1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quản trị sản xuất chuong1 tổng quan về quản trị sản xuất

19 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 168,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Mục tiêu cụ thể: - Đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng nhu cầu của khách hang - Giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm xuống mức thấp nhất - Rút ngắn thời gian sản

Trang 1

BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

1 Mục đích nghiên cứu:

Người học nắm bắt được các kiến thức cơ bản và kỹ năng cần thiết về quản trị sản xuất trong doanh nghiệp Cụ thể là các kiến thức về tổng quan quản trị sản xuất và các nội dung chủ yếu của quản trị sản xuất như: Dự báo nhu cầu sản phẩm; Hoạch định sản xuất; Tổ chức sản xuất; Quản trị cung ứng nguyên vật liệu; Quản trị chất lượng sản phẩm và các kỹ năng liên quan đến các nội dung của quản trị sản xuất nêu trên

2 Kết cấu học phần:

Chương 1: Tổng quan về quản trị sản xuất

Chương 2: Dự báo nhu cầu sản phẩm

Chương 3: Hoạch định sản xuất

Chương 4: Tổ chức sản xuất

Chương 5: Quản trị cung ứng nguyên vật liệu

Chương 6: Quản trị chất lượng sản phẩm

3 Tài liệu tham khảo

[1] Bài giảng quản trị sản xuất, Bộ môn Quản trị DNTM, Trường Đại học Thương mại [2] Trương Đức Lực, Nguyễn Đình Trung, Quản trị tác nghiệp, NXB Đại học Kinh tế

quốc dân, năm 2011

[3] Nguyễn Thanh Liêm, Quản trị sản xuất, NXB Tài chính, năm 2006

[4] Trần Đức Lộc và Trần Văn Phùng, Quản trị sản xuất và tác nghiệp, NXB Tài

chính, năm 2008

[5] Đồng Thanh Phương, Quản trị sản xuất và dịch vụ, NXB Thống kê, năm 2005

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

1.1 Khái niệm, vai trò và mối quan hệ giữa quản trị sản xuất với các lĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về quản trị sản xuất

a Khái niệm sản xuất

+ Theo quan niệm cũ: Sản xuất là quá trình tạo ra các sản phẩm vật chất hữu hình

Ví dụ: Quá trình sản xuất ra các sản phẩm như quần áo, giường tủ, ô tô, xe máy… các sản phẩm này là hữu hình

+ Theo quan niệm mới: Sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào, biến chúng thành đầu ra dưới dạng sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ…

Ví dụ: Doanh nghiệp triển khai các hoạt động cung ứng các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, nhiên liệu, lao động, dịch vụ…), đồng thời thông qua công nghệ và các phương tiện kỹ thuật để chuyển hóa các yếu tố này thành các sản phẩm hay dịch vụ

Như vậy, theo quan niệm này thì sản xuất không đơn thuần là việc chế biến các nguyên nhiên vật liệu để tạo ra các sản phẩm hữu hình (như quan niệm cũ)

Cũng theo quan niệm mới thì sản xuất cần được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm cả hoạt động tạo ra sản phẩm hoặc quá trình cung cấp dịch vụ Vì vậy, nó còn được gọi là “tác nghiệp” hay “hoạt động tác nghiệp”

b Khái niệm quản trị sản xuất

Quản trị sản xuất là quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát hệ thống sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu sản xuất đã xác định

Từ khái niệm nêu trên cho thấy:

- Quản trị sản xuất là một quá trình bao gồm các hoạt động quản trị (theo chức năng) như lập kế hoạch (hay hoạch định) sản xuất; tổ chức triển khai hoạt động sản xuất; kiểm soát hoạt động sản xuất

Trang 3

- Trong doanh nghiệp, hoạt động sản xuất được coi là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố cấu thành và có quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau, như các yếu tố đầu vào, đầu ra, thông tin, quá trình biến đổi yếu tố đầu vào thành đầu ra, các yếu tố ngẫu nhiên khác… Các yếu tố này bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác, ví dụ như trong yếu tố đầu vào có các yếu tố như nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, công nghệ và máy móc trang thiết bị, địa điểm, lao động, thông tin… Đây là những nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất và đòi hỏi phải được sử dụng và khai thác hợp lý và có hiệu quả cao

Quản trị sản xuất hướng tới việc thực hiện các mục tiêu sản xuất của doanh nghiệp đã được xác định và thể hiện trong kế hoạch sản xuất, đồng thời qua đó góp phần thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ như mục tiêu đảm bảo cung cấp đầu ra cho doanh nghiệp; thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường; đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ; giảm chi phí sản xuất… (xem mục 1.1.2)

