.
Trong điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thì đa phần phân chianhanh chóng nhưng khi gặp điều kiện bất lợi hay mật độ cao thì trùng cỏ thểhiện hai hình thức phức tạp là tiếp hợp và tự giao
Tiếp hợp: các tế bào trùng roi kết hợp thành từng đôi và dính nhau theo
chiều dọc Tiếp theo là sự phân rả nhân lớn, các quá trình phân chia gián phânvà giảm phân xảy ra cho nhân nhỏ và có sự trao đổi vật chất từ các nhân nhỏ.Quá trình trao đổi và kết hợp nhân nhỏ toạ ra sự đồng nhất về nhân cho mỗiHình 1.1: các phương thức
phân chia tế bào Protozoa
Trang 24cá thể tiếp hợp Sau đó con vật tách ra và hình thành lại nhân lớn từ các vậtchất của nhân nhỏ Diễn biến của sự tiếp hợp được tóm tắc thành sơ đồ sau:
Hình 1.2: Sơ đồ của quá trình tiếp hợp
Tự giao: là quá trình trao đổi nhân trong từng cá thể riêng biệt, bao gồm
các quá trình phân chia, hấp thụ của nhân lớn và sự phân cắt của nhân nhỏ.Quá trình phân chia của nhân nhỏ thepo sự hình thành lại của nhân lớn Cũngnhư quá trình tiếp hợp, sự tự giao hoàn tất trong vài ngày
Nguồn gốc hay nguyên lý của quá trình tiếp hợp và tự giao là hiệntượng làm mới lại cơ thể do quá trình chuyển đổi NST và gene Theo quanđiểm sinh lý thì tốc độ phân chia và sức sống tốt sẽ tạo quần thể mới mạnhhơn, thích nghi hơn
Hiện tượng nảy chồi là đặc tính của nhóm trùng ống hút (Suctoria) Cóhai dạng là chồi nằm ngoài và nằm trong cơ thể Với loại chồi nằm trong trongthì chúng nhanh chóng rời khỏi cơ thể mẹ thành dạng ấu tùng có tơ, bơi lội tự
do vài giờ rồi bám vào giá thể mất tơ và phát triển thành cá thể trưởng thành
Khả năng mất đi từng phần cơ thể trong quá trình tạo thế hệ mới là rấtlớn, nếu một phần nguyên sinh chất được phân cắt mà không có nhân thì nó
Trang 25sẽ chết nhưng nếu có một hay chỉ một phần nhân thì chúng sẽ phát triểnthành cá thể mới hoàn chỉnh.
c Tạo bào nang.
Quá trình này rất hiếm gặp ở protozoa biển nhưng rất phổ biến ởnhững loài nước ngọt Sự tạo thành bào nang có thể do điều kiện môi trườngbất lợi như khô, nóng, lạnh, thiếu thức ăn, hoá chất
Đầu tiên của quá trình là con vật cuộn tròn lại, mất tơ hay roi và đôikhi mất cả những bào quang khác Kế đó vách tế bào dày lên thường thì gấpđôi, cứng và dai bao lấy con vật, có khi lớp thứ ba bên trong cũng được thànhlập
Dạng bào nang này có thể chịu đựng được sự sấy khô, đông lạnh haynhiệt độ cao Chúng có thể tồn tại nhiều tháng, nhiều năm có khi lên đến 40năm Khi môi trường thuận lợi thì mất bào nang và tạo ra một quần thể vớinhiều cá thể mới (chỉ ở một vài loài) vì có sự phân cắt bên trong bào nang
6 Tập tính và sinh thái
Dựa vào sự tiếp nhận và phản ứng của chúng với các tiếp xúc, thức ăn,trọng lực, ánh sáng, hoá chất có thể coi đó là phản ứng của nguyên sinhchất Những loài có cơ quan cảm thụ đặc biệt như điểm mắt của trùng roi làsự kết tụ của các hạt ngoại biên gần với vùng cãm nhận ánh sáng của tế bàochất Những phản ứng đó giúp con vật nhận biết và đi về phía có ánh sáng
Trong điều kiện bình thường thì không thấy được phản ứng và tập tínhcủa protozoa, nhưng trong điều kiện bất lợi nhất là vùng có nhiều biến độngthì thấy chúng có khuynh hướng đi về phía thuận lợi chúng thực hiện theophương thức “thử và sai” hay “tránh đi” Một số loài có phản ứng nghịch
Hồ ao là những vùng cư trú của nhiều loài protozoa mặc dù số lượngnó không cao lắm, các thủy vực này được phân chia thành nhiều vùng cư trú
Trang 26với nhiều dạng ổ sinh thái khác nhau Vùng miệng hồ là nguồn cung cấp nướcnhưng có ít loài phân bố, nhưng sang muà hè số lượng có thể lên đến 5 M tếbào/Lít.
