1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

DẠY học GIẢI QUYẾT vấn đề TRONG đọc văn bản văn học môn NGỮ văn THCS

8 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 460,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO THĂNG BÌNH TRƯỜNG THCS PHAN CHÂU TRINH BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ SINH HOẠT CỤM NGHIỆP VỤ DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG ĐỌC VĂN BẢN VĂN HỌC MÔN NGỮ VĂN THCS Tổ Văn

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO THĂNG BÌNH

TRƯỜNG THCS PHAN CHÂU TRINH

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ SINH HOẠT CỤM NGHIỆP VỤ

DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

TRONG ĐỌC VĂN BẢN VĂN HỌC

MÔN NGỮ VĂN THCS

Tổ Văn - Sử - Địa Trường THCS Phan Châu Trinh

Thăng Bình, tháng 10 năm 2022

Trang 3

3

DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

TRONG ĐỌC VĂN BẢN VĂN HỌC

MÔN NGỮ VĂN THCS

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận phẩm chất, năng lực người học, từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh làm được gì qua

việc học: “Học để biết, học để làm, học để khẳng định bản thân, học để cùng chung sống.” (Unesco) Có thể thấy, dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực có vai trò quan trọng trong việc “nâng cao chất lượng đào tạo trong giáo dục phổ thông nói riêng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia nói chung”

Môn Ngữ văn trong hệ thống chương trình giáo dục phổ thông đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh Một trong những

phương pháp dạy học phát triển phẩm chất, năng lực, đó là dạy học giải quyết vấn đề

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Khái niệm

a Dạy học giải quyết vấn đề

a.1 Tình huống có vấn đề

Tình huống có vấn đề là những trở ngại về trí tuệ của con người xuất hiện khi người đó chưa biết cách giải quyết hiện tượng, sự kiện, quá trình của thực tế; khi chưa đạt tới mục đích bằng cách thức, hành động quen thuộc Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới

Một tình huống được coi là có vấn đề khi thỏa mãn ba điều kiện:

+ Tồn tại một vấn đề

+ Gợi nhu cầu nhận thức

+ Gợi niềm tin vào khả năng của bản thân

Vấn đề trong tác phẩm văn học là mâu thuẫn giữa tri thức văn học, phương thức phân tích, cắt nghĩa, bình giá tác phẩm ở học sinh với các giá trị nội dung tư tưởng và giá trị thẩm mĩ cần tìm của tác phẩm Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết bằng những

nỗ lực hoạt động sáng tạo và cảm xúc thẩm mĩ của học sinh

Nhưng làm thế nào để vấn đề trong tác phẩm văn học trở thành tình huống có vấn

đề đối với học sinh ?

a.2 Dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề là cách thức tổ chức dạy học, trong đó HS được đặt trong một tình huống có vấn đề mà bản thân HS chưa biết cách thức, phương tiện cần phải nỗ lực tư duy để giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề có các đặc điểm sau:

- HS được đặt vào tình huống có vấn đề chứ không phải được thông báo dưới dạng tri thức có sẵn Vấn đề được đưa ra giải quyết cần vừa sức và gợi được nhu cầu nhận thức ở HS

- HS không những được học nội dung học tập mà còn được học con đường và cách thức tiến hành dẫn đến kết quả đó Nói cách khác, HS được học cách phát hiện

và giải quyết vấn đề

b Dạy học giải quyết vấn đề trong đọc văn bản văn học

Trang 4

Dạy học giải quyết vấn đề trong đọc văn bản văn học là điều rất khả dĩ Bởi với

đặc thù bộ môn, thì mỗi văn bản đọc hiểu đã chứa đựng những tình huống có vấn đề

để mà tác giả muốn gửi gắm đến bạn đọc Văn bản văn học với đặc trưng là đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người, mỗi sáng tác văn học là cách tác giả khái quát, nhìn nhận, đánh giá về hiện thực đời sống, qua đó thể hiện phong cách, quan điểm của nhà văn về vấn đề đó Nhà văn M.Gorki từng cho rằng: Tác phẩm văn học nào cũng có vấn đề Đó chính là cơ sở đầu tiên để xây dựng biện pháp dạy học này

Văn bản văn học là loại hình nghệ thuật có tính đa nghĩa, là những “kết cấu vẫy gọi” luôn hướng tới những “người đọc tiềm ẩn” mở ra khả năng “tạo tình huống có vấn đề” Vì thế, khi dạy học đọc hiểu văn bản văn học, giáo viên phải khơi gợi được những tình huống có vấn đề để học sinh “giải mã”, qua đó khám phá tác phẩm văn học

