Chẳng hạn, trong tác phẩm "The Development and Management of Visitor Attractions", John Swarbrooke đã định nghĩa điểm thu hút là: Một nơi đến được hình thành và hoạt động lâu dài với mục
Trang 1CHƯƠNG 6: ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH VÀ HỆ THỐNG TUYẾN ĐIỂM
DU LỊCH
6.1 ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
6.1.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ ĐIỂM DU LỊCH (ĐIỂM THU HÚT - ATTRACTION)
VÀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH (TOURIST DESTINATION)
6.1.1.1 Điểm du lịch (Điểm thu hút – Attraction)
Khi rời khỏi nhà đi du lịch, khách du lịch có nhu cầu đặc trưng, nhu cầu thiết yếu và nhu cầu bổ sung Trong đó, chính nhu cầu đặc trưng tạo nên sự thúc bách du khách phải rời khỏi nhà Tại nơi đến, nhu cầu đặc trưng được thỏa mãn bởi các điểm tham quan, giải trí Các điểm này tạo nên sức thu hút du khách cho địa phương, gọi là những điểm du lịch
Mục 8 điều 3 Luật du lịch Việt Nam định nghĩa "Điểm du lịch là nơi có tài nguyên
du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch"
Khái niệm này thống nhất với thuật ngữ attraction - điểm thu hút mà nhiều tác giả đưa ra Chẳng hạn, trong tác phẩm "The Development and Management of Visitor Attractions", John Swarbrooke đã định nghĩa điểm thu hút là:
Một nơi đến được hình thành và hoạt động lâu dài với mục đích chủ yếu là cho phép công chúng vào để giải trí, thư giãn, học hỏi Cơ sở ấy phải phục vụ cho công chúng không cần giữ chỗ trước trong những khoảng thời gian công bố trước trong năm và
có khả năng thu hút khách tham quan cũng như cư dân địa phương [ CITATION Swa99 \p 4 \l 1033 ]
Cũng theo John Swarbrooke, điểm thu hút là một cơ sở đơn lẻ hay một khu vực địa lý quy mô nhỏ được xác định rõ ranh giới Nó cho phép và thúc đẩy việc thu hút một số lượng lớn người từ nơi xa và cả dân địa phương đến để tham quan, giải trí trong một khoảng thời gian ngắn, có giới hạn Từ đó, John Swarbrooke chia ra:
Những điểm thu hút dựa vào môi trường tự nhiên (các bãi biển đẹp, thắng cảnh,…)
Những công trình nhân tạo được xây dựng không vì mục đích thu hút khách nay được
sử dụng để thu hút khách (các công trình kiến trúc đền đài, lăng tẩm,…)
Những công trình nhân tạo được thiết kế để thu hút khách (các công viên giải trí, các casino,…)
Nơi tổ chức những sự kiện đặc biệt (nơi tổ chức lễ hội, sự kiện thể thao,…)
6.1.1.2 Điểm đến du lịch
Cũng theo John Swarbrooke, nếu điểm thu hút nói chung được hiểu như một đơn vị đơn lẻ, một nơi riêng biệt hay rất nhỏ, dễ dàng xác định phạm vi giới hạn dựa vào một nét đặc trưng cơ bản (phố cổ, ) hay có tường rào (viện bảo tàng,…) thì điểm đến (destination)
Trang 2là một khu vực rộng lớn hơn bao gồm nhiều điểm thu hút khác nhau kết hợp với những dịch
vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ hỗ trợ khác mà du khách đòi hỏi
Cũng trên quan điểm đó, S Medlik trong "Dictionary of Travel, Tourism and Hospitality", đã xác định:
Điểm đến du lịch là các quốc gia, các vùng, các thành phố và các khu vực khác có khả năng thu hút khách, là địa bàn chủ yếu của các hoạt động du lịch và có xu hướng
thu hoạch được hầu hết các chi tiêu và thời gian của du khách Nó là nơi tập trung
chủ yếu của các điểm thu hút, hệ thống lưu trú, các cơ sở vật chất và các dịch vụ du lịch khác, là nơi xảy ra các tác động chủ yếu về kinh tế, xã hội, tự nhiên của du lịch [ CITATION Med96 \p 250 \l 1033 ]
