SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐỀ TÀI: "ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM NÂNG CAO KỸ THUẬT GIAI ĐOẠN GIỮA QUÃNG CỦA MÔN CHẠY 100M CHO HỌC SINH NAM KHỐI 10 TRƯỜNG THPT"... Để góp phần vào việc g
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM NÂNG CAO KỸ
THUẬT GIAI ĐOẠN GIỮA QUÃNG CỦA MÔN CHẠY 100M CHO
HỌC SINH NAM KHỐI 10 TRƯỜNG THPT"
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ.
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa với mục đích dângiàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Thì nhân tố nhân lực đóng một vai trò
hết sức quan trọng, mà thể dục thể thao là một phương tiện cơ bản nhất để đào tạo và bồi
dưỡng nên nguồn nhân lực đó Nó có liên quan đến sự nghiệp đào tạo cho đất nước
những con người có đầy đủ những phẩm chất về đức, trí, thể, mĩ Mác và Ăng- ghen
từng nói: “Sự kết hợp giữa trí dục và thể dục với lao động sản xuất không chỉ là phương
tiện để nâng cao năng suất mà còn là phương thức cơ bản nhất để đào tạo ra những con
người phát triển toàn diện”.
Điền kinh bao gồm nhiều môn thi đấu Trong đó, chạy nói chung và chạy cự li 100m nói
riêng, là môn học được tập luyện và thi đấu khá phổ biến và rộng rãi ở các trường phổ
thông, các hội khoẻ Phù đổng từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên thành tích chạy
100m của học sinh Việt Nam so với khu vực và thế giới còn khá khiêm tốn Bởi vậy mà
việc giảng dạy môn chạy cự li ngắn cho học sinh trong nhiều năm qua đã được chú trọng
song vẫn còn phải khắc phục khá nhiều khó khăn
Như chúng ta đã biết, trong học tập và thi đấu điền kinh nói chung và chạy cự lingắn nói riêng đòi hỏi sự căng thẳng thần kinh và nỗ lực cơ bắp lớn.Thông qua đó mà tập
luyện làm cho con người phát triển toàn diện hơn Tập luyện chạy cự li ngắn (100m) có
tác dụng rất lớn đến việc phát triển các tố chất thể lực, đặc biệt là sức mạnh, sức nhanh
Mà chạy 100m là một môn thi đấu, có đặc điểm kỹ thuật trên từng cự li được chia thành 4
giai đoạn Đó là: Giai đoạn xuất phát, Chạy lao sau xuất phát, Chạy giữa quãng, Chạy về
đích Trong đó giai đoạn chạy giữa quãng là giai đoạn có kỹ thuật hoàn chỉnh nhất, chiếm
quãng đường và thời gian dài nhất Cho nên nó là giai đoạn quan trọng nhất quyết định
đến thành tích Do đó trong giảng dạy áp dụng những bài tập bổ trợ nhằm nâng cao kỹ
thuật chạy giữa quãng và cho học sinh tập luyện là cần thiết để nâng cao thành tích và
làm phong phú thêm phương tiện giáo dục thể chất trong trường phổ thông
Tuy nhiên ở nước ta, việc áp dụng các phương tiện, phương pháp tập luyện tiên tiếntrong giảng dạy và huấn luyện còn hạn chế Bởi nhiều nguyên nhân: cơ sở vật chất, trình
độ chuyên môn và khả năng sáng tạo của giáo viên cho nên hình thức, phương pháp
giảng dạy của giáo viên cũng như cách lĩnh hội của học sinh chưa đa dạng và phong phú,
dẫn đến tinh thần học tập của học sinh chưa tự giác tích cực làm chất lượng giáo dục thể
chất ở trường phổ thông kém
Trang 3Để góp phần vào việc giải quyết các tồn tại trên vấn đề đặt ra là phải nghiên cứuđưa ra một số bài tập bổ trợ sao cho phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao thành
tích môn chạy 100m trong chương trình giảng dạy ở các trường phổ thông
Xuất phát từ mục đích trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài "Ứng dụng một
số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao kỹ thuật giai đoạn giữa quãng của môn chạy 100m
cho nam học sinh khối 10 trường THPT Cẩm Thuỷ I ,Thanh Hoá".