Nước nhiễm bẩn rất giàu về thành phần loài như Euglypha, Amoeba, Vorticella, Difflugia chúng được gọi là protozoa nước thải.
Quần thể trùng roi phát triển mạnh vùng giàu oxy Euglena ờ vùng
nhiều hữu cơ, Testacea ờ vùng đầm lầy có rong rêu.
Loài có hạt màu thường ở gần bề mặt hay các thủy vực nhỏ
Để chịu đựng với điều kiện khác nghiệt của mối trường, chúng tạothành bào xác và đây cũng là cơ hội tạo sự phân bố rộng cho chúng Nhìnchung trùng roi nhạy cảm hơn trùng cỏ, trùng chân giả ở mức trung bình
Nhiều động vật đa bào có protozoa sống trên bề mặt hay trên mang,cũng chưa xác định được đó là hội sinh hay ký sinh như Suctoria sống trên mai
rùa hay trên vỏ hoặc phần phụ của giáp xác, Trichodina ngoại ký sinh trên cá.
Protozoa cũng là vật chủ cho sinh vật khác ký sinh như vi khuẩn, tảolam, lục tảo vàng (zoochlorella, zoocyanella và zooxanhthella) Đối với tảochúng lấy CO2, hợp chất ni tơ và phospho từ quá trình trao đổi chất củaprotozoa ngược lại chúng cung cấp oxyvà hợp chất hydrocarbon choprotozoa
7 Thu thập mẫu vật và con giống.
Dùng lưới phiêu sinh để thu thập protozoa
Có thể thu rễ cây hay lá cây ngập nước, chất hữu cơ ở đáy ao, bùn mềmhay ván bọt ở bề mặt để lựa lấy protozoa
Các mẫu vật sau khi thu thập thì cho vàng nghiệm rồi phân lập: trùngroi hay trùng có sắc điểm thì di động về phía có ánh sáng, Amoeba nằm trong
mãnh vụn hữu cơ còn trùng cỏ thì lội trên mặt nước
Trang 27- Methylene blue có thể nhuộm màu cho protozoa, thực hiện bằng cáchcho Methylene blue len lam rồi làm khô sau đó nhỏ giọt mẫu lên, quá trìnhbắt màu xảy ra.
- Dung dịch Noland có thể dùng để nhuộm màu trùng roi và trùng cỏ(dung dịch Phenol bảo hòa 80 mL, Formalin 20 mL, Glycerin 4 mL và Gentianviolet 20 mg), nhỏ 1 giọt dung dịch này lên lame, cho vào 1 giọt mẫu rồi đậylamelle lại
- Thường ảnh hưởng không tốt cho đời sống con người
II Hệ Thống Phân Loại và Các Giống Loài Thường Gặp ở ĐBSCL.
Trang 28Ngành động vật nguyên sinh được phân chia thành ba ngành phụ: đólà Sarchomastigophora, Sporozoa và Ciliophora.