Như vậy, theo các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu Hoàng thành Huế, phố cổ Hội
An, Viện bảo tàng Chăm,… là những điểm du lịch, thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng, nước Việt Nam hay vùng Đông Nam Á là những điểm đến du lịch
Luật Du lịch Việt Nam không đưa ra khái niệm điểm đến du lịch nhưng mục 6 & 7 điều 3 đưa ra hai khái niệm:
"Đô thị du lịch là đô thị có lợi thế phát triển du lịch và du lịch có vai trò quan trọng trong hoạt động của đô thị",
"Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường"
Đây là hai trường hợp cụ thể của destination - điểm đến
6.1.2 PHÂN LOẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
6.1.2.1 Phân loại theo phạm vi điểm đến
Như đã nêu trên, điểm đến du lịch là nơi có thể thu hoạch hầu hết các chi tiêu và thời gian của du khách trong một chuyến đi Vì vậy, nó có thể là:
- Một khu vực bao gồm nhiều nước Ví dụ một du khách Châu Âu dành ra 10 ngày để
đi khắp ba nước Việt Nam, Lào, Cambodia Trường hợp này điểm đến du lịch có thể
là khu vực 3 nước Đông Dương
- Một quốc gia Một du khách Hàn Quốc có thể dành một số ngày khám phá Việt Nam Với du khách đó, Việt Nam là một điểm đến
- Một vùng, Một du khách từ thành phố Hồ Chí Minh dành ra 3 ngày để đi tham quan Huế - Đà Nẵng – Hội An Với anh ta, trong chuyến đi này ,điểm đến du lịch là một vùng gồm ba địa phương nói trên
- Một địa phương Một du khách Đà Nẵng thực hiện một chuyến đi tham quan Hà Nội hay Hội An Lúc đó, điểm đến du lịch được xem xét chỉ là hai địa phương này
Trang 36.1.2.2 Phân loại theo loại hình du lịch
Mỗi điểm đến du lịch, căn cứ vào tài nguyên du lịch của mình có thể phát triển các loại hình du lịch khác nhau từ đó ta có các điểm đến du lịch văn hóa, điểm đến du lịch lịch
sử, điểm đến du lịch nghỉ dưỡng biển,…
Tuy nhiên, để đa dạng hóa thị trường, ổn định nguồn khách, một điểm đến có thể phát triển những loại hình du lịch khác nhau, trong đó có loại hình du lịch chính và các loại hình du lịch phụ và bổ sung Chẳng hạn, Hội An lấy loại hình du lịch văn hóa là du lịch chính, du lịch nghỉ dưỡng biển là phụ, du lịch tham quan làng quê, làng nghề là loại hình du lịch bổ sung Thông thường, điểm đến du lịch thường được phân loại theo loại hình du lịch chính, là loại hình du lịch mà điểm đến sử dụng để định vị trên thị trường
6.1.3 PHÂN TÍCH CÁC NGUỒN LỰC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MỘT ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
Phân tích điều kiện để hình thành hay phát triển một điểm đến du lịch, chúng ta phân tích các nguồn lực sau
6.1.3.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch
Du lịch là một ngành định hướng tài nguyên nên nguồn lực đầu tiên cần kiểm kê và đánh giá để phân tích là tài nguyên du lịch Kiểm kê là việc liệt kê và hệ thống hóa tất cả tài nguyên du lịch phân thành từng loại, thứ, kiểu tài nguyên Đánh giá là việc xác định mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch thông qua khả năng thu hút khách, khả năng tổ chức các dịch
vụ trên các tài nguyên đó Trong yêu cầu phát triển bền vững, đánh giá tài nguyên du lịch không thể bỏ qua mức độ dễ bị suy thoái của tài nguyên và yêu cầu cần phải có để bảo vệ tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch có thể được kiểm kê theo các kiểu tài nguyên và đánh giá như sau:
A KIỂM KÊ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