1.1.2 Mục tiêu và vai trò của quản trị sản xuất

a Mục tiêu của quản trị sản xuất

+ Mục tiêu tổng quát: Đảm bảo tạo ra và cung cấp đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ (đầu ra) cho doanh nghiệp, trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào, đồng thời thỏa mãn tối đa nhu cầu của thị trường về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp

+ Mục tiêu cụ thể:

- Đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng nhu cầu của khách hang

- Giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm xuống mức thấp nhất

- Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hay dịch vụ

- Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp mang tính năng động, linh hoạt cao

- Xây dựng hệ thống quản trị sản xuất của doanh nghiệp gọn nhẹ và hiệu quả với các phương pháp quản trị phù hợp

b Vai trò của quản trị sản xuất

Trang 4

Xuất phát từ vị trí và vai trò của hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp, quản trị sản xuất là một trong những hoạt động quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, là khâu quan trọng nhất trong việc tạo ra sản phẩm, định vị về giá trị gia tăng trong doanh nghiệp, quản trị sản xuất có một số vai trò như sau:

+ Góp phần quyết định trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị gia tăng cho doanh nghiệp Bởi vì quản trị sản xuất được thực hiện tốt sẽ đảm bảo hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, tạo ra được những sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh việc tăng doanh thu và tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp

+ Quản trị sản xuất tốt sẽ góp phần sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

+ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu Từ

đó tạo ra thương hiệu cho sản phẩm, uy tín, sức cạnh tranh cho doanh nghiệp…

+ Quản trị sản xuất trong các doanh nghiệp được thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng và chủ yếu vào việc tăng trưởng kinh tế cho nền kinh tế quốc dân thông qua việc tạo ra giá trị gia tăng, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất để thúc đẩy xã hội phát triển

1.1.3 Mối quan hệ giữa quản trị sản xuất với các lĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp

a Những cơ sở của việc xác định nghiên cứu và giải quyết mối quan hệ

+ Quan điểm tiếp cận hệ thống: Theo quan điểm này, các hoạt động chức năng

và quản trị chức năng trong doanh nghiệp là những bộ phận cấu thành hệ thống doanh nghiệp và hệ thống quản trị doanh nghiệp Do vậy, chúng có mối quan hệ mật thiết, biện chứng và chi phối lẫn nhau, vừa mang tính thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy nhau cùng phát triển, lại vừa tiềm ẩn những mâu thuẫn với nhau

Ví dụ: Các hoạt động chức năng như sản xuất, thương mại, marketing, tài chính, nhân lực… tạo nên hệ thống hoạt động sản xuất kinh doanh (hay hệ thống doanh nghiệp),

Trang 5

tương ứng là các hoạt động quản trị sản xuất, quản trị tác nghiệp thương mại, quản trị marketing, quản trị tài chính, quản trị nhân lực… sẽ tạo nên hệ thống quản trị doanh nghiệp

+ Cùng hướng tới việc thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp và mục tiêu của quản trị doanh nghiệp: Các hoạt động chức năng và quản trị theo chức năng trong doanh nghiệp, mặc dù có mục tiêu chuyên biệt song đều hướng tới và góp phần thực hiện mục tiêu chung của hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị kinh doanh trong doanh nghiệp Để thực hiện mục tiêu chung, các hoạt động quản trị chức năng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất và không đối lập nhau, mặc dù có thể có những mâu thuẫn nhau trong quá trình triển khai thực hiện

+ Các hoạt động chức năng và quản trị theo chức năng trong doanh nghiệp cùng chịu sự chi phối và hướng dẫn của chiến lược kinh doanh và hoạt động quản trị chiến lược kinh doanh trong mỗi giai đoạn và thời kỳ phát triển của doanh nghiệp Sự phối hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị theo từng lĩnh vực sẽ tạo điều kiện và góp phần thực hiện chiến lược kinh doanh và đạt mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp

b Nội dung của mối quan hệ giữa quản trị sản xuất với các lĩnh vực quản trị chức

năng khác trong doanh nghiệp

Nhìn chung, từ những cơ sở của việc xác định, nghiên cứu và giải quyết mối quan hệ giữa các hoạt động chức năng và quản trị chức năng nêu trên, các lĩnh vực quản trị chức năng của doanh nghiệp đều có mối quan hệ biện chứng, mật thiết, phụ thuộc và chi phối lẫn nhau Tuy nhiên, trong phạm vi cho phép và dựa và tầm quan trọng của các quan hệ này, có thể nhận thấy mối quan hệ giữa quản trị sản xuất với quản trị marketing, quản trị tài chính và quản trị rủi ro cần được nhà quản trị sản xuất quan tâm nhiều nhất

Thứ nhất, mối quan hệ giữa quản trị sản xuất và quản trị marketing, mối quan

hệ này được thể hiện thông qua việc hoạt động marketing và công tác quản trị marketing nếu được thực hiện tốt sẽ đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về thị trường, khách hàng cho việc xây dựng kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm

Trang 6

các thông tin liên quan đến nhu cầu thị trường, về sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp

đã hoặc sẽ sản xuất và cung ứng ra thị trường cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, nhu cầu sản phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm; những thông tin về khả năng cung cấp sản phẩm của thị trường hay các đối thủ cạnh tranh; thông tin về mức độ cạnh tranh sản phẩm… Từ những thông tin này, các nhà quản trị sản xuất sẽ dự báo được nhu cầu sản phẩm, thiết kế sản phẩm, xây dựng kế hoạch sản xuất và lựa chọn các phương án liên quan đến giá thành sản phẩm, công suất và địa điểm sản xuất… Ngược lại, hoạt động sản xuất và quản trị sản xuất sẽ đảm bảo tạo ra và cung cấp sản phẩm, dịch vụ theo yêu cầu của hoạt động marketing và thúc đẩy việc thực hiện tốt mục tiêu marketing của doanh nghiệp Như vậy, việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa quản trị sản xuất và quản trị marketing sẽ giúp doanh nghiệp tránh được sự lãng phí về thời gian và nguồn lực do việc sản xuất và đưa ra thị trường những sản phẩm lỗi thời, chất lượng kém hoặc sản xuất một khối lượng sản phẩm vượt quá nhu cầu thị trường, gây ứ đọng do không tiêu thụ được… Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ hai, mối quan hệ giữa quản trị sản xuất và quản trị tài chính, mối quan hệ

này được thể hiện thông qua việc hoạt động tài chính và công tác quản trị tài chính đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu tài chính cho hoạt động sản xuất, như các khoản tài trợ tài chính cho việc mua sắm các máy móc, trang thiết bị, đổi mới công nghệ, cho việc mua nguyên vật liệu, nhiên liệu, dịch vụ… cho hoạt động sản xuất được diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn, đồng thời cung cấp các thông tin về chi phí sản xuất để xây dựng kế hoạch giá thành sản phẩm, triển khai các biện pháp quản lý chi phí và giá thành một cách hiệu quả Ngược lại, hoạt động sản xuất và quản trị sản xuất

sẽ tạo ra các sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tốt nhất, chi phí sản xuất thấp nhất, hạ giá thành và giá bán sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm, từ đó tăng nguồn đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho việc xây dựng và thực hiện ngân sách được tốt hơn Giải quyết tốt mối quan hệ giữa quản trị sản xuất và quản trị tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng

Trang 7

cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, tăng cường đầu tư tài chính cho việc phát triển sản xuất để thực hiện tốt hơn các mục tiêu của quản trị sản xuất

Thứ ba, mối quan hệ giữa quản trị sản xuất và quản trị rủi ro, mối quan hệ này

được thể hiện qua việc thực hiện tốt các nội dung chủ yếu của quản trị rủi ro là phòng ngừa và khắc phục rủi ro trong hoạt động sản xuất, đảm bảo cho hoạt động sản xuất tránh được rủi ro, giảm thiểu rủi ro, khắc phục kịp thời những hậu quả mà rủi ro gây ra

để phục hồi sản xuất, hạn chế đến mức thấp nhất việc gián đoạn sản xuất, giảm chất lượng sản phẩm, giảm năng suất lao động mà rủi ro gây ra Ngược lại, hoạt động sản xuất và quản trị sản xuất được thực hiện tốt, theo đúng kế hoạch, lịch trình, quy trình sản xuất… sẽ giúp cho công tác quản trị rủi ro thuận lợi hơn trong việc triển khai thực hiện và đạt được mục tiêu đã đề ra, nhất là trong điều kiện môi trường hoạt động của doanh nghiệp có nhiều biến động và có những ảnh hưởng tiêu cực không lường trước được Việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa quản trị sản xuất và quản trị rủi ro như phân tích ở trên sẽ giúp cho doanh nghiệp ổn định sản xuất, vượt qua được những khó khăn, thử thách và phát triển bền vững trong tương lai

Trên đây là mối quan hệ giữa quản trị sản xuất và một số lĩnh vực quản trị khác tiêu biểu trong doanh nghiệp Qua phân tích cho thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ

và thống nhất với nhau về căn bản, tuy nhiên, cũng phải thấy rằng chúng cũng có những mâu thuẫn tiềm ẩn và có thể làm nảy sinh những tác động tiêu cực đến mối quan hệ Chẳng hạn như giữa quản trị sản xuất và quản trị marketing lại có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau về thời gian cung ứng sản phẩm ra thị trường, về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, về giá cả sản phẩm… Trong khi quản trị marketing đòi hỏi phải có những sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ, thời hạn giao hàng nhanh chóng thì quản trị sản xuất lại có những giới hạn về công nghệ, về chu kỳ sản xuất, khả năng tiết kiệm chi phí nhất định… Trong mối quan hệ với lĩnh vực quản trị tài chính, quản trị sản xuất không phải lúc nào cũng đáp ứng được các mục tiêu tài chính đặt ra vì những

lý do nêu trên và ngược lại, những yêu cầu của quản trị sản xuất về đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa hệ thống máy móc, trang thiết bị, sắp xếp lại hệ thống sản xuất… không phải lúc nào cũng được đáp ứng từ lĩnh vực quản trị tài chính của doanh

Trang 8

nghiệp Những mâu thuẫn nêu trên có thể do những nguyên nhân khách quan song cũng có thể do những nguyên nhân chủ quan Từ đó cho thấy các lĩnh vực quản trị trong doanh nghiệp nói chung, các lĩnh vực quản trị sản xuất, quản trị marketing, quản trị tài chính, quản trị rủi ro nói riêng phải có sự phân công và hợp tác để có sự phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau, khắc phục những mâu thuẫn như đã phân tích ở trên

1.2 Lịch sử và xu hướng phát triển của lý thuyết quản trị sản xuất

1.2.1 Lịch sử phát triển các lý thuyết quản trị sản xuất

Lịch sử phát triển của lý thuyết quản trị sản xuất được thể hiện qua các tư tưởng khoa học về quản trị sản xuất, đó là:

+ Sản xuất thủ công: Là quá trình tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng riêng lẻ dựa trên lao động thủ công

+ Phân chia lao động: Là quá trình sản xuất các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ dựa trên

sự chuyên môn hóa trong lao động, chia nhỏ một công việc thành một loạt các nhiệm

vụ nhỏ được thực hiện bởi những nhân viên khác nhau

+ Những phần có thể hoán đổi cho nhau: Là quá trình tạo ra những bộ phận, những chi tiết của sản phẩm được tiêu chuẩn hóa để có thể hoán đổi, lắp ghép lẫn nhau và đồng

bộ hóa sản phẩm, tạo điều kiện cho việc sản xuất đại trà

Ví dụ: Sản xuất các linh kiện, phụ tùng để lắp ráp ô tô theo dây chuyền sản xuất.

+ Quản lý khoa học: Là quá trình tổ chức lao động khoa học dựa trên các phương pháp làm việc có khoa học

Ví dụ: Phương pháp tổ chức lao động khoa học của F.W.Taylor

+ Sản xuất đại trà: Là quá trình sản xuất các sản phẩm được tiêu chuẩn hóa với khối lượng lớn để cung ứng cho một thị trường rộng lớn

Ví dụ: Hãng sản xuất xe ô tô Toyota Nhật bản hàng năm sản xuất hàng triệu chiếc xe ô

tô để cung cấp cho thị trường thế giới (tại trên 120 quốc gia)

+ Sản xuất linh hoạt: Là quá trình sản xuất đại trà song có sự thích ứng cao với nhu cầu thị trường, linh hoạt trước những biến đổi của thị trường và đề cao chất lượng sản phẩm

Trang 9

Ví dụ: Sản xuất nhiều dòng sản phẩm, nhiều chủng loại, mẫu mã với chất lượng tối ưu

để đáp ứng nhu cầu của các thị trường khác nhau (theo khu vực địa lý và theo tập khách hàng)

Lịch sử phát triển của lý thuyết quản trị sản xuất hay của các tư tưởng quản trị hiện đại còn được thể hiện qua những cống hiến, đóng góp cho khoa học quản lý nói chung và quản trị sản xuất nói riêng của các nhà khoa học, các tư tưởng gia về lĩnh vực này trong suốt 3 thời kỳ qua Đó là:

+ Eli Whitney (1765 – 1825): Là người đại diện tiêu biểu cho quan điểm sản xuất ra những bộ phẩn của sản phẩm có thể thay thế, lắp ráp, hoán đổi cho nhau, tạo điều kiện cho việc sản xuất đại trà với khối lượng lớn sản phẩm được tạo ra trên những dây chuyền sản xuất

Ví dụ: Năm 1798, ông nhận được một hợp đồng của Chính phủ chế tạo 10.000 khẩu

súng Qua việc thực hiện hợp đồng này, ông đã chứng minh được những máy móc, công cụ có thể tạo ra các chi tiết được tiêu chuẩn hóa theo đúng chi tiết kỹ thuật và có thể được lắp ráp vào bất kỳ khẩu súng nào cùng loại

+ Frederick W Taylor (1856 – 1915): Là người sáng lập ra trường phái quản lý khoa học, là “cha đẻ” của học thuyết “cơ cấu và chế độ” Theo học thuyết của ông thì việc tổ chức lao động dựa trên cơ sở chuyên môn hóa cao trong phân công lao động sẽ tạo ra năng suất lao động cao, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động

Ví dụ: Năm 1881, ông là kỹ sư trưởng cho công ty thép Midvale, nghiên cứu nhiệm vụ

được hoàn thành trên cơ sở của sự phân công chuyên môn hóa trong lao động, về hoàn thiện công tác, thao tác trong quá trình làm việc của người lao động để giảm thiểu thời gian hao phí lao động và nâng cao hiệu quả làm việc của họ

+ Frank & Lillian Gilbreth: Frank (1868 – 1924), Lillian (1878 – 1972) là 2 vợ chồng

và đều là kỹ sư, họ là những người đã phát triển thêm những phương pháp đo lường công việc, áp dụng những phương pháp hiệu suất tại chính ngôi nhà của họ với 12 đứa trẻ

Trang 10

+ Henry Ford (1863 – 1947): Là người áp dụng lần đầu tiên dây chuyền sản xuất, lắp ráp để tạo ra chiếc xe ô tô model T Trên dây chuyền lắp ráp này, các sản phẩm chưa hoàn thiện (bán thành phẩm) được di chuyển bằng băng chuyền tới công đoạn cuối cùng và tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh Ông cũng là ngư ời áp dụng chính sách trả lương cao cho nhân viên ở thời kỳ đó

+ W Edwards Deming (1900 – 1993): Ông là kỹ sư, nhà vật lý nổi tiếng trong giảng dạy phương pháp kiểm soát chất lượng Nhật Bản sau thế chiến thứ 2, sử dụng con số thống kê để phân tích quy trình, áp dụng phương pháp ra quyết định với sự tham gia của nhân viên

1.2.2 Xu hướng phát triển các lý thuyết quản trị sản xuất

+ Chú trọng hình thành và quản trị chiến lược sản xuất trong định hướng chiến lược chung của doanh nghiệp

+ Tập trung xây dựng hệ thống sản xuất năng động, linh hoạt

+ Tăng cường các kỹ năng quản trị sự thay đổi

+ Đảm bảo chất lượng toàn diện

+ Tìm kiếm và ứng dụng các phương pháp quản lý hiện đại như các phương pháp J.I.T, Kaisen, MRP, ISO, TQM…

+ Khai thác tiềm năng vô tận của con người, tạo ra sự tích cực, chủ động sáng tạo và tự giác trong hoạt động sản xuất

+ Tổ chức lại sản xuất theo hướng rút ngắn thời gian sản xuất, tạo lợi thế cạnh tranh về thời gian

+ Quan tâm thích đáng đến phát triển bền vững, sản xuất thân thiện với môi trường

1.3 Các nội dung chủ yếu của quản trị sản xuất

1.3.1 Dự báo nhu cầu sản phẩm

- Là nội dung đầu tiên và được coi là xuất phát điểm của quản trị sản xuất

- Dự báo nhu cầu sản phẩm là dự kiến, đánh giá nhu cầu tương lai của các sản phẩm, giúp doanh nghiệp xác định được chủng loại và số lượng sản phẩm cần có trong tương lai Kết quả dự báo nhu cầu sản phẩm là cơ sở cho việc đưa ra những quyết định về

Ngày đăng: 10/10/2022, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w