1 Ngành phụ Sarcomastigophora
Bao gồm các loài động vật nguyênsinh có cơ quan vận chuyển, cómột loại nhân, có khả năng sinhsản hũu tính
- Tổng lớp Mastigophora(Flagellata): sinh vật trong đơn vịphân loại này có một hay nhiềuroi, dạng đơn độc hay tập đoàn,sinh sản vô tính bằng cách phândọc, tự dưỡng, dị dưỡng hay cảhay
- LớpPhytomastigophorea:
sinh vật trong hệ thốngnày có sắc tố quang hợp, có 1 hay roi, hầu hết sống tự do
- Lớp Zoomastigophorea: những sinh vật trong lớp này không có sắctố quang hợp, sống tự do hay ký sinh, có 1 hay nhiều roi
- Tổng lớp Opalinata: có nhiều hàng tơ, không có miệng, có hai hay nhiềunhân nhưng chỉ một dạng,
là ký sinh
- Tổng lớp Sarchodina: có
chân giả, có một số giai
đoạn phát triển có roi, tế
Hình 1.4: Các dạng sinh vật Sarcodina A: Amoeba;
B: nhìn ngang Arcella; C: nhìn trên xuống Arcella; D: Actynophrys; a: chân đồng trục, cv: không bào co bóp; fv:
Hình 1.3: Các dạng phổ biến của
Mastigophora. A: Chlamydomonas; B:
Euglena; C: Chilomonas paramoecium; D: Bodo; E:
Ceratium; c: hạt màu; cy: miệng; cv: không bào
co bóp; n: nhân; p: tinh bột; rc: hạt tích lủy
glucid; s: điểm mắt.
Trang 29bào có vỏ hay không có vỏ bao, sinh sản vô tính bằng cách phân cắt.
- Lớp Trùng Chânrễ (Rhizopoda):đối xứng hình cầu,
co chân dạng thùyhay dạng sơi
- Bộ Có vỏ(Testacida):chân thùy, cóvỏ cứng baongoài
+ Họ Arcellidae: Vỏ
không có phần dính,chân thùy ít phân nhánh.Các giống loài thườngthấy là Arcella polypora, Arc vulgaris, Arc discoides.
+ Họ Difflugidae: vỏ có phần dính bên ngoài, các giống thường thấy là
Centropyxis (vỏ không có cổ cong, hình tròn, trứng hay hình đĩa, có một lổ,
đồng tâm), Difflugia (lổ vỏ không đồng tâm),.
+ Họ Euglyphidae: vỏ có phần dính đều như vảy, có giống Euglypha là phổ
biến
- Bộ chân lưới (Proteomyxida): chân lưới dạng phóng xạ
- Bộ Amip (Amoebida): Chân dạng thùy, không vỏ Thường thấy làhọ Amoebidae và giống Amoeba với hai loài Am guttula và Am.polypoidia.
Hình 1.5: Một số dạng của Difflugidae,
Arcellidae và Euglyphidae
Trang 30- Lớp Trùng mặt trời (Actinopoda): đối xứng hình cầu, chân đồng trục.
2 Ngành phụ Sporozoa
Các loài này hình thànhbào tử trong vòng đời của nó,một dạng nhân, không có roihay tơ, sống ký sinh
3 Ngành phụ Ciliophora
Cấu tạo chúng có tơ đơngiản hay phức tạp, có hai dạngnhân, sinh sản vô tính bằngphân cắt và só nhiều cách sinhsản hữu tính
- Lớp Ciliata: có đặcđiểm chung như đặc điểm củangành phụ
- Bộ Suctoria: không có tơ khi thành thục, không có cuống, bámvào giá thể bằng ống không co giản được, lấy thức ăn bằng cách hút, ấutrùng sống tự do, sinh sản bằng cách mọc chồi
- Bộ Spirotrichia: có ít tơ, dạng lông là phổ biến, tơ quanh miệngrỏ ràng
Hình 1.6: Các dạng sinh vật Ciliata
A: Chilodonella; E: Paramoecium; F: Stylonychia; D:
Vorticella; B: Coleps; C: Cyclidium; am: màng
miệng; az: vùng miệng; c: miệng; cp: vùng miệng;
ct: không bào tiêu hoá; cv: không bào co bóp, fv:
không bào chưa thức ăn; ma: nhân lớn; mc: tơ
ngoài; mi: nhân nhỏ; ob: túi miệng; pd: dĩa miệng;
t: túi lông; um: màng uốn lượn; v: tiền đình.