I Tài nguyên du lịch thiên nhiên
1 Điều kiện khí hậu, thời tiết
Trong đó phân ra:
1a Điều kiện khí hậu, thời tiết có khả năng thu hút khách
Ở nước ta, phổ biến là khí hậu Á nhiệt đới vùng cao như Đà Lạt, Sapa, Bà Nà, Tam Đảo và khí hậu biển nhiệt đới
1b Điều kiện khí hậu, thời tiết tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngoài trời của khách
du lịch
Chủ yếu là xác định các mùa thời tiết thuận lợi cho du lịch như chế độ mưa, chế độ nhiệt - chế độ gió - độ ẩm không khí
2 Điều kiện địa hình
Trang 42a Cảnh quan
Là kết quả của sự tạo thành từ cấu trúc địa chất, địa mạo, mặt nước, hệ động thực vật
để có được các kiểu cảnh quan hùng vỹ, độc đáo, hài hòa
2b Điều kiện địa hình để tổ chức các hoạt động giải trí
Là các địa hình dốc đứng để tổ chức hoạt động leo núi, đồi cát để xây dựng sân golf, sông thác để bơi thuyền,…
3 Hệ sinh thái
Là các hệ sinh thái đa dạng, quý hiếm, độc đáo
4 Những nguồn khoáng
Những nguồn nước giàu chất khoáng như suối nước khoáng, bùn khoáng,… có khả năng mang lại sự thư giãn hay chữa một số loại bệnh
II Tài nguyên du lịch văn hóa
1 Các tài nguyên văn hóa vật thể
1a Các công trình kiến trúc
Bao gồm các công trình kiến trúc nghệ thuật cổ cũng như các công trình kiến trúc đương đại thể hiện trình độ kỹ thuật hiện đại
1b Các viện bảo tàng, nhà trưng bày các tác phẩm nghệ thuật,…
1c Các di tích lịch sử
Là các nơi từng diễn ra các sự kiện lịch sử, kể cả sự kiện lịch sử đang diễn ra (Trung tâm Hội nghị quốc tế- khách sạn Majestics, Phố Kléber, Paris, từ năm 1968 đến 1973, là nơi diễn ra Hội đàm Paris về Việt Nam, đã trở thành nơi thường xuyên thu hút hàng ngàn khách du lịch)
2 Các tài nguyên văn hóa phi vật thể
2a Những tập tục sản xuất và sinh hoạt truyền thống
Có thể thu hút khách là tập quán sản xuất và sinh hoạt còn giữ được bản sắc, chưa pha tạp, các lễ hội truyền thống
2b Các lễ hội truyền thống và sự kiện đương đại
2c Nghệ thuật truyền thống dân gian
2d Nghệ thuật ẩm thực
2e Hoạt động sản xuất tiểu thủ công mỹ nghệ
Có thể được coi là tài nguyên du lịch là lòng hiếu khách, thân thiện của cư dân địa phương
Loại
hình
thu hút
Thứ thu hút Kiểu thu hút Điểm thu hút
Tài Các tiểu vùng khí Tiểu vùng khí hậu nhiệt đới ven biển Tp Đà Nẵng, Nha Trang,
Trang 5nguyên du
lịch
thiên
nhiên
hậu Tiểu vùng khí hậu ôn đới vùng cao Đà Lạt, Sapa, Bà Nà,
Thắng cảnh
Cảnh quan hùng vĩ Thác Bản Giốc,
Cảnh quan hài hòa Đèo Hải Vân, Cảnh quan độc đáo Hạ Long, Biển Hồ Pleiku Vùng có điều kiện
địa hình thuận lợi
cho tổ chức các
hoạt động giải trí
Những vùng có điều kiện tổ chức hoạt động giải trí trên mặt nước
Vùng câu cá Cù lao Chàm, vùng biển Nha Trang Những vùng có điều kiện tổ chức
hoạt động giải trí ở núi rừng Khu leo núi, khu tổ chứctrekking Nguồn khoáng Suối khoáng nóng Suối khoáng Thanh Tân,
Hệ sinh thái Rừng quốc gia Bạch Mã, Cúc Phương
Tài
nguyên
du lịch
nhân
văn
Tài nguyên văn
hóa vật thể
Công trình kiến trúc Tháp Chăm, thủy điệnsông Đà, Viện Nghiên cứu
hạt nhân Đà Lạt Các viện bảo tàng, nhà trưng bày Viện bảo tàng lịch sử, Cổviện Chàm
Các di tích lịch sử Điện Biên Phủ, đườngmòn HCM Nghệ thuật sân khấu truyền thống và
folklore
Tuồng cổ Hát bài chòi, bả trạo
Tài nguyên văn
hóa phi vật thể
Tập tục sản xuất và sinh hoạt truyền thống
Làng rau Trà Quế, Buôn làng dân tộc K'hor …
Lễ hội, sự kiện Tết Nguyên đán, hội ChùaHương, Festival pháo hoa