Xây dựng tình huống học tập Ngữ văn đặt ra vấn đề đối với giáo viên, người dạy phải khơi dậy sự ham thích học tập, tính chủ động sáng tạo của người học, phải làm sao cho người học chú ý lắng nghe, tiếp nhận mâu thuẫn của tình huống như là những mâu thuẫn nội tâm của chính bản thân mình và có nhu cầu giải quyết nó Điều

đó cũng có nghĩa là người học phải tự mình vượt qua các khó khăn về nhận thức, đưa

ra những giả thuyết, điều chỉnh lại toàn bộ tri thức đã có để tìm ra lời giải, thu được tri thức mới cho bản thân Và chính thông qua quá trình thực hiện giải quyết những tình huống học tập cụ thể trong giờ học đọc hiểu, năng lực đọc hiểu văn bản được bồi dưỡng và phát triển

2 Cách tổ chức dạy học giải quyết vấn đề trong đọc văn bản văn học 2.1 Cách tiến hành

Cách thức tiến hành theo các bước cụ thể như sau:

Bước 1: Nhận biết vấn đề

GV đưa người học vào tình huống có vấn đề hoặc GV có thể gợi ý người học tự tạo ra tình huống có vấn đề Phát biểu vấn đề dưới dạng “mâu thuẫn nhận thức”, đó

là mâu thuẫn giữa những cái đã biết với những cái chưa biết và HS muốn tìm tòi để giải quyết vấn đề mâu thuẫn đó

Bước 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

HS đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa ra các phương án và lập kế hoạch để giải quyết vấn đề theo giả thuyết đã đặt ra

Bước 3: Thực hiện kế hoạch

Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề Đánh giá việc thực hiện giả thuyết đặt ra đã đúng chưa, nếu đúng thì chuyển sang bước tiếp theo, nếu như chưa đúng thì quay trở lại bước 2 để chọn giả thuyết khác

Bước 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận

GV tổ chức cho HS rút ra kết luận về cách giải quyết vấn đề trong tình huống đã được đặt ra, từ đó HS lĩnh hội được tri thức, kĩ năng của bài học hoặc vận dụng được những kiến thức, kĩ năng trong môn học để giải quyết vấn đề trong thực tiễn

2.2 Điều kiện sử dụng

Dạy học giải quyết vấn đề có thể phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, HS sẽ huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè

để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất Để có thể áp dụng dạy học giải quyết vấn

đề, GV cần lưu ý:

Trang 5

5

- Tình huống có vấn đề là điều kiện tiên quyết, nếu chưa tạo được tình huống có vấn đề thì việc triển khai sẽ khó mang lại hiệu quả

- GV cần tạo ra tình huống có vấn đề phù hợp, thu hút HS vào quá trình tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề Tuy nhiên, không phải nội dung dạy học nào cũng có thể phù hợp để xây dựng thành tình huống có vấn đề cho HS

- Không nên sử dụng một cách gượng ép mà chỉ nên dùng khi phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất

- Nếu giải quyết vấn đề được sử dụng cho các nhóm, vấn đề cần đủ phức tạp để đảm bảo rằng tất cả các HS là thành viên trong nhóm đều phải làm việc cùng nhau để giải quyết

- Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo PPDH giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có thời gian phù hợp; thời điểm sử dụng cần linh hoạt

- Sử dụng chuỗi các hoạt động học hoặc hệ thống câu hỏi có tầng bậc, càng về sau hoạt động học / câu hỏi càng có tác dụng hé mở những điều cần thiết trong việc giải quyết vấn đề

- Chuỗi các hoạt động học hoặc hệ thống câu hỏi cần gợi lên mâu thuẫn giữa cái

đã biết và cái chưa biết, hướng về vấn đề cần giải quyết

- Nên sử dụng kết hợp với các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác để mang lại hiệu quả cao nhất

- Trong một số trường hợp, cần có thiết bị dạy học và các điều kiện phù hợp để thực hiện hiệu quả phương pháp giải quyết vấn đề

2.3 Xây dựng tình huống có vấn đề

2.3.1 Tạo tình huống có vấn đề

a Tình huống lựa chọn

Tình huống lựa chọn là tình huống GV đặt HS trước một sự lựa chọn rất khó khăn HS được chọn một giải pháp trước hai hay nhiều phương án giải quyết mà cái nào cũng có vẻ như có lí, có sức hấp dẫn Tình huống này đòi hỏi HS phải bộc lộ quan điểm, thái độ của bản thân với mỗi vấn đề được nêu ra

Ví dụ 1: Văn bản “Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam:

GV nêu ra hai tình huống:

Có bạn cho rằng việc Sơn vội vã đi tìm cái Hiên để đòi lại chiếc áo bông cũ đã làm giảm bớt thiện cảm nơi người đọc

Có bạn cho rằng việc Sơn vội vã đi tìm cái Hiên để đòi lại chiếc áo bông cũ vẫn không làm giảm bớt thiện cảm nơi người đọc

Ý em như thế nào ?

Ví dụ 2: Văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” của Nguyễn Ngọc Thuần:

- Giả thuyết người bố trong truyện này đưa ra hai trò chơi, trò chơi nào cũng hấp

dẫn: trò chơi “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” và trò chơi điện tử (intơnét), thì cậu

con trai của ông sẽ chọn trò chơi nào ? Vì sao ?

b Tình huống nghịch lí

Tình huống nghịch lí là những tình huống trái khoáy, ngược đời, trái với lẽ thường Tình huống này đòi hỏi HS phải huy động những kiến thức tổng hợp để lí giải những vấn đề khó khăn mà tác phẩm đặt ra Giải quyết được vấn đề có nghĩa là

HS đã tự nhiên chiếm lĩnh được tri thức Bởi vậy, trong khi dạy học tác phẩm văn học, GV cần chú ý phát hiện tình huống nghịch lí từ những điều trái với tự nhiên, trái với lẽ thường trong cuộc sống và nêu ra để HS tham gia giải quyết Tình huống này

Trang 6

sẽ giúp các em ngộ ra nhiều điều lí thú mới mẻ, bổ ích trong bài học và trong cuộc sống

Ví dụ : Văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” của Nguyễn Ngọc Thuần:

Tại sao bố tôi ít khi nào ăn ổi, nhưng vì bạn Tí, bố ăn ?

c Tình huống nhân quả

Đó là tình huống GV yêu cầu HS đi tìm nguyên nhân của một kết quả, bản chất của một hiện tượng, nguồn gốc quy luật của một sự kiện, động cơ sâu xa của một

hành vi nào đó Tình huống này đòi hỏi HS phải trả lời câu hỏi “Tại sao?” và để trả

lời thấu đáo, các em cần phải thảo luận, tranh luận để đi đến câu trả lời thuyết phục nhất Các em được thể hiện khả năng phán đoán, suy luận của mình trước những tình huống đặt ra

Ví dụ 1: Văn bản “Tức nước vỡ bờ” (trích “Tắt đèn”) của Ngô Tất Tố:

GV dẫn tình huống: Bình thường hằng ngày, một người bốn mươi kí chỉ khuân vác hay gánh khoảng bốn đến năm mươi kí Thế mà trong những năm tháng đánh Pháp, đánh Mĩ, họ có thể gánh đến hơn một tạ kia (Do lòng căm thù giặc sục sôi) Vậy thì sức mạnh quật ngã hai tên tay sai của chị Dậu có được là do đâu ?

Ví dụ 2: Văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”- Nguyễn Ngọc Thuần:

-Tại sao tác giả không đặt nhan đề “Vừa mở mắt vừa mở cửa sổ” mà “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” ?

- Tại sao chúng ta phải “nhắm mắt” mà “không mở mắt” để nhận biết các loài

hoa ?

d Tình huống giả định

Tình huống giả định là tình huống GV nêu ra một số giả thiết nào đó khi phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ vấn đề cần tìm hiểu

Ví dụ 1: Dạy học văn bản “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen:

Nếu em bé bán diêm sống trong xã hội ngày nay thì em bé có chết một cách thương tâm như thế không ?

Ví dụ 2: Dạy học văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”:

- Giả sử thằng Tí biếu cho bố tôi một món quà mua khá nhiều tiền (không phải

“Những trái ổi to được nó lựa để dành cho bố đều có bịch ni lông bọc lại đàng

hoàng Những trái ổi như thế bao giờ cũng vừa to vừa mềm, cắn vào rất đã.”), liệu

rằng bố tôi có nhận không ? Thử lí giải điều này

- Giả sử em là những bông hoa trong khu vườn, em sẽ nói gì với nhân vật “tôi” ? (Cảm ơn cậu bé ! Cậu bé ngoan ngoãn và có tấm lòng thảo thơm Cậu bé có tâm hồn trong sáng, nhạy cảm, tinh tế kì lạ quá !