Trang 31Tài Liệu Tham Khảo
1 Thái Trần Bái, Hoàng Đức Nhuận, Nguyễn văn Khang 1970 Động vậtkhông xương (tập 1) Nhà xuất bản Giáo dục - Hà nội
2 Edmondson W.T 1959 Freshwater Biology (second edition) University ofWashinton, Seattle
3 Robert W Pennak 1978 Fresh-water invertebrates of the United states Awiley-interscience publication
4 Shirota A and T D An 1966 Plankton of south Vietnam NhatrangOceangraphy Institute
Trang 32LỚP TRÙNG BÁNH XE (ROTATORIA)
Trùng Bánh xe được Leeuwenhoek nghiên cứu và mô tả đầu tiên vào năm
1703, từ đó nó được nhiều nhà vi sinh vật và thủy sinh vật nghiên cứu
Chúng là sinh vật hiển vi với chiều dài khoảng 0.04 - 2.5mm thường trongkhoảng 0.1-0.5 mm
Được gọi tên là trùng bánh xe bởi vì nhiều loài có vòng tơ giống như bánh
xe quay đồng bộ
Chúng phân bố rất rộng từ vùng ven bờ đến vùng nước sâu của những hồlớn cho đến các vũng nước rất nhỏ, chúng cũng có thể được tìm thấy trong đấtẩm và cây cỏ đang phân hủy
Phần lớn số lượng trùng bánh xe phát hiện được là con cái Con đực thìnhỏ hơn, nhanh chóng chết, ít khi sống quá 3 ngày
I Đặc Điểm Chung
1 Đặc điểm chung.
Những sinh vật trong lớp Trùng bánh xe được chia thành hai bộ là Bộnoãn sào chẵn (Digononta) và Bộ noãn sào lẽ (Monogononta).
Trang 33Bộ phụ Seisonidea chỉ có một giống là Seison nó được coi là sinh vật hội
sinh với giáp xác biển, buồng trứng của chúngkhông có noãn hoàng, con đực phát triển tốt, vòngtiêm mao hay tơ quanh đầu (corona) đơn giản.
Bộ phụ Bdelloidea thường xuất hiện trongnước ngọt, buồng trứng có chứa noãn hoàng, conđực ít được tìm thấy, có phần sinh sản đơn tính,vòng tiêm mao phát triển mạnh
b Bộ noãn sào lẽ.
Bộ noãn sào lẽ chiếm khoảng 90% trongtỗng số loài Trùng bánh xe được biết Chúng cómột buồng trứng, hàm nghiền không có phiếnnghiền Chúng có vỏ hay không có vỏ Cá thể đựcchỉ được tìm thấy trong một vài loài, chúng có kíchthước nhỏ và ở dạng thoái hoá Bộ này chia thành
ba bộ phụ là Ploima, Flosculariacea vàCollothecacea
+ Trong bộ phụ Ploima bao gồm các loàisống bơi lội tự do, ven bờ hay ở vùng triều Chúnglà những loài có chân và có 2 ngón Vòng tiêm mao không lớn lắm
+ Bộ phụ Flosculariacea bao gồm những loài sống tự do, không có cuốngkhi trưởng thành Có chân nhưng không có ngón, thường thì có bao bằng chấtkeo Vòng tiêm mao không lớn lắm
+ Bộ phụ Collothecacea gồm những loài có vòng tiêm mao rất lớn vàmiệng nằm giữa tiêm mao giống như cái phiểu, chúng sống đơn độc, có cuống
Hình 3.1: Hình dạng của một loài
thuộc bộ noãn sào chẳn b: nảo;
eb: tuyến bài tiết; i: ruột; m: hàm
nghiền; pg: tuyến chân; pt: nguyên
đơn thận; s: móc chân; sg: tuyến
nước bọt; st: dạ dày; v: tuyến noản
hoàng.