Đà Nẵng Nghệ thuật truyền thống Nhã nhạc cung đình,
Nghệ thuật ẩm thực Cơm cung đình,
Ngành nghề TTCMN Làng đúc đồng Phước Kiều
B ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
I Đối với tài nguyên du lịch đang được khai thác
1 Đánh giá sức hấp dẫn
Vấn đề quan trọng nhất là đánh giá sức hấp dẫn của chúng Có nhiều cách:
Hoặc chúng ta đánh giá thông qua việc xác định cấp độ Tùy yêu cầu đánh giá,
chúng ta có thể chia thành 5 cấp độ hay 3 cấp độ Với một yêu cầu không chi tiết lắm, chúng ta có thể chia ra 3 cấp độ để đánh giá các cảnh quan và các khu du tích như sau:
1a Đánh giá thắng cảnh
+ Thắng cảnh loại I: Là khu vực trong đó có nhiều nét hấp dãn khác nhau Ví dụ: Khu vực
vừa có biển, vừa có núi rừng, phong cảnh đẹp, nhiều hang động, có chim thú và cây cỏ độc đáo, có thể xây dựng nhiều loại hình du lịch khác nhau, như; Hạ Long, đảo Cát Bà…
+ Thắng cảnh loại II: Là khu vực chỉ có biển hoặc chỉ có rừng, phong cảnh cũng đẹp và độc
đáo, có suối nước khoáng hay nước nóng, có nơi săn bắn và thể thao, như Đà Lạt, Spa, Đồ Sơn…
Trang 6+ Thắng cảnh loại III: Là khu vực rừng hoặc biển chỉ để nghỉ ngơi, ít phong cảnh đẹp như:
Mỹ Khê, Tam Đảo…
1b Đánh giá các khu di tích
+ Khu di tích loại I: Các quần thể di tích có ý nghĩa lịch sử, có kiến trúc đẹp và cổ kính như:
Huế, Hội An, Hà Nội…
+ Khu di tích loại II: Các di tích đơn lẻ, có ý nghĩa nhất định trong lịch sử và có kiến trúc
đẹp như : Chùa Thầy, các tháp Champa…
+ Khu di tích loại III: Các di tích đơn lẻ, có ý nghĩa nhất định trong lịch sử, như: Núi
Thành, nghĩa địa Tây ở Đà Nẵng…
2 Đánh giá khả năng khai thác kinh doanh của một điểm thu hút
Ý nghĩa kinh tế của một điểm thu hút được căn cứ vào:
- Số lượng khách du lịch muốn và có thể thực hiện được việc tham quan điểm thu hút này Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào:
+ Loại hình này có lôi cuốn dược rộng rãi sự ham muốn của nhiều loại du khách khác nhau hay không?
+ Sức chứa của điểm thu hút (phụ thuộc vào mặt bằng của điểm và việc tự giới hạn
số lượng khách du lịch do yêu cầu của việc duy trì, bảo tồn thắng cảnh, hệ sinh thái,
di tích, mức độ ảnh hưởng đến nếp sống bình thường của cư dân địa phương)
+ Khả năng đi đến điểm thu hút: điều kiện về đường sá, các loại phương tiện sử dụng, thời gian đi lại…
+ Khả năng hấp dẫn của điểm thu hút này so với các điểm thu hút khác cùng một loại hình
- Số tiền khách du lịch sẽ chi tiêu cho một điểm thu hút Nó không chỉ là một lượng tiền trả cho bản thân người kinh doanh điểm này Hiểu rộng hơn, nó còn bao gồm các khoản chi tiêu khác của khách du lịch mà do sự hấp dẫn của điểm này khiến khách du lịch kéo dài thêm chuyến đi và chi tiêu thêm
II Đối với tài nguyên du lịch tiềm năng
Là những tài nguyên du lịch chưa khai thác, cần phải có thời gian và tiền bạc để đầu
tư tôn tạo và đưa vào sử dụng Ngoài việc đánh giá về dung lượng thị trường của nó, chúng
ta cần phải đánh giá thêm về nhu cầu vốn, về độ dài thời gian cần thiết của quá trình cải tạo, xây dựng, cũng như dự đoán các tác động lợi và hại của nó trên các mặt khác nhau nhất là vấn đề môi trường, truyền thống văn hóa, đời sống cư dân địa phương…
* Vấn đề quản lý và khai thác tài nguyên du lịch
Để có thể quản lý và khai thác tốt tài nguyên du lịch, chúng ta cần xem xét các mặt như sau:
1 Sự thay đổi theo mùa của chúng