“Mỗi đứa trẻ đều có một điều kì lạ riêng Có người có một đôi mắt kì lạ Có người có một cái mũi kì lạ Có người lại là một ngón tay” (Nguyễn Ngọc Thuần))

e Tình huống phản bác

Đó là tình huống GV cố tình đưa ra ý kiến sai lệch, thiếu chính xác để HS dùng lập luận bác bỏ ý kiến này và đưa ra ý kiến đúng đắn trên cơ sở nắm vững nội dung bài học Tình huống này đòi hỏi HS dùng lí lẽ và dẫn chứng để phản bác ý kiến sai lệch và thuyết phục mọi người bằng ý kiến đúng

Ví dụ 1: Văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”:

GV tạo tình huống: Thầy đọc truyện này thầy chỉ thấy toàn là trò chơi intơnét mà thôi

-> HS sẽ phản hồi, phản biện lại thầy giáo và HS trong lớp tranh luận

Trang 7

7

Ví dụ 2: Văn bản “Trong lòng mẹ” (trích “Những ngày thơ ấu”) của Nguyên

Hồng:

GV tạo tình huống: Cảnh cậu bé Hồng nằm trong lòng mẹ là một thế giới buồn thỉu buồn thiu

->HS phản hồi, phản biện: “- Dạ, thưa thầy… chúng em không đồng ý ạ! Cảnh cậu bé Hồng nằm trong lòng mẹ là một thế giới diệu kì, tràn ngập ánh sáng, rực rỡ sắc màu, hương hoa thơm ngát Một thế giới đang hồi sinh, bừng nở trở lại Một thế giới dịu dàng kỉ niệm và ăm ắp tình mẫu tử thiêng liêng.”

Ví dụ 3: Văn bản “Cô bé bán diêm”, An-đéc-xen:

GV tạo tình huống: Nỗi khốn khổ khiến người bố trở nên thô bạo với con Chúng

ta có thể thông cảm cho ông bố này

HS phản hồi: …

g Tình huống bế tắc

Tình huống bế tắc là xây dựng tình huống phản hồi của HS, trong đó phải chứa đựng “nút” bế tắc là cho HS thoạt đầu không lấy kiến thức cũ để giải quyết được

Ví dụ: Dạy học văn bản “Lão Hạc” của Nam Cao:

GV: Lão Hạc phải chọn cái chết bởi vì già yếu không làm được gì nữa; đói khổ, túng quẫn, không có lối thoát; thương con; giàu lòng tự trọng Nếu lão sống thêm thì

sẽ ăn vào đồng tiền, vào cái vốn liếng cuối cùng để dành cho con; ăn hết đi thì đến lúc chết lấy tiền đâu mà lo ma chay cho mình, làm phiền hà bà con làng xóm; ăn hết thì dễ để cái đói dồn đẩy vào con đường tha hóa, biến chất (đi ăn trộm, ăn cắp kiểu như Binh Tư hay rạch mặt ăn vạ kiểu như Chí Phèo)

- HS phản hồi: Lão Hạc chọn cái chết là bi quan, yếm thế (bất luận, dẫu cuộc sống nghiệt ngã như thế nào đi chăng nữa cũng không được chết

- HS khác: Đúng vậy, sống vẫn hơn chết Nhà văn Lép Tôn-xtôi có kể:

Một lần ông già đẵn xong củi và mang về Phải mang đi xa ông già kiệt sức, đặt

bó củi rồi nói:

- Chà, giá Thần Chết đến mang ta đi có phải hơn không!

Thần Chết đến và bảo:

- Ta đây, lão cần gì nào ?

Ông già sợ hãi bảo:

- Lão muốn ngài nhấc hộ bó củi lên cho lão

Truyện này khuyên chúng ta phải yêu cuộc sống, dù kiệt sức thì sống vẫn hơn

- HS khác nữa: Vậy, dạ thưa thầy, nếu thầy và các bạn là tác giả của truyện ngắn

“Lão Hạc” thì thầy và các bạn sẽ kết thúc truyện ra sao (để lão Hạc chết hay để lão

Hạc sống) ?

2.3.2 Giáo viên tạo tình huống để học sinh tự đặt câu hỏi tình huống có vấn

đề

Trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề, người nêu và giải quyết vấn đề có thể là

GV, có thể là HS, cũng có thể là GV và HS đồng song hành

Có ông bố rất quan tâm tới việc học của con, hôm nào, đứa con đi học về ông

cũng hỏi: “Hôm nay ở trường, con hỏi thầy được bao nhiêu câu ?” Thế tại sao ông không hỏi: “Hôm nay con học được bao nhiêu điểm ?” ?