khoa học, làm phong phú thêm phương tiện giáo dục thể chất giúp cho quá trình giảng
dạy của giáo viên và học tập của học sinh đạt kết quả cao
II TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ SINH LÝ CỦA TỐ CHẤT SỨC MẠNH TỐC ĐỘ:
1.1 Cơ sở lý luận:
* Sức mạnh tốc độ: Được thực hiện ở những hoạt động nhanh và khắc phục trọng
tải Trong đó lực và tốc độ có mối tương quan tỷ lệ nghịch với nhau
Dựa vào cơ sở khoa học vừa nêu ra mà chúng ta định hướng cho việc hình thànhnội dung các bài tập sức mạnh tốc độ như sau:
Sử dụng các bài tập có trọng lượng nhỏ yêu cầu tốc độ nhanh liên tục Đối với độtuổi học sinh THPT đặc điểm giới tính càng rõ nét nên cường độ và khối lượng tập luyện
phải được phân biệt rõ ràng giữa nam và nữ
* Sức nhanh tốc độ:
Nhìn chung năng lực tốc độ của con người mang tính chất chuyên biệt khá rõ rệt,việc chuyển hoá của sức nhanh chỉ diễn ra trong tác động tác tương tự vệ tính chất hoạt
động, có thể chuyển hoá ở giai đoạn đầu của người mới tập, còn ở những nơi có trình độ
tập luyện cao hầu như việc chuyển hoá sức nhanh không diễn ra Để phát triển sức nhanh
tốc độ (tần số động tác) người ta sử dụng các bài tập phát huy được tốc độ tối đa các bài
Trang 4tập có chu kỳ Phương pháp sử dụng ngắn chủ yếu vẫn là phương pháp lặp lại, tăng và
biến đôỉ cự li Cần lựa chọn sao cho tốc độ không giảm đi vào giai đoạn cuối của bài tập
Ở lứa tuổi THPT việc phát triển tốc độ và sức mạnh tốc độ đã phổ biến, bên cạnh
đó còn sử dụng đến sức bền, mềm dẻo và sự khéo léo, chúng cũng ảnh hưởng rất nhiều
đến môn chạy nói chung và chạy cự li ngắn nói riêng Vì vậy sự kết hợp hài hoà giữa các
tố chất kể trên với kỹ thuật tác động là một vấn đề cơ bản để nâng cao thành tích
1.2 Cơ sở sinh lý:
* Sức nhanh: Là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất.
* yếu tố quyết định tốc độ của dạng sức nhanh đó là:
+ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh.
+ Tốc độ co cơ
* Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh tốc độ:
+ Tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn chuyền của hưng phấn ở trung ương thầnkinh và bộ máy vận động
+Tăng cường phối hợp giữa các sợi cơvà các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng
Bởi vậy để phát triển sức nhanh tốc độ cần phải áp dụng các bài tập có trong lượngnhỏ, tốc độ tần số cao thời gian ngắn Ngoài ra còn sử dụng phương pháp lặp lại và biến
đổi thì sẽ cải thiện được tốc độ của người tập
2 NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT CỦA MÔN CHẠY :
Theo cơ học một vật chuyển động tịnh tiến hợp với mặt phẳng nằm ngang thìquãng đường (S) được tính theo công thức:
S = V.t (1)Trong đó S: là quảng đường (cự li) đơn vị tính bằng (m)
V: là vận tốc chuyển động đơn vị tính bằng (m/s)t: là thời gian chuyển động của vật tính bằng (s)
Từ công thức này áp dụng vào thực tế có chu kỳ, trong đó thành tích của chạy đượctính bằng thời gian (s) hoạt động trên một cự li nhất định, cho nên từ (1) ta có:
t = V S (2)
Trang 5Từ (2) ta thấy (t) và (s) luôn có mối tương quan tỷ lệ thuận với nhau, còn (t) và (V)thì luôn có mối tương quan tỷ lệ nghịch với nhau mà trong chay (t) càng nhỏ thì thành
tích càng tốt, vì vậy để có thành tích tối ưu trong chạy thì tốc độ phải lớn (Vmâx)
Theo cơ học áp dụng vào thực tế môn chạy thì vận tốc của chạy được tính theo
công thức: V = T.L (3)
Trong đó: V: là vận tốc chạy
T: là tần số bước chạyL: Là độ dài bước chạy
Từ (3) ta thấy, nếu vận tốc cùng với tần số và độ dài bước chạy có mối tương quan
tỷ lệ thuận với nhau, tần số và độ dài bước chạy càng lớn thì tốc độ càng lớn từ đó sẽ rút
ngắn được thời gian chạy làm cho thành tích được nâng cao Cho nên trong huấn luyện và
giảng dạy môn chạy cần phải lựa chọn các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao phát triển tần số
và độ dài bước chạy, có vậy mới đem lại thành tích tối ưu, cho nên sử dụng phương pháp
tập luyện lập lại, các bài tập có chu kỳ tốc độ cao thời gian và cự li ngắn, chú ý thực hiện
tăng lên về số lần và giảm thời gian
3 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỨA TUỔI HỌC SINH THPT:
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đầu thanh niên là thời đạt được sự trưởng thành
về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát trỉen cơ thể của người
lớn, có nghĩa ở lứa tuổi này cơ thể các em đang phát triển mạnh, khả năng hoạt động của
các cơ quan và các bộ phận cơ thể được nâng cao cụ thể là:
* Hệ vận động:
- Hệ xương: ở lứa tuổi này cơ thể các em phát triển một các đột ngột về chiều dài,
chiều dày, hàm lượng các chất hữu cơ trong xương giảm do hàm lượng Magic, Photpho,
Canxi trong xương tăng Quá trình cốt hoá xương ở các bộ phận chưa hoàn tất Vì vậy mà
trong quá trình giảng dạy cần tránh cho học sinh tập luyện với dụng cụ có trọng lượng
quá nặng và các hoạt động gây chấn động quá mạnh
- Hệ cơ: Ở lứa tuổi này cơ của các em phát triển với tốc độ nhanh để đi đến hoàn
thiện, nhưng phát triển không đều và chậm hơn so với hệ xương Cơ to phát triển nhanh
hơn cơ nhỏ, cơ chi phát triển nhanh hơn cơ dưới, khối lượng cơ tăng lên rất nhanh, đàn
tích cơ tăng không đều, chủ yếu là nhỏ và dài Do vậy khi cơ hoạt động chóng dẫn đến
mệt mỏi Vì vậy khi tập luyện giáo viên giảng dạy cần chú ý phát triển cơ bắp cho các
em
* Hệ thần kinh:
Trang 6Ở lứa tuổi này hệ thống thần kinh trung ương đã khá hoàn thiện, hoạt động phântích trên võ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn Khả năng nhận hiểu cấu trúc động
tác và tái hiện chính xác hoạt động vận động được nâng cao
* Hệ hô hấp:
Ở lứa tuổi này, phổi các em phát triển mạnh nhưng chưa đều, khung ngực còn nhỏ,hẹp nên các em thở nhanh và lâu không có sự ổn định của dung tích sống, không khí, đó
chính là nguyên nhân làm cho tần số hô hấp của các em tăng cao khi hoạt động và gây
nên hiện tượng thiếu ôxi, dẫn đến mệt mỏi
* Hệ tuần hoàn:
Ở lứa tuổi này, hệ tuần hoàn đang trên đà phát triển để kịp thời phát triển toàn thân,tim lớn hơn, khả năng co bóp của cơ tim phát triển mạnh, do đó nâng cao khá rõ lưu
lượng máu/phút Mạch lúc bình thường chậm hơn (tiết kiệm hơn), nhưng khi vận động
căng thì tần số nhanh hơn Phản ứng của tim đối với các lượng vận động thể lực đã khá
chính xác, tim trở nên hoạt động dẻo dai hơn
Từ những đặc điểm tâm sinh lý mà ta lựa chọn một số các bài tập trên căn bản khốilượng cường độ, vận động sao cho phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học phổ thông,
đặc biệt khi áp dụng các bài tập căn cứ vào tình hình tiếp thu kỹ thuật và đặc điểm thể lực
phù hợp với tâm sinh lý học sinh để cho quá trình giảng đạy dạt kết quả cao, giúp cho các
em học sinh trở thành những con người phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần
Đồng thời nâng cao kết quả học tập, lôi cuốn các em hăng say tập luyện và thi đấu ở
trường phổ thông
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :
Để nghiên cứu đề tài này các nhiệm vụ sau được đặt ra:
Trang 7Ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao kỹ thuật giai đoạn “giữa quãng” củamôn chạy 100m cho nam học sinh khối 10 để rút ra kết luận.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, các phương pháp sau được đặt ra
2.1 Phương pháp đọc tài liệu tham khảo:
Trong quá trình giải quyết đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những tài liệu chuyênmôn có liên quan đến đề tài để nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như tham khảo một số chỉ
số về thể chất như sau:
- Sách giáo khoa lý luận và phương pháp giáo dục thể chất
- Sách giáo khoa sinh lý học thể dục thể thao
- Học và tiếp thu chuyên đề thay sách
- Dự các tiết dạy mẫu giáo viên giỏi
- Giáo trình giảng dạy điền kinh
- Một số luật điền kinh
Tư thế chuẩn bị: Đối tượng ở tư thế xuất phát cao
Cách thực hiện: Đối tượng chạy với tốc độ tối đa
Cách đo: Tính thời gian từ lúc xuất phát đến thời điểm chạm đích (đơn vị thànhtích tính bằng giây)
2.2.2 Chạy nâng cao đùi tại chỗ (biểu hiện sức mạnh tốc độ của hai chân):
Tư thế chuẩn bị: Hai chân đứng nghiêm, hai tay thả lỏng tự nhiên, mắt nhìnthẳng
Thực hiện: Chạy nâng đùi cao ngang hông song song với mặt đất giữa cảng chânvới đùi tạo thành một góc 900, tiếp xúc đất bằng 1/2 bàn chân phía trước, tay thả lỏng tự
nhiên
Cách đo: Tính số lần thực hiện động tác trong vòng 30 giây
Trang 82.2.3 Bật xa tại chỗ bằng hai chân (biểu hiện sức mạnh của hai chân):
Tư thế chuẩn bị: Hai chân đứng chụm vào nhau hoặc là hai chân đứng rộng bằngvai, tay để tự nhiên
- Nhịp 3: Bật mạnh ra trước, hai tay đáng lăng lên cao, tiếp cát bằng hai chân
Cách đo: Thành tích đo từ điểm đặt chân dậm đến thời điểm rơi gần nhất trên cát(đơn vị tính bằng m)
2.2.4 Đo thành tích chạy 100m của nam học sinh trường THPT Cảm Thuỷ 1.
Tư thế chuẩn bị: Đối tượng chạy xuất phát thấp
Thực hiện: Chạy với tốc độ tối đa
Cách đo: Tính thời gian từ lúc xuất phát đến khi chạm đích (đơn vị tính bằnggiây)
2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và cơ sở sinh lý của môn chạy 100m chúng tôi đã ứng
dụng các bài tập bổ trợ sau đây vào tập luyện.
# Hệ thống các bài tập bổ trợ đã lựa chọn.
2.3.1 Đi bước nhỏ tại chỗ:
* Mục đích: Nâng cao khả năng thả lỏng của cổ chân, giảm lực trống trước khi
Trang 9nhiên mắt nhìn thẳng về trước, luôn chuyển trọng tâm cơ thể sang hai chân liên tục, quá
trình thực hiện trong tâm ít dao động
* Định lượng: Thực hiện từ 2 đến 3 lần, mỗi lần từ 15’’ đến 20’’, thời gian nghỉ
+ Tư thế chuẩn bị:Đứng nghiêm nhìn thẳng, thân người thả lỏng tự nhiên
+ Yêu cầu thực hiện: (Các giai đoạn kỹ thuật)
- Chống trước bằng 1/2 bàn chân phía trên gần với điểm dọi của trọng tâm cơ thể
- Đạp sau chân thẳng, nâng trọng tâm cơ thể lên cao góc độ đạp sau lớn
- Lăng sau không hất gót, chủ yếu nâng đùi lên cao ra trước thân trên thẳng tựnhiên, cẳng chân thả lỏng
Yêu cầu: Thực hiện với tần số nhanh tối đa
* Định lượng: Thực hiện từ 3 – 4 lần/buổi mỗi lần từ 15’’ đến 20’’ thời gian nghỉ
+ Tư thế chuẩn bị: Đứng ở tư thế xuất phát cao
+ Yêu cầu thực hiện: (các giai đoạn kỹ thuật)
- Lăng trước: Đùi nâng cao gần như chạy, cổ chân thả lỏng góc độ giữa đùi và cẳngchân bằng 900
- Chống trước: Tiếp xúc đất bằng 1/2 bàn chân phía trên, nhanh chóng miết về sau
Trang 10- Đạp sau: Nhanh chóng duỗi hết các khớp từ hông đến cổ chân nhất trí với hướngchạy, góc độ đạp sau khoảng 450.
- Lăng sau: Khi kết thúc động tác đạp sau chân đạp duỗi thẳng rồi nhanh chống gậpkhớp gối đưa ra trước không hất gối theo hướng ra trước, thân trên ngả về trước từ 750 –
800, mắt nhìn về trước
Yêu cầu khi thực hiện: Tay đánh tự nhiên chân nọ tay kia và tăng độ dài bước chạy
* Định lượng: Thực hiện bài tập từ 4 – 5 lần x 20m Thời gian nghỉ giữa các lần
thực hiện từ 1 – 2 phút
2.3.4 Tại chỗ thực hiện động tác đánh tay:
* Mục đích: Tăng cường phát triển tần số, bổ trợ cho kỹ thuật giảm lực cản của
không khí
* Yêu cầu thực hiện: Tay đánh từ sau ra trước lên cao theo trục dọc của trọng tâm
cơ thể, trọng tâm cơ thể nhập nhô theo nhịp đánh tay, tốc độ đánh tay nhanh dần đều và
đạt tới tấn số tối đa
* Định lượng: Thực hiện từ 4 – 5 lần/buổi, mỗi lần từ 10 – 15 giây Thời gian nghỉ
giữa các lần là 1 phút
2.3.5 Chạy nâng cao đùi di chuyển 20m:
* Mục đích: Tăng cường và phát triển tần số.
* Yêu cầu thực hiện: Thực hiện với tần số tối đa, bước chạy ngắn, đùi nâng cao, tay
Thực hiện từ 4-5 lần/
buổi Thời gian nghỉ từcác lần là 1- 1,5 phút
Trang 112 Chạy nâng cao đùitại chỗ 5 x x x x x
3 Chạy nâng cao đùidi chuyển 20m 6 x x x x x x
4 Chạy đạp sau dichuyển 20m 5 x x x x x
5 Tại chỗ thực hiệnđộng tác đánh tay 6 x x x x x x
7 Chạy tốc độ 40m,xuất phát cao 4 x x x x
8 Chạy tốc độ 50m,xuất phát cao 5 x x x x x
Trang 129 Chạy tốc độ 60m,xuất phát cao 4 x x x x
Sau khi đã lựa chọn được một số bài tập bổ trợ, chúng tôi tiến hành thực nghiệmtrên 60 nam học sinh khối 10 và số học sinh đó được chia thành 2 nhóm như sau:
+ Nhóm đối chứng (A) gồm 30 nam học sinh tiến hành giảng dạy và tập luyện theophương pháp mà giáo viên ở trường THPT Cẩm Thuỷ1 sử dụng
+ Nhóm thực nghiệm (B) gồm 30 nam học sinh tiến hành giảng dạy và tập luyện
áp dụng các bài tập bổ trợ đã được lựa chọn
Quá trình thực nghiệm được chúng tôi tiến hành trên đối tượng học sinh có cùng độtuổi, cùng giới tính, cùng địa dư và cùng thời gian tập luyện như nhau Mỗi tuần hai buổi,
mỗi buổi từ 10 phút đến 15 phút, đầu buổi hoặc cuối buổi tuỳ thuộc vào nội dung cơ bản
của buổi học Thời gian tập luyện tiến hành trong vòng 7 tuần, mỗi tuần 2 buổi tổng là 14
buổi
Khi xây dựng được tiến trình giảng dạy các bài tập bổ trợ chúng tôi đã biên soạnthang điểm kiểm tra thành tích và kỹ thuật chạy cự li 100m cho nam học sinh khối 10
trường THPT Cẩm Thuỷ1
Thang điểm được trình bày ở bảng 3 dưới đây:
Bảng 3: Thang điểm kiểm tra thành tích và kỹ thuật chạy cự ly 100m của nam học
sinh khối 10 trường THPT Cẩm Thuỷ1.