Trang 7Đối với một điểm du lịch, chúng ta cần phải xác định khoảng thời gian nào trong năm có khả năng thu hút nhiều khách du lịch nhất Khoảng thời gian nào đó có ít hoặc không có khả năng thu hút khách, từ đó xác định mùa chính, mùa trái làm cơ sở cho việc hoạch định mùa chính, mùa trái làm cơ sở cho việc hoạch định các kế hoạch sữa chữa, bảo trì, khai thác và kế hoạch vốn…
2 Vị trí của điểm du lịch
Xác định khoảng cách từ điểm du lịch đến các thị trường gởi khách, các loại phương tiện và khả năng vận chuyển khách đến
3 Mức độ sử dụng và trình độ quản lý
Cũng như mọi hoạt động khai thác, kinh doanh khác, một nguyên tắc là “số lượng đầu vào sẽ quyết định chất lượng đầu ra“ Tài nguyên du lịch sẽ bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng quá mức trong khi bảo trì kém Vì nguyên nhân này, nhiều điểm du lịch bị xuống cấp
do đó làm giảm nhu cầu du lịch
Vì vậy, nghiên cứu chu đáo về sinh thái học và môi trường để xây dựng một kế hoạch sử dụng và bảo trì đúng đắn sẽ giúp duy trì được chất lượng của những tài nguyên du lịch hiện nay và tương lai, nhờ đó mà duy trì nhu cầu du lịch hiện nay và tương lai được chất lượng của những tài nguyên du lịch hiện nay và tương lai, nhờ đó mà duy trì nhu cầu
du lịch đối với điểm du lịch của chúng ta
Chúng ta nên nhớ rằng, đối với thiên nhiên, hơn ai hết, ngành du lịch phải nhạy bén với chất lượng sử dụng tài nguyên cho giải trí Nếu chúng ta không giữ được những yêu cầu cao về chất lượng, chắc chắn nhu cầu du lịch đối với vùng sẽ bị giảm đi
Đối với việc đưa những tiềm năng du lịch vào khai thác, thậm chí xây dựng một công viên ven đường, một bãi đậu xe, một nhà vệ sinh công cộng, những nơi này đôi khi bị những khách du lịch thiếu thận trọng làm hư hỏng, bôi bẩn, vứt rác bừa bãi Vì vậy, trong
du lịch chúng ta nên nhớ một nguyên tắc: “nếu ta không thể bảo quản nó thì đừng nên xây dựng nó” Chẳng thà không còn hơn là tốn tiền xây dựng nên những chỗ làm cho khách du lịch khó chịu và thất vọng, để lại ấn tượng không tốt cho toàn điểm du lịch
6.1.3.2 Sự phát triển của cơ sở hạ tầng tại điểm đến
1 Mạng lưới giao thông
Thực hiện một chuyến du lịch gắn liền với thực hiện việc đi lại Du lịch không thể phát triển nếu hệ thống giao thông của xã hội không phát triển để có thể đưa khách du lịch
từ nhà đến điểm đến du lịch và đi lại trong điểm đến Ở nước ta, có những nơi có tài nguyên
du lịch hấp dẫn nhưng chưa thể khai thác được vì điều kiện giao thông chưa phát triển, không thể đưa khách đến được
Hệ thống giao thong bao gồm các công trình đầu mối (phi trường, bến cảng, nhà ga, bến xe…) và mạng lưới đường sá kể cả đường bộ, đường sắt và hệ thống sông ngòi…
Mạng lưới giao thông của điểm đến du lịch được đánh giá trên các mặt:
Trang 8 Khả năng sử dụng nhiều loại hình phương tiện giao thông khác nhau phù hợp với các phân đoạn thị trường du lịch khác nhau, từ đó cho phép thu hút nhiều loại khách khác nhau
Sức tải tối đa của các công trình đầu mối vào những mùa đông khách du lịch
Khả năng bảo đảm về số lượng và chất lượng của các tuyến đường nhằm đưa khách từ các điểm gởi khách hoặc công trình đầu mối đến trung tâm thành phố hoặc các điểm du lịch Trong giao thông đường bộ, chất lượng đường phụ thuộc vào độ rộng mặt đường, chất lượng mặt đường, độ giác của đường
Việc xây dựng cải tạo hệ thống giao thông đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn, lại