Rõ ràng, vấn đề hỏi là vấn đề quan trọng Dạy học hiện nay là phát triển phẩm chất, năng lực Nghĩa là cải tiến việc dạy học theo hướng giúp HS biết cách tự học, tự rèn luyện kĩ năng sống: Học - Hỏi - Hiểu - Hành Quá trình tự học, tự hỏi của HS là quá trình kết hợp sự nỗ lực của người học, chủ yếu là nỗ lực tư duy với sự tranh thủ

Trang 8

tận dụng, khai thác của người học đối với những nguồn lực bên ngoài như SGK, tài liệu, GV, thông tin đại chúng… Như vậy, HS phải học cách hỏi, cách tự hỏi và cách hỏi người khác, qua đó giúp HS “tư duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề”

HS hỏi gắn liền với khái niệm dạy học nêu và giải quyết vấn đề Song, khái niệm này cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Nhiều GV chỉ biết nêu vấn đề để HS suy nghĩ (dưới dạng câu hỏi, bài tập, thảo luận…), từ đó giải quyết vấn đề do chính GV đặt ra, mà chưa chú ý đúng mức đến việc tạo ra “tình huống có vấn đề”, gợi ý để HS phát hiện vấn đề, tìm thấy sự mâu thuẫn trong các vấn đề để kích thích tư duy sáng tạo, độc lập suy nghĩ để giải quyết vấn đề

Ví dụ 1: Văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”:

- GV tạo tình huống (GV bình): Bạn hãy nhắm mặt lại để lắng nghe những âm thanh gần gũi, bình dị, thân thương của cuộc sống vọng về Bạn hãy nhắm mặt lại để lắng nghe những mùi hương quen thuộc của các loài hoa trong khu vườn nhà bạn Bạn hãy nhắm mắt lại để nghe từng tiếng bước chân, từng hơi thở của những người thân trong gia đình Bạn hãy nhắm mắt lại…

- HS đặt câu hỏi ngược lại: Dạ thưa thầy, thưa các bạn… có khi nào bạn nhắm mặt lại mà không thấy, không nghe, không ngửi, không cảm nhận được một điều gì

không ? Nghĩa là “nhắm mắt” mà “không mở được cửa sổ” ?

(Khi tâm hồn ta lụi tàn, úa héo, vô cảm; khi hồn ta chưa rộng mở yêu thương)

Ví dụ 2: (Xem ví dụ nói về cái chết của lão Hạc trên đây)

3 Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong đọc văn bản văn học

Phương pháp giải quyết vấn đề có thể vận dụng ở các tiến trình, các khâu, các hoạt động trong giờ dạy học đọc văn bản: Kiểm tra bài cũ, học bài mới, chuẩn bị ở nhà; trước khi đọc, trong khi đọc, sau khi đọc; khởi động, khám phá (hình thành kiến thức mới), luyện tập (vận dụng), mở rộng…

III KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Hi vọng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề sẽ góp phần vào việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực cho HS Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này như thế nào cho có hiệu quả cần cân nhắc sao cho hợp lí, linh hoạt

Thưa quý thầy cô giáo! HS là bó đuốc sẵn sàng bốc cháy, thầy châm vào đó một đốm lửa nhỏ song bó đuốc có thể từ đó mà bùng lên thành ngọn lửa và ánh sáng toả chiếu rạng ngời Nếu người thầy biết khơi gợi, giải thích, tìm ra cách học cho HS, đồng thời biết yêu cầu vừa phải đối với HS, thì từ những nhận thức và năng lực đầu tiên còn nhỏ bé, HS có thể nhanh chóng và phấn khởi vươn lên trình độ cao Tri thức văn hoá và khoa học bao giờ cũng là tiếng gọi từ trên cao, những tiếng gọi đầy sức quyến rũ và hấp dẫn để HS nô nức tiến lên, thậm chí bay lên Sứ mệnh của các thầy

cô giáo sở dĩ cao quý là vì mình là những người khơi gợi nguồn say mê tìm tòi, sáng tạo nơi HS Không cần các thầy cô giáo phải là những bậc tài năng lỗi lạc để làm công việc đó Chỉ cần thầy cô giáo là những người luôn luôn cố gắng và say mê tìm tòi, sáng tạo trong những nhiệm vụ giảng dạy bình thường của mình thì cũng sẽ có tác động mạnh mẽ và tốt đẹp đối với HS

TỔ VĂN - SỬ - ĐỊA

TRƯỜNG THCS PHAN CHÂU TRINH

Ngày đăng: 10/10/2022, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w