Trang 34Hình thái cơthể của Trùng bánh
xe là kết quả củaquá trình thích nghi,thường thì cơ thể cóhình trụ dài có khitừ dạng lá thànhdạng cầu Cơ thểchia làm ba phầnriêng biệt là đầu,thân và chân
+ Phần đầuthì phân biệt với cácphần khác rỏ mặcdù không có cổ.Phần ngoài củavòng tiêm mao là tơnhưng số lượng vàhình dạng tơ rấtbiến động Chứcnăng của vòng tiêmmao là lấy thức ănvà vận động Miệng nằm ở phần trước và giữa vòng tiêm mao, gần cuối hay mặtbụng
Hình 3.2: Các dạng hàm nghiền tiêu chuẩn A1-B1: hàm nghiền dạng cardate
của Lindia; A1: mặt sau; B1: mặt bụng; C1-D1: hàm nghiền của Asplanchna;
C1: mặt sau; D1: mặt trước; E1: hàm dạng Forcipate của Dicranophorus; F1:
hàm nghiền dạng Uncinate của Stephanoceros; A2-B2: hàm của Notomata;
A2: mặt sau; B2: mặt bụng; D2-E2: hàm của Cephalodella; D2: mặt sau; E2:
mặt bụng; F2: hàm của Synchaeta; f: fulcrum; m: manubrium; r: ramus; s:
uncus phụ; u: uncus.
Trang 35Hàm nghiền là một cấu trúc đặc biệt của hệ tiêu hóa ở Trùng bánh xe vàkhông thể so sánh với bộ phận nào của sinh vật khác Nó có hình dạng củ hành,nằm giữa hầu và thực quản Nó bao gồm một hàng cơ xếp phức tạp hình thànhmột bộ hàm cứng trong suốt (gọi là trophi) dùng để bắt, xé, nghiền hay nhai thứcăn
+ Phần cuối của chân có 2 hay nhiều đốt nhưng có khi không có, thườngthì có 2 gọi là ngón (đôi khi không có hay có 3 hoặc 4) Hâu môn hay lỗ sinh dụcnằm ở phần lưng gốc chân
+ Phần thân: bề ngoài bao phủ bằng một lớp chitin dưới biểu bì Nó là lớpmỏng nhưng chỉ ở phần đầu thì dày hơn có dạng như cái đệm và có thùy hướngvào trong Ở một vài loài, lớp chitin rất mỏng và mềm dẻo nhưng vài loài khácthì dày hơn và cứng gọi là vỏ
Vỏ có khi kém phát triển, bao gồm nhiều phần dẹp, mõng, co giãn được,thường là một phần của vỏ chitin của thân hay có khi chúng dày, cứng giống nhưcái hộp, có chạm trổ, không co giãn được, bao lấy toàn thân, đa phần của chânvà một vài phần của đầu Về sự biến đổi từ mềm sang cứng của vỏ cũng thấy mộtsố dạng trung gian (thí dụ như giống Cephalodella).
Trong bộ phụ Bdelloidea cơ thể chia thành nhiều đoạn nhưng nó chỉ là sựphân chia bên ngoài để chỉ ra các vùng gấp nếp của lớp chitin khi con vật co rút,thông thường có 15-18 đốt như thế, nhưng đó không phải là đốt thật sự
Màu thật sự của cơ thể là màu hơi xám, hơi vàng đôi khi tím hay hơi xanhnhưng thường thì màu thể hiện là phần thức ăn trong ống tiêu hoá và chất thảitrong bộ phần chứa chất bài tiết
2 Cấu trúc của hệ thống tơ quanh đầu.
Trang 36Có thể nói dạng nguyên thủy của hệ thống tiêm mao quanh đầu là hệthống trường bò của Ploima Nó chỉ đơn thuần có một bề mặt nghiên ở phiá trước
phần bụng với ít hay nhiều tơ bao phủ Vùng quanh miệng có rất nhiều tơ baophủ nhưng vùng miện này có thể mở rộng ra khiến cho tơ chỉ phủ vài chổ hay cảvòng tiêm mao (hình 3.3A)
Từ dạng đơn giản nó phát triển dần trở thành phức tạp như nhiều loài Vớiđộ dày và ngắn của tơ trên vòng tiêm mao có thể tạo thành hình đám mây haykhóm hoa (hình 3.3B) Ngoại trừ vùng miệng thì ở vài loài trên vòng tiêm mao có
rất ít hay không có
tơ như trên loài
Eosphora spp Ephiphanes spp và
một số loài khác cóvùng miệng nhỏnhưng phần tiêmmao khoẻ và cónhiều hàng tơtrong suốt tạothành đám hay tạothành nhú lồi trênvòng tiêm mao
Synchaeta spp có tơ cãm giác trên vòng tiêm mao (hình 3.3 F), có nhiệm vụ như là
tai
3 Vận động và di chuyển.
Hình 3.3 Hình ảnh của vòng tiêm mao của một số loài tiêu biểu Màng
và tơ lớn biểu diển bằng chấm lớn, tơ nhỏ là chấm nhỏ A:
Dicranophorus mặt bụng; B: Floscularia mặt sau, có thể hiện xoang
miệng; C: Philodina mặt sau; D: Conochilus mặt sau; E: Cyrtonia mặt
bung; F:Synchaeta măt lưng.
Trang 37Sự vận chuyển hay chuyển động trong tầng nước là do quá trình hoạtđộng của vòng tiêm mao, sự vận động như thế là sự kết hợp của sự xoắn vặntheo trục và sự chuyển động theo vòng tròn của con vật Các loài như Filinia, Hexarthra và Polyarthra thường di động bằng cách thình lình phóng đi nhờ vào sự
hổ trợ của phần phụ
Hầu hết sinh vật trong lớp Trùng Bánh xe là sinh vật bơi lội tự do, đối vớinhững loài không phải là phiêu sinh vật, chúng có chân và có ngón có thể trườnghay bò trên giá thể đó là kết quả của sự phối hợp giữa vòng tiêm mao quanh đầuvà hoạt động đẩy của ngón chân Có khả năng các ngón chân sẽ định hướng suốtquá trình bò và bơi Ở chân và ngón của Trùng bánh xe có tuyến chân, tuyến nàytiết ra chất giúp cơ thể bám dính vào giá thể
4 Hàm và phiến nghiền.
Theo hình thái và hoạt động của hàm nghiền và phần nghiềnthì thấy nó cósự khác biệt lớn theo tập tính sống của con vật nhất là tập tính lấy thức ăn
Thức ăn được đưa vào miệng bằng hoạt động của vòng tiêm mao, xuốngđến hầu và vào thực quản Chỉ ở phần trước mặt lưng của hàm nghiền có nhữnghố cho phép thức ăn đi qua Phần gốc của cơ quan này có nhiều bó cơ và hàmcứng điều khiển sự hoạt động của cả phần hàm Xuyên qua hàm nghiền, thức ănphải được chuyển qua phiến nghiền
Phiến nghiền có một mảnh giữa và ba đôi mãnh bên, hình dạng của chúng
biến đổi và phân chia đặc biệt Phần gốc gọi là fulcrum là nền cho hai phần rami bám vào, bộ ba này gọi là incus (Fulcrum + 2 rami = incus).
Hai phần unci có răng và biến động theo nhiều mức, mỗi mãnh có nhiều răng bám phía bên tạo thành manubrium Sự kết hợp giữa uncus và manubrium
Trang 38tạo thành malleus (Uncus + manubrium = malleus) Như thế phiến nghiền (trophi)
bao gồm một incus và hai malleus (trophi = incus + 2 mallei) Cuối cùng cho thấy
hàm nghiền gồm tám phiến cơ bản nhưng hình dạng khác nhau có thể chia làm 6kiểu chính
a Kiểu Malleate (hình 3.4B): đặc trưng cho loài phiêu sinh yếu đuối.
b Kiểu Virgate (hình 3.2): nhóm này có fulcrum dài và có phần gốc to để
bám vào phần dưới hầu Phần cơ khoẻ giống như cái vòm ở phiá trêncủa phần dưới hầu
thì tự do và được
bao bằng lớp
chitin, khi nó co
rút có hoạt động
như là piston đưa
thức ăn vào miệng
và lổ nghiền
Những sinh vật
trong lớp trùng
bánh xe có cấu tạo
hàm nghiền kiểu này có khả năng hút chất dịch từ tế bào thực vật và visinh vật khác Plankton, periphyton và mãnh vụn hữu cơ làc ăn chủyếu của nhóm sinh vật này
c Kiểu Cardate (hình 3.1 A, B): dạng hàm nghiền này xuất hiện trong
tổng họ Lindiinae, chức năng là hút nhưng cả hàm nghiền có thể daođộng quanh trục ngang, và nâng đở cho phần trên hầu, thức ăn chính
Hình 3.4 Một số dạng hàm nghiến A-B: hàm Malleate của
Epiphanes senta; A: cạnh trái; B: cạnh trước; C: cạnh trước của
hàm nghiền kiểu Malleoramate ở Floscularia; D-E: sơ đồ của
hàm dạng ramate của noãn sào chẳn; D: nhìn thẳng; E: cạnh trước
Trang 39của sinh vật thuộc tổng họ này periphyton và mãnh vụn hữu cơ, vaitrò vật dữ là tạm thời.
d Kiểu Forcipate (hình 3.6 E): phiến nghiền dài, cứng chịu đựng cho phần
lưng bụng, thích hợp cho việc thò ra ngoài miệng để bắt và xé con mồi(protozoa và đa bào cở nhỏ), có thể thò ra tới 1/2 chiều dài
e Kiểu Incudate (hình 3.6 C,D): phiến nghiền tồn tại và các phần khác
thoái hoá ngoại trừ rami lồi ra như cái kẹp Phần cơ của hàm nghiền
giảm, thức ăn của nhóm này chủ yếu là động vật nổi
f Kiểu Ucinate (hình 3.6 F): loại này thích hợp cho việc cắn xé và tiêu hoá
plankton, periphyton và detritus, một mãnh trung gian hay phần uncus
phụ là phần di động chính trên rami.
g Kiểu Ramate (hình 3.7 D, E): loại này đặc trưng cho bọn ăn periphyton ,
plankton và vụn hữu cơ Các phần khác tiêu giảm ngoài trừ phần unci
còn lại dạng bán nguyệt Không có fulcrum.
h Kiểu Malleoramate (hình 3.7 C): dạng này giống với dạng Ramate nhưng
có vài răng bụng đầu tiên lớn hơn, hơi phát triển và tách rời trong khiphần răng còn lại thì nhỏ hơn Fulcrum tồn tại nhưng nhỏ
Bọn bắt mồi chủ động như Asplanchna, Synchaeta, Trichocerca sẽ phát
hiện ra con mồi của nó nhờ vào râu cãm giác hay sự phát hiện hoạt chất sinh hoá
Trang 40nào đó Thức ăn của chúng là sinh vật đa bào cở nhỏ, trùng bánh xe nhỏ khác vàphiêu sinh hay chất lơ lững.
Bọn bò trường không có vòng tiêm mao hay vòng này kém phát triển như
Cupelopagis, Acyclus và Atrochus có một cái miệng hình cái phểu lớn, khi con mồi
đi vào trong phểu này thì chúng nhanh chóng khép miệng lại bắt lấy con mồi vàtiêu hoá
Ngoài ra còn có một số loài sống tự do, có tập tính lấy thức ăn rất mạnhnhư Acylus inquietus sống trong tập đoàn của Siantherina và chúng ăn những con
nhỏ vận động chậm Dicranophorus isothes sống trong quần thể cladocera chúng
ăn xác chết của copepoda, cladocera và cả giun ít tơ
Phần trên hầu rộng, có vách dày như là dạ dày có tơ, hầu hết thức ăn đưavào đây được tiêu hoá và hấp thụ Thường có một đôi buồng trứng hay tuyếnbụng hình dạng giống như trái đậu nằm phía trước dạ dày
Ruột phân biệt rỏ hay không phân biệt được với dạ dày, thường thì nhỏ,hẹp, vách mỏng, có tơ
Hệ thống huyệt ngắn có ít tơ, nó mở ra ở phần lưng phiá sau, chổ gốcchân
Phần trước ống tiêu hoá ở Collothecacea khác hơn nhiều Vùng miệngnằm ở gốc phểu Thức ăn lấy được sẽ đi vào miệng ở phần đáy phểu đi qua khe