có khả năng sinh lợi trực tiếp thấp nhưng dù phục vụ đắc lực cho sự phát triển du lịch nhưng không chỉ du lịch mà còn phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời sống của nhân dân nên nói chung chính nhà nước là người đầu tư chủ yếu cho việc xây dựng mạng lưới này
Gắn liền với tuyến đường, phục vụ đắc lực cho du lịch là các bảng chỉ đường Ở những vùng du lịch phát triển, đó là một bộ phận không thiếu được của nguồn cung du lịch Trên các trục đường chính, ngã tư quan trọng đều có các bảng chỉ đường, chỉ hướng, khoảng cách đến các thắng cảnh, viện bảo tang cũng như những thông tin về khách sạn nhà hàng… gần đó Trong thành phố, tại các nút giao thông quan trọng lại có bảng yết bảng đồ thành phố
Dọc theo trục lộ, một bộ phận của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch là các trạm xăng, những trạm sữa chữa xe, nhà vệ sinh, vv…thường bố trí cách nhau khoảng một giờ chạy xe
2 Các cơ sở hạ tầng khác
Phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch cũng như nhân dân địa phương, được tính vào cơ sở hạ tầng của xã hội phục vụ du lịch còn có hệ thống cung cấp điện, hệ thống cung cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, các chợ, trung tâm thương mại, mạng lưới y tế…
6.1.3.3 Hệ thống cơ sở vật chất du lịch
1 Hệ thống cơ sở giải trí
Đi du lịch để khám phá một thế giới mới, mở rộng hiểu biết nhưng đó cũng là thời gian nghỉ ngơi, giải trí và số người đi du lịch nặng về mục đích giải trí ngày càng nhiều Ngày nay, có nhiều loại cơ sở đáp ứng những nhu cầu này, được chia ra:
1a Những cơ sở, thiết bị mô phỏng
Các cơ sở này nhằm giới thiệu về những nơi xa xôi, ít có khả năng viếng thăm Đây
có thể là những làng văn hóa, ở đó xây dựng những ngôi nhà điển hình cho văn hóa các dân tộc ít người của Việt Nam, các thắng cảnh nổi tiếng thu nhỏ hoặc copie một điểm thu hút thật sự, ví dụ nhà sàn Bác Hồ ở nhà trưng bày quân khu V…
1b Những công viên giải trí
Trang 9Các công viên giải trí cung cấp những trò chơi giải trí, nhiều công viên không chỉ thu hút dân địa phương mà cả các khách du lịch Có những công viên còn là mục đích của cả một chuyến đi của khách du lịch như các công viên giải trí của Walt Disney trên thế giới hay các công viên Vinpearl Việt Nam
2 Hệ thống cơ sở lưu trú
Các cơ sở lưu trú được phân thành nhiều loại: khách san, biệt thự, motel, nhà trọ, đất trại, làng du lịch… Quan trọng nhất là khách sạn du lịch – là cơ sở vật chất chủ lực của ngành du lịch
Đối với hệ thống cơ sở lưu trú, chúng ta cần kiểm kê quy mô của chúng Quy mô của
hệ thống cơ sở lưu trú được tính trên số cơ sở lưu trú (theo từng loại, theo cấp hạng), trên khả năng lưu trú dựa vào số lượng buồng, giường Đó là những chỉ tiêu chủ yếu Ngoài ra
do tính chất phức tạp và đặc điểm riêng của từng cơ sở lưu trú mà chúng ta có thể bổ sung thêm các chỉ tiêu giải thích khác: diện tích sử dụng, trang thiết bị (số lều trại, diện tích cắm trại, số bungalow…), số công nhân viên phục vụ, tổng vốn đầu tư, doanh thu…
Trong phân tích hệ thống cơ sở lưu trú, chúng ta còn phân tích cơ cấu hệ thống cơ sở lưu trú theo cấp hạng, quy mô đồng thời phân tích sự phân bố của chúng trong điểm du lịch
Khách sạn là một đơn vị kinh doanh nhưng cũng là nơi lưu trú công cộng nên nó phải chịu sự kiểm tra thường xuyên của các cơ quan quản lý nhà nước Đây là hoạt động không thể thiếu được của chính quyền để kiểm tra và duy trì chất lượng của khách sạn, bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dung và uy tín của điểm du lịch Nội dung kiểm tra của chính quyền là kiểm tra về điệu kiện vệ sinh, về tiêu chuẩn an toàn nói chung, phòng cháy, chữa cháy nói riêng, đồng thời là kiểm tra về việc giữ vững các tiêu chuẩn chất lượng như đã đăng ký theo từng loại hạng khách sạn
3 Hệ thống nhà hàng
Nhà hàng là nơi cung cấp dịch vụ ăn uống và một số dịch vụ bổ sung khác như hòa nhạc, khiêu vũ…
Chúng ta phân biệt:
+ Nhà hàng với các món ăn phổ thông,
+ Nhà hàng đặc sản,
+ Nhà hàng có sàn biểu diễn ca nhạc,
+ Các bar, quầy hàng phục vụ điểm tâm giải khát
Quy mô nhà hàng được phản ánh bằng chỉ tiêu về số lượng chỗ ngồi và doanh thu phân theo từng loại và cấp hạng chất lượng nhà hàng Cũng như trong lĩnh vực khách sạn, vấn đề phân bố mạng lưới nhà hang cũng rất quan trọng trong quá trình kiểm kê và đánh giá
hệ thống nhà hàng
4 Các cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác
Trang 10Các loại phòng hội nghị, phòng tiệc, phòng tiệc, phòng hòa nhạc, khiêu vũ…chỉ tiêu quy mô là số chỗ, diện tích
Các loại quầy hàng lưu niệm Chỉ tiêu quy mô là diện tích, mức lưu chuyển hàng hóa
Các cơ sở phục vụ thể thao, giải trí, bể bơi, sân quần vợt, casino…
Các cơ sở cung ứng các dịch vụ như tắm hơi, cắt uống tóc, giặt là, thông tin liên lạc…
5 Các phương tiện chuyên chở
Bao gồm tất cả các phương tiện đưa khách từ nhà đến điểm du lịch, giữa các điểm du lịch và đi lại bên trong điểm du lịch Bao gồm máy bay, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô vận chuyển
và cho thuê đến môtô, cyclo…
Đối với một điểm du lịch, khả năng vận chuyển hành khách đến điểm du lịch được tính cả trên phương tiện vận chuyển đường hàng không, đường thủy, đường sắt, đường bộ Tính trên tất cả các loại phương tiện, số chuyến, số chỗ ngồi trong một tuần Đối với du lịch quốc tế, quan trọng là phải nắm vững khả năng vận chuyển hành khách của đường hàng không, đường biển đến các cửa khẩu biên giới (phi trường, bến cảng)
Chúng ta cũng không nên quên khả năng vận chuyển khách từ phi trường, nhà ga, bến cảng đến điểm du lịch hay trung tâm thành phố Dịch vụ taxi, cyclo là rất cần thiết cho một điểm du lịch Hơn ai hết, các tài xế taxi nên bày tỏ lòng hiếu khách của mình, sẵn sàng giúp đỡ khách du lịch Điều đó thường để lại ấn tượng tốt đẹp nơi khách du lịch về điểm du lịch
6.1.3.4 Nguồn nhân lực du lịch
Du lịch là một ngành sử dụng lực lượng lao động to lớn Người ta tính rằng, để tạo ra một đơn vị ngoại tệ từ xuất khẩu, du lịch sử dụng số lao động gấp 3 lần các ngành sản xuất vật chất khác
Đồng thời du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp, bao gồm nhiều hoạt động kinh doanh có đặc điểm kinh tế - tổ chức – kỹ thuật khác nhau và trong mỗi ngành có nhiều hoạt động phục vụ khác nhau vì vậy trong du lịch bao gồm nhiều ngành nghề và trình độ chuyên môn hết sức khác nhau
Mặt khác, quá trình cung ứng dịch vụ du lịch là quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa khách hang và nhân viên cung ứng, vì vậy vấn đề chất lượng lao động trong ngành du lịch cũng như trong một doanh nghiệp du lịch rất quan trọng, nó sẽ quyết định chất lượng phục
vụ và từ đó là hiệu quả kinh doanh
Nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại, yêu cầu cao và phức tạp về chất lượng cho nên trong du lịch vấn đề kiểm kê và đánh giá lực lượng lao động là một vấn đề hết sức phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng