1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học địa lý tự nhiên lớp 10 và lớp 12

67 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai Thác Thơ, Ca Dao, Tục Ngữ Phục Vụ Dạy Học Địa Lí Tự Nhiên Lớp 10 Và 12
Tác giả Trần Thị Huấn
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Hưng Yên
Chuyên ngành Địa lí
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2015 - 2016
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 844,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực với việc học môn Ngữ văn, làm cho các em hiểu được phần hiện thực cuộc sống phản ánh tron

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN HƯNG YÊN

NĂM HỌC: 2015 - 2016

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: 7

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12 7

I Cơ sở lí luận 7

1 Thơ, ca dao, tục ngữ 7

2 Địa lí tự nhiên 7

II Cơ sở thực tiễn 8

1 Giá trị khoa học của ca dao, tục ngữ 8

2 Dạy học liên môn 8

CHƯƠNG 2: BIÊN SOẠN HỆ THỐNG THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12 11

I Địa lí tự nhiên đại cương lớp 10 11

1 Bài 5 11

2 Bài 6 13

3 Bài 9 15

4 Bài 11 16

5 Bài 12 17

6 Bài 13 18

7 Bài 15 24

8 Bài 16 25

9 Bài 18 27

10 Bài 20 27

11 Bài 21 29

Trang 3

1 Bài 2 30

2 Bài 6, 7 30

3 Bài 8 32

4 Bài 9, 10 34

5 Bài 11, 12 41

6 Bài 14 44

7 Bài 15 45

CHƯƠNG 3: KHAI THÁC NỘI DUNG THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12 50

I Cách khai thác khía cạnh nội dung địa lí của thơ, ca dao, tục ngữ 50

1 Phần mở bài 50

2 Dạy bài mới 51

a Tư liệu hình thành kiến thức mới 51

b Phương tiện minh họa kiến thức cho bài học 52

c Mở rộng, nâng cao kiến thức cho bài dạy 52

3 Củng cố 53

4 Dặn dò - Giao bài tập về nhà, chuẩn bị bài mới 54

5 Kiểm tra, đánh giá 54

II Những hạn chế về giá trị khoa học của ca dao tục ngữ và hướng khắc phục 55

1 Tính địa phương 56

2 Phân tích sự vật hiện tượng Địa lí phiến diện, chưa tổng hợp 56

3 Một số nội dung chưa hoàn toàn chính xác về khoa học 57

4 Sử dụng âm dương lịch 57

III Hạn chế của thơ và cách khắc phục 57

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59

1 Đối với giáo viên 59

2 Đối với học sinh 61

PHẦN KẾT LUẬN 63

1 Kết luận 63

2 Kiến nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thơ, ca dao, tục ngữ là những sáng tác văn học có vần, nhạc điệu, giàu hình ảnh, kết cấu ngắn gọn dễ nhớ phản ánh nhận thức tâm tư của con người trước các hiện tượng đời sống trong đó có các hiện tượng tự nhiên Nhiều nhạc sĩ đã phổ nhạc cho các bài thơ hoặc sử dụng ca dao tục ngữ trong các sáng tác của mình Ta không thể quên âm hưởng trữ tình, ngọt ngào của bài hát “Sợi nhớ, sợi thương” mà nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã phổ thành nhạc từ bài thơ “Sợi nhớ, sợi thương” mà tác giả là nữ nhà thơ Thúy Bắc Tương tự vậy, nhiều họa sĩ đã vẽ nên các bức tranh kiệt tác của đời mình lấy cảm hứng từ các bài thơ hoặc các câu ca dao, tục ngữ Đã có 17 tác phẩm tranh của họa sĩ Nguyễn Lai và Võ Trịnh Biện lấy cảm hứng từ bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng Với những nét vẽ phóng khoáng mà tinh tế, cách phối màu điêu luyện, các tác phẩm gợi nhắc không khí hào hùng, bi tráng của những đoàn quân Tây Tiến năm xưa (http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/van-hoa-the-thao-giai-tri/tranh-truu-tuong-lay-cam-hung-tu-bai-tho-tay-tien-cua-quang-dung/358003.html)

Đối với tôi - một giáo viên Địa lí, việc sử dụng thơ – ca dao – tục ngữ vào bài dạy là một công cụ để tạo hứng thú cho học sinh, để minh họa cho bài học,

để củng cố, kiểm tra kiến thức và đánh giá khả năng vận dụng của các em vào những tình huống cụ thể, phù hợp với quan điểm “học đi đôi với hành” lý thuyết gắn với thực tiễn cuộc sống

Việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên là hoàn toàn

có cơ sở lí luận và thực tiễn Điểm giao hòa giữa thơ, ca dao tục ngữ và Địa lí tự nhiên là đều phản ánh đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, ảnh hưởng của tự nhiên đến đời sống kinh tế xã hội So với Địa lí thì thơ, ca dao, tục ngữ mô tả tự nhiên mang tính chất hình ảnh, nghệ thuật làm cho người đọc, người nghe dễ nhớ hơn Việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa

lí tự nhiên cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực với việc học môn Ngữ văn, làm cho các em hiểu được phần hiện thực cuộc sống phản ánh trong thơ, trong ca dao tục

Trang 5

ngữ Hơn nữa, việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm tích hợp liên môn của Bộ giáo dục và Đào tạo hiện nay

Câu hỏi đặt ra là: sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên như thế nào sao cho hiệu quả? Để trả lời câu hỏi này tôi xin được đưa ra kinh

nghiệm của mình chia sẻ với các bạn đồng nghiệp thông qua đề tài: “Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phuc vụ dạy học Địa lí

Tự nhiên Học sinh trường THPT chuyên Hưng Yên Phạm vi nghiên cứu: Chương trình Địa lí Tự nhiên đại cương (lớp 10) và Địa lí

Tự nhiên Việt Nam (lớp 12)

4 Mục đích nghiên cứu

- Cung cấp cho Giáo viên các tư liệu về thơ, ca dao, tục ngữ liên quan đến dạy học Địa lí tự nhiên, giải thích nội dung Địa lí chứa đựng trong các câu thơ, câu ca dao tục ngữ đó

Tôi cũng phân tích tác dụng, hướng dẫn cách thức sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí

- Sáng kiến cũng có thể được dùng làm tư liệu tham khảo cho các em học sinh

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu

Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan của các tác giả khác và trên Internet

Dựa vào kết quả điều tra, khảo sát thực tế đối với Giáo viên và Học sinh về việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12

Trang 7

tháng mười ngày (âm dương lịch) ngắn đêm dài ca dao có câu: „Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối‟

Trong chương trình ngữ văn phổ thông các em học sinh đã được học nhiều tác phẩm thơ, học nhiều về ca dao tục ngữ về các hiện tượng, qui luật tự nhiên, ảnh hưởng của thiên nhiên đến đời sống và sản xuất của con người

2 Địa lí tự nhiên

Hệ thống khoa học Địa lí bao gồm hai nhóm khoa học lớn là nhóm khoa học Địa lí tự nhiên và nhóm khoa học Địa lí kinh tế, xã hội Trong chương trình lớp 10 các em được học về Địa lí tự nhiên đại cương từ bài 2 đến bài 21 Trong chương trình lớp 12 các em được học về Địa lí tự nhiên Việt Nam từ bài 2 đến bài 15

Địa lí tự nhiên nghiên cứu các hiện tượng, quá trình tự nhiên, sự kết hợp có qui luật của các thành phần địa lí tự nhiên như địa hình, khí hậu, nước, sinh vật, đất nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất phức tạp và tạo thành một hệ thống không thể chia cắt được

Như vậy giữa thơ, ca dao tục ngữ và Địa lí tự nhiên có sự giao hòa về nội dung: đều phản ánh nhận thức của con người về đặc điểm của sự vật hiện tượng tự

Trang 8

nhiên, mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên và mối quan hệ giữa tự nhiên với con người So với Địa lí thì thơ, ca dao, tục ngữ mô tả tự nhiên mang tính chất hình ảnh, nghệ thuật làm cho người đọc, người nghe dễ nhớ hơn Ví dụ để mô tả hiện tượng ngày ngắn vào tháng mười (âm dương lịch) ca dao sử dùng hình ảnh

“chưa cười đã tối”, đêm ngắn vào tháng mười (âm dương lịch) là hình ảnh “chưa nằm đã sáng”

Việc sử dụng thơ – ca dao – tục ngữ vào bài dạy là một công cụ để tạo hứng thú cho học sinh, để củng cố, kiểm tra kiến thức và đánh giá khả năng vận dụng của các em vào những tình huống cụ thể phù hợp với quan điểm “học đi đôi với hành” lý thuyết gắn với thực tiễn cuộc sống Ngược lại vận dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực với việc học môn Ngữ văn, làm cho các em hiểu được phần hiện thực cuộc sống phản ánh trong thơ, trong ca dao tục ngữ

II Cơ sở thực tiễn

1 Giá trị khoa học của ca dao, tục ngữ

Ca dao tục ngữ của nhân dân ta cũng như thơ đều có một giá trị nhất định về mặt khoa học Trong thực tiễn lao động sản xuất đấu tranh gian khổ với thiên nhiên, dân tộc ta đã có một nhận thức tương đối vững vàng về các hiện tượng và qui luật của tự nhiên có liên quan trực tiếp đến đời sống và sự hoạt động sản xuất hàng ngày của mình Nhờ đó đã có một tác dụng nhất định trong việc đấu tranh với thiên nhiên và lợi dụng những mặt thuận lợi của thiên nhiên để bảo vệ đời sống và phát triển sản xuất trong điều kiện khoa học địa lí tự nhiên chưa hình thành

Ca dao tục ngữ là một biểu hiện thực tế về khả năng nhận thức qui luật của tự nhiên trong quá trình lao động sản xuất Đây là cái vốn khoa học quí báu của dân tộc cần được lưu giữ và phát triển thêm nhất là các thế hệ trẻ trong đó có học sinh phổ thông

2 Dạy học liên môn

Việc vận dụng thơ, ca dao tục ngữ trong dạy học Địa lí Tự nhiên bản chất là việc dạy học liên môn Hiện nay việc dạy học liên môn được Bộ giáo dục và đào

Trang 9

tạo khuyến khích triển khai xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển

năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức

vào giải quyết những vấn đề thực tiễn Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học

Dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau Đối với những kiến thức liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình của môn đó và không dạy lại ở các môn khác

Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình dạy học các bộ môn liên quan

Với học sinh, các chủ đề liên môn có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn

đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đề liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc

Điều quan trọng hơn là liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn

Đối với giáo viên thì ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác Tuy nhiên khó khăn này chỉ là

bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng bởi hai lý do: Một là, trong quá trình dạy

học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra,

Trang 10

định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học Dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên

Trang 11

CHƯƠNG 2: BIÊN SOẠN HỆ THỐNG THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12

Để thuận tiện cho việc sử dụng tài liệu cho giáo viên và học sinh đối với từng câu ca dao, tục ngữ và các trích đoạn thơ tôi đều chỉ ra nội dung địa lí được thể hiện là gì và xắp xếp chúng theo các đơn vị bài học Lưu ý rằng mỗi câu ca dao

tục ngữ hay trích đoạn thơ có thể sử dụng ở nhiều bài khác nhau

I Địa lí tự nhiên đại cương lớp 10

Cụm từ “hết ngày lại đêm” phản ánh hiện tượng luân phiên ngày đêm

Lí do: Trái Đất có dạng hình cầu, Mặt Trời chỉ chiếu sáng được một nửa Trái Đất nên sinh ra hiện tượng ngày đêm Tuy nhiên do Trái Đất tự quay quanh trục nên mọi địa điểm trên Trái đất đều lần lượt được đưa ra ánh sáng (ngày) rồi lại khuất vào trong bóng tối (đêm)

Ví dụ 2

Trong bài “Buổi sáng nhà em” Trần Đăng Khoa viết:

“Ông trời nổi lửa đằng đông

Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay”

Câu thơ “Ông trời nổi lửa đằng đông” phản ánh hiện tượng hàng ngày Mặt

Trời mọc phía Đông

Tại sao? Vì Trái Đất tự quay theo chiều từ Tây sang Đông nên ta nhìn thấy Mặt Trời mọc phía Đông và lặn phía Tây (chuyển động biểu kiến hàng ngày của Mặt Trời)

Trang 12

Ví dụ 3

Ca dao Việt Nam có câu:

“Con sông bên lở bên bồi

Bên lở thì đục bên bồi thì trong”

Câu thơ “Con sông bên lở bên bồi” phản ánh hệ quả sự chuyển động lệch

hướng của các vật thể trên Trái Đất Các sông chảy theo phương kinh tuyến ở Bắc Bán Cầu các dòng sông có bờ phải bị xói lở nhiều hơn (tương ứng, ở Bán Cầu Nam – bờ trái) và ngược lại ở Bắc Bán Cầu các dòng sông có bờ trái được bồi nhiều hơn (tương ứng, ở Bán Cầu Nam – bờ phải) Hiện tượng dòng sông bên lở bên bồi làm cho sông ngòi không chảy thẳng mà thường uốn khúc quanh co nhất

là ở Đồng bằng

Dưới góc độ khoa học, các dòng sông chảy không thẳng mà uốn khúc là do

2 nguyên nhân chính: địa hình và lực Côriôlit Dòng sông có xu hướng chảy từ nơi

có địa hình cao đến nơi có địa hình thấp, những nơi có địa hình gồ ghề thì dòng sông sẽ uốn lượn Lực Côriôlit là hệ quả của sự tự quay quanh trục của Trái Đất

Khi Trái Đất quay quanh trục, mọi địa điểm thuộc các vĩ độ khác nhau ở bề mặt Trái Đất (trừ 2 cực) đều có vận tốc dài khác nhau và hướng chuyển động từ Tây sang Đông Do vậy các vật thể chuyển động trên Trái Đất sẽ bị lệch hướng so với ban đầu (vì phải giữ nguyên chuyển động thẳng hướng theo quán tính)

Ở Bắc bán cầu, nếu có một dòng nước từ nam chảy về bắc, nó sẽ vì quán tính mà duy trì tốc độ hướng đông tương đối nhanh mà lệch về phía đông; còn nếu

từ bắc chảy về nam thì tốc độ hướng đông vốn có tương đối nhỏ, nó sẽ lệch về phía tây, giống như có ai đó đang đẩy chúng Khi nước từ bốn phía chảy tới thì nước từ nam chảy tới bắc sẽ lệch về đông, nước từ bắc chảy tới nam sẽ lệch về tây

và sẽ chảy theo ngược chiều kim đồng hồ Nhưng tình hình trên, ở nam bán cầu sẽ ngược lại hoàn toàn

Lực Côriôlit tác động mạnh đến hướng chuyển động không chỉ của dòng sông mà còn của các khối khí, các dòng biển, đường đạn bay,

Trang 13

2 Bài 6

(Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất)

Ví dụ 1:

Ca dao có câu:

”Đông qua Xuân lại đến liền,

Hè về rực rỡ, êm đềm Thu sang”

Câu ca dao phản ánh hiện tượng mùa trên Trái Đất Một năm chia thành 4 mùa xuân, hạ, thu, đông

Mùa là một phần thời gian của năm có những đặc điểm riêng về thời tiết khí hậu

Nguyên nhân là do trục Trái Đất nghiêng với mặt phẳng quĩ đạo của Trái Đất và trong suốt năm trục của Trái Đất không đổi phương trong không gian nên có thời kì bán cầu Bắc hoặc bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời Điều đó làm thời gian chiếu sáng và sự thu nhận bức xạ Mặt Trời ở mỗi bán cầu đều thay đổi trong năm

Ví dụ 2:

Trong ”Truyện Kiều”, Nguyễn Du viết:

”Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”

Các hiện tượng tự nhiên được nhắc đến trong hai câu thơ trên phản ánh 2 hệ quả của Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời:

- Hệ quả mùa trên Trái Đất Lưu ý rằng hiện tượng 4 mùa chỉ thể hiện rõ ở vùng

ôn đới Ở miền Bắc nước ta mùa xuân thu không rõ, mang tính chất chuyển tiếp giữa hai mùa nóng lạnh

- Hệ quả ngày đêm dài ngắn theo mùa ”Sầu dài ngày ngắn” ý nói mùa đông ngày ngắn đêm dài

Nguyên nhân là do trục Trái Đất nghiêng với mặt phẳng quĩ đạo của Trái Đất và trong suốt năm trục của Trái Đất không đổi phương trong không gian nên có thời kì bán cầu Bắc hoặc bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời Điều đó làm thời gian chiếu sáng

và sự thu nhận bức xạ Mặt Trời ở mỗi bán cầu đều thay đổi trong năm

Ví dụ 3:

Trang 14

“Tháng chạp là tháng trồng khoai, Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà

Tháng ba cày vỡ ruộng ra Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng.”

Đây là câu ca dao, sử dụng khi dạy phần “các mùa trong năm” Mỗi mùa, có đặc điểm riêng về thời tiết khí hậu thích nghi với sự phát triển của từng loại cây trồng nên có câu ca trên Hiện nay sự tác động của khoa học, việc ứng dụng các kỹ thuật trong sản xuất có thể làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, tuy nhiên “mùa nào, thức nấy” vẫn rất đặc trưng

Mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên rất khăng khít, chúng hoạt động theo một quy luật thống nhất và hoàn chỉnh Chỉ một thành phần tự nhiên thay đổi

sẽ làm cả tổng hợp thể tự nhiên thay đổi theo, mà nguyên nhân sâu xa là sự thay đổi của bức xạ Mặt trời, do “chuyển động biểu kiến” từ nửa cầu này sang nửa cầu kia của Mặt trời: Khi Mặt trời chuyển động về phía cầu nào thì các yếu tố: nhiệt

độ, khí áp, hướng gió, mưa, sự phát triển của sinh vật sẽ thay đổi tạo ra cảnh quan địa lý đặc trưng theo mùa

Ví dụ 4:

Nhân dân ta có câu ca dao:

“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối”

- Ý nghĩa của câu nói: Ở nước ta vào khoảng tháng 6 dương lịch (tháng năm trong câu ca dao theo âm dương lịch) có đêm ngắn hơn ngày (hay ngày dài đêm ngắn) nên mới nói “chưa nằm đã sáng”

Còn khoảng tháng 11, 12 dương lịch (tháng mười trong câu ca dao theo âm dương lịch) lại có ngày ngắn hơn đêm (hay đêm dài ngày ngắn) nên mới nói “chưa cười đã tối”

- Những nơi đúng: Bắc bán cầu

- Những nơi không đúng:

+ Xích đạo: luôn có ngày đêm dài bằng nhau

Trang 15

+ Nam bán cầu: hiện tượng ngược lại Khi Bắc bán cầu là mùa hạ thì Nam bán cầu là mùa đông, khi Bắc bán cầu là mùa đông thì Nam bán cầu là mùa hạ Tháng 6 dương lịch (tháng năm âm dương lịch) Mặt Trời chuyển động biểu kiến lên vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu nên thời gian chiếu sáng ở nửa cầu Bắc (Việt Nam) dài nên có hiện tượng ngày dài, đêm ngắn

Vào tháng 11, 12 dương lịch (tháng 10 âm dương lịch), Mặt trời chuyển động biểu kiến xuống vùng nội chí tuyến Nam bán cầu nên Nam bán cầu lúc này ngày dài đêm ngắn và ở Bắc bán cầu (Việt Nam) hiện tượng ngày ngắn - đêm dài

Ví dụ 5:

Tục ngữ có câu:

“Nắng chóng trưa mưa chóng tối.”

Vì trời nóng cường độ bức xạ Mặt Trời trực tiếp cung cấp cho mặt đất lớn,

vì bầu trời không mây nên ta cảm thấy ngày dài ra, ánh sáng Mặt Trời chói chang hơn, còn bầu trời mưa thì âm u, nhiều mây, lượng bức xạ Mặt Trời cung cấp cho mặt đất giảm và chủ yếu là bức xạ khuếch tán, nên ta cảm thấy thời gian được chiếu sáng hầu như ngắn lại (mưa chóng tối)

Như vậy độ dài ngày đêm ngoài phụ thuộc vào đặc điểm thời tiết địa phương (mây, mưa )

3 Bài 9

(Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất)

Ví dụ 1:

Tục ngữ có câu “Nước chảy đá mòn”

Hiện tượng trên phản ánh tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất Cụ thể “Nước chảy đá mòn” là kết quả của quá trình mài mòn do dòng nước

Nước chảy tạo ra năng lượng làm phá hủy đá và cuốn đi nên “đá mòn” Lưu

ý rằng quá trình mài mòn diễn ra chủ yếu trên bề mặt đá nên tốc độ chậm

Ví dụ 2:

Ca dao có câu:

“Thương em anh cũng muốn vô

Trang 16

Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

Đầm phá ven bờ biển là một dạng địa hình có hình dáng kéo dài, được ngăn cách với biển bởi hệ thống đê cát và có cửa thông nối với biển Cửa đầm phá có thể một hoặc nhiều, mở thường xuyên hoặc định kỳ về mùa mưa lũ, thậm chí bị đóng kín nhưng vẫn trao đổi với biển phía ngoài nhờ thẩm thấu hay chảy thấm qua thân đê cát chắn

Đầm phá được hình thành ở nơi giàu nguồn bồi tích cát ven bờ, động lực sóng mạnh và thuỷ triều không lớn

Đầm phá ven bờ có mặt ở nhiều nơi, chiếm khoảng 13% chiều dài đường bờ đại dương thế giới Ở Việt nam, các đầm phá tập trung ở Miền Trung Từ Thừa Thiên - Huế tới Ninh Thuận, có 12 đầm phá tiêu biểu với tổng diện tích khoảng

Đông Á và loại lớn trên thế giới Phá Tam Giang ngày xưa hai bên bờ là những đầm lầy đầy lau lách - nơi có sào huyệt của một nhóm cướp khét tiếng vào thời kỳ bấy giờ - cho nên thương em mà không dám vô cớ là vậy

Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ”

Tháng 6 ở đồng bằng Bắc Bộ nhiệt độ thường cao

Nguyên nhân là bởi khoảng thời gian này đồng bằng có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh, góc nhập xạ lớn, thời gian chiếu sáng dài nên nhiệt độ của nước thường cao vì vậy nước như được nấu sôi rất nóng khiến chết cá cờ, cua ở trong hang phải ngoi lên bờ

Trang 17

Ví dụ 2:

Ca dao Việt Nam có câu:

“Bao giờ cho đến tháng ba Hoa gạo rụng xuống bà già cất chăn”

Ý nghĩa câu ca dao: ở Bắc Bộ nước ta tháng 3 (tức tháng 4 dương lịch) thời tiết nóng lên

Nguyên nhân là do Mặt trời chuyển động biểu kiến lên Bắc bán cầu nên lượng bức xạ nhận được lớn Hơn nữa gió mùa đông bắc xuất phát từ áp cao Xibia thổi yếu nên nhiệt độ tăng cao Do vậy “bà già cất chăn”

5 Bài 12

(Sự phân bố khí áp Một số loại gió chính)

Ví dụ 1:

Trong bài thơ “Sóng” Xuân Quỳnh viết:

“Từ nơi nào sóng lên Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu?”

“Gió bắt đầu từ đâu” Gió là sự chuyển động của không khí từ nơi áp cao (trị

hình thành và mưa rơi bên sườn đón gió

Trang 18

Khi không khí vượt sang sườn bên kia, hơi nước đã giảm nhiều Nhiệt độ tăng lên theo tiêu chuẩn không khí khô khi xuống núi, trung bình là 100m tăng

10C Vì vậy sườn khuất gió có gió khô và rất nóng (gió phơn)

Ví dụ 3:

Trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận viết:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Đêm thở sao lùa nước Hạ Long

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng sao

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng”

Tàu buồm thường ra khơi đánh cá vào ban đêm do ban đêm có hoạt động của gió đất

Ban đêm mặt đất tỏa nhiệt và lạnh đi nhanh chóng, hình thành khu áp cao tạm thời ở đất liền Đại dương toả nhiệt chậm nên hình thành áp thấp Gió có hướng thổi từ đất liền ra biển gọi là Gió đất Vì vậy, tàu buồm ra khơi vào lúc đêm theo hướng gió đất thổi mạnh nhất

Hoặc câu thơ sau trong bài “Quê hương” của Tế Hanh cũng có ý nghĩa

tương tự: “Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”

6 Bài 13

(Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển Mưa)

Ví dụ 1:

Tục ngữ có câu:

Trang 19

“Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”

Ví dụ 2:

“Trên trời mây trắng như bông

Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây”

(“Mây và bông” Ngô Văn Phú) Đây là mây tích trông tựa như những múi bông hay bọt nước trắng xóa, chân mây bằng phẳng, đỉnh mây nhô lên, độ cao của chân mây thường cách mặt đất dưới 2000m Loại mây này thường xuất hiện vào mùa nóng

Ví dụ 3:

Ca dao có câu:

“Én bay thấp mưa ngập bờ ao

Én bay cao mưa rào lại tạnh”

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

Các em đã được tìm hiểu điều kiện ngưng đọng hơi nước trong khí quyển, điều kiện hình thành mây và mưa Hãy dựa vào mối liên hệ giữa sinh vật và hiện tượng thời tiết để giải thích tại sao én bay thấp - cao có liên quan đến hiện tượng mưa to hay mưa rào?

Trong số các loài sinh vật như chim én (hay các loài côn trùng: chuồn chuồn, các loài mối, muỗi nhỏ mà chúng ta không nhìn thấy) thường thì vào cuối xuân đầu hạ, quan sát ở ngoài đồng, nếu thấy chim én bay thành đàn sà thấp xuống mặt đất thì thường sau đó, trời sẽ mưa

Trang 20

Nguyên nhân là trước lúc trở trời, trong không khí có nhiều hơi nước, đọng vào những bộ cánh mỏng của côn trùng, làm tăng tải trọng, khiến chúng chỉ có thể bay là là sát mặt đất

Ngoài ra vì áp thấp, ngột ngạt, nên nhiều loài sâu bọ cũng chui lên khỏi mặt đất Chim én bay xuống thấp chính là để bắt những côn trùng, sâu bọ này Cho nên, cứ mỗi khi thấy chim én bay thành đàn sà xuống, người ta lại nói rằng trời sắp

có mưa

Người nông dân chỉ đúc kết kinh nghiệm về thay đổi thời tiết của độ bay cao, thấp của con chuồn chuồn Học sinh khi học phần khí hậu (khí quyển, khí áp, gió, mưa ) sẽ giải thích độ cao, thấp của chuồn chuồn khi bay với hiện tượng “mưa, nắng” là do yếu tố áp suất không khí và độ ẩm

Những câu ca dao có nội dung tương tự như trên về dự báo mưa: “Ếch kêu

om om, ao chôm đầy nước” Đối với loài ếch nhái là những loài lưỡng cư, loài cóc

có bộ da rất nhạy cảm với độ ẩm không khí, những lúc trời nắng ấm các loài này thường nấp nơi mát mẻ để tránh nắng, khi độ ẩm tăng lên trời chuẩn bị mưa, chúng nhảy ra ngoài kèm theo những tiếng kêu gọi bầy, bắt mồi và đây cũng là thời kỳ sinh sản của chúng khi cóc nghiến răng, ếch nhái kêu thì nhất định trời sẽ có mưa nên mới có câu : “Cóc nghiến răng trời đang nắng thì mưa” “Ếch kêu om om,

ao chôm đầy nước”

Hoặc tục ngữ có câu: “Qụa tắm thì ráo, Sáo tắm thì mưa” Sáo và Qụa là

hai loài chim, Qụa hay tắm những lúc no mồi còn Sáo thì ít khi tắm, chỉ những lúc nhiệt độ và độ ẩm tăng cao, thời tiết nóng bức đột ngột Sáo nhảy xuống nước tắm làm mát cơ thể Những lúc đó trời rất dễ mưa nên có câu tục ngữ trên

Hay câu tục ngữ: “Trời đã sẩm tối rồi Gà còn đi bới điểm trời sắp mưa”

Khi thời tiết xấu, áp suất không khí giảm, độ ẩm tăng, các loài côn trùng bay ra khỏi tổ, các loài giun, dế bò lên mặt đất đó là những mồi ngon của gà, nên gà mãi mê bắt mồi quên cả việc về chuồng, nên ta có thể đoán được gà về chuồng

muộn là trời sắp mưa

Trang 21

Loài ốc, cua tuy là loài sống ở nước, chỉ những lúc ẩm mát chúng mới nổi

lên mặt nước hay bò lên các bụi cây để sinh sản: “Ốc nổi bờ ao, mưa rào sắp đến”

Ví dụ 4:

Tục ngữ có câu:

“Trăng quầng thì hạn trăng tán thì mưa”

Dự báo hiện tượng mưa Mỗi khi quanh mặt trời hoặc mặt trăng xuất hiện những vòng ánh sáng khá lớn màu trắng hoặc nhiều màu, ông bà lại nhắc con cháu thu dọn thóc đang phơi, cất quần áo, đóng cửa sổ Họ bảo nhau sắp có mưa gió đến Vầng sáng ấy được gọi là tán hay quầng

Quầng ánh sáng xuất hiện xung quanh mặt trời phần lớn là có màu sắc theo thứ tự từ trong ra ngoài là hồng, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Quầng xuất hiện quanh mặt trăng phần lớn là màu trắng

“Quầng” xuất hiện khi bầu trời có mây ti tầng Lớp mây này là những mây ở tầng cao do vô vàn tinh thể băng li ti tạo thành, đáy lớp mây cách mặt đất khoảng hơn 6 km Không khí ở đây lúc này vẫn còn lạnh, thời tiết vẫn tốt

Tuy nhiên, ở nơi xa (cách đó khoảng mấy trăm km), luồng không khí nóng

ẩm đang giao tranh với luồng không khí lạnh Không khí dần ấm nóng và bay lên theo mặt nghiêng của khối không khí lạnh Trong quá trình không khí nóng lên cao, nhiệt độ của khối khí bị giảm dần, hơi nước ngưng đọng thành tầng mây

Dần dần xuất hiện mây vũ tầng dày, loại mây này thường cho mưa thời gian kéo dài và diện rộng tới khoảng 300 km Càng lên cao, do mặt front nóng (mặt phân cách khối khí nóng lạnh) càng cách xa mặt đất, độ cao ngưng kết hơi nước cũng dần dần tăng lên, do đó độ cao của chân mây cũng dần cao hơn, thành mây cao tầng và mây ti tầng, lên cao hơn nữa là mây ti

Vì mây ti tầng hình thành ở độ cao trên 6 km, nhiệt độ không khí lúc này đã

hạ xuống khoảng - 20 độ C, do đó có thể tạo thành những tinh thể băng hình trụ hoặc hình lục lăng Khi tia nắng mặt trời và ánh trăng chiếu qua tinh thể băng này

sẽ tạo ra quầng mặt trời hoặc quầng mặt trăng

Trang 22

Khi ta nhìn thấy quầng mặt trời hoặc quầng mặt trăng chứng tỏ mặt đất nơi ta đứng tuy vẫn có không khí lạnh khống chế, thời tiết vẫn bình thường, nhưng ở trên cao đã xuất hiện không khí nóng, và khi hơi nóng từ mặt đất bốc lên ngày càng lan đến gần nơi ta đứng hơn, thì ảnh hưởng tiếp theo sẽ là mây ngày càng thấp, gió mạnh dần lên Cuối cùng là những giọt mưa rơi Vì vậy, quầng là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sẽ có mưa gió

Ngoài ra, tại khu vực ngoại vi của bão cũng thường có lớp mây cuốn và quầng, sau quầng các đám mây dần dần dày lên và đen đặc, tiếp đó sẽ có mưa to gió lớn

Nhưng, không có nghĩa là hễ mặt trời có quầng, vầng trăng có tán thì nhất định có mưa gió Chủ yếu ở đây là thời tiết sẽ xấu đi, còn mưa gió hay không lại

phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa

Cơ sở khoa học: lớp không khí chứa ít hơi nước thì bầu trời mới quang mây

và đó là điềm trời nắng cho nên mới nhìn thấy sao mọc dày và sáng

Ngược lại không khí có dộ ẩm cao, bầu trời sẽ nhiều mây và đục mờ, đó là điềm trời dễ có mưa cho nên mới thấy sao thưa

Câu ca dao sau cũng có ý nghĩa tương tự như câu tục ngữ trên:

“Đêm trời tang, trăng sao không tỏ,

Ấy là điềm mưa gió tới nơi

Đêm nào sao sáng xanh trời,

Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày.”

Ví dụ 6:

Tục ngữ có câu:

Trang 23

“Mặt trăng má đỏ Trời đã sắp mưa”

Dự báo hiện tượng mưa

Cơ sở khoa học: Ánh sáng Mặt Trời là dãy ánh sáng quang phổ gồm 7 màu

Mặt Trăng không phát ánh sáng mà phản chiếu ánh sáng Mặt Trời Nếu không khí trong sạch tia xanh và tia tím sẽ bị khuếch tán nhiều hơn, bầu trời có màu xanh và lúc ta nhìn thấy đĩa mặt trăng hay mặt trời có màu vàng Trong trường hợp bầu trời

có nhiều nước, nhiều bụi, từ đó nhìn từ dưới đất nhìn lên bầu trời ta thấy Mặt Trăng hay Mặt Trời có màu đỏ (Trăng má đỏ) bởi vì tia bức xạ bị khuếch tán nhiều hơn cả Như vậy khi thấy Mặt Trăng màu đỏ chứng tỏ không khí ẩm ướt và vẫn đục, tình trạng thường thấy khi thời tiết chuyển xấu nên “Trăng má đỏ” trời đã sắp mưa

Ví dụ 7:

Ca dao có câu:

“Rễ Si đâm ra trắng xóa Mưa to gió lớn hẳn là tới nơi”

Dự báo hiện tượng mưa Mỗi khi thời tiết thay đổi thì một số loại thực vật như cây Si (Sanh) rất nhạy cảm với thời tiết nên các hoạt động sinh lý của nó biến đổi Si là loại cây to, lá nhỏ, rậm cành, có nhiều rễ phụ xuống, thường mọc ở bờ nước nên rất nhạy cảm với độ ẩm không khí, khi độ ẩm không khí tăng lên rễ Si sinh ra trắng xoá vì hút nhiều nước Như vậy thời tiết rất dễ mưa nên nhân dân ta có cách dựa vào đó để

dự báo thời tiết

Ví dụ 8:

Giáo viên có thể đọc cho các em nghe bài thơ “Mưa” của Trần Đăng Khoa

mô tả về thiên nhiên trước trận mưa rào khá sinh động

“Sắp mưa Sắp mưa Những con mối

Bay ra Mối trẻ Bay cao

Mối già Bay thấp

Gà con

Trang 24

Rối rít tìm nơi

Ẩn nấp Ông trời Mặc áo giáp đen

Ra trận Muôn nghìn cây mía Múa gươm

Kiến Hành quân Đầy đường

Lá khô Gió cuốn Bụi bay Cuồn cuộn

Cỏ gà rung tai Nghe

Bụi tre Tần ngần

Gỡ tóc Hàng bưởi

Đu đưa

Bế lũ con Đầu tròn Trọc lốc Chớp Rạch ngang trời Khô khốc

Sấm Ghé xuống sân Khanh khách Cười

Cây dừa Sải tay Bơi Ngọn mùng tơi Nhảy múa

Mưa Mưa

Ù ù như xay lúa Lộp bộp

Lộp bộp

Rơi Rơi

Đất trời

Mù trắng nước Mưa chéo mặt sân Sủi bọt

Cóc nhảy chồm chồm Chó sủa

Cây lá hả hê

Bố em đi cày về Đội sấm

Đội chớp Đội cả trời mưa“

“Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng” hay “Bạc Liêu nước chảy lờ đờ”

phản ánh tốc độ chảy của sông Cửu Long (sông này chảy qua địa phận tỉnh Bạc Liêu) chậm, nước sông lên chậm rút chậm

Trang 25

Nguyên nhân: Lưu vực dạng lông chim, diện tích lớn, độ dốc nhỏ, lưu vực chảy qua địa hình đồng bằng Vai trò của Biển Hồ điều tiết chế độ nước sông Mùa

lũ từ tháng 7 đến 12 lũ lên chậm và xuống chậm bởi khi sông thoát lũ ra biển đổ theo 9 cửa khiến cho lũ thoát nhanh Đồng bằng địa hình thấp cộng với hệ thống kênh rạch chằng chịt có tác dụng phân lũ nhanh sang các khu vực xung quanh

8 Bài 16

(Sóng Dòng biển Thủy triều)

Ví dụ 1:

Trong bài thơ “Sóng” Xuân Quỳnh viết:

“Từ nơi nào sóng lên Sóng bắt đầu từ gió”

Sóng biển là một hình thức dao động của nước biển theo chiều thẳng đứng nhưng lại cho người ta có cảm giác là nước biển chuyển động theo chiều ngang từ

ngoài khơi xô vào bờ

Nguyên nhân chủ yếu tạo nên sóng là gió Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như do động đất, núi lửa dưới đáy biển, đại dương,

Như vậy câu thơ “Sóng bắt đầu từ gió” là đúng nhưng chưa đầy đủ

Ví dụ 2:

Đọc bài đồng dao sau:

“Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa Mồng ba câu liêm, mồng bốn lưỡi liềm Mồng năm liềm giật, mồng sáu thật trăng Mồng bảy thượng huyền, mười rằm trăng náu Mười sáu trăng treo, mười bảy sảy giường chiếu Mười tám rám trấu, mười chín đụn dịn

Hăm mươi giấc tốt, hăm mốt nửa đêm Hăm hai hạ huyền, hăm ba gà gáy Hăm bốn ở đâu, hăm nhăm ở đấy Hăm sáu đã vậy, hăm bảy làm sao

Trang 26

Hăm tám thế nào, hăm chín thế ấy

Ba mươi chẳng thấy, mặt mày trăng đâu”

Bài đồng dao nói về các pha của Mặt Trăng cũng như thời gian trăng mọc (theo âm dương lịch)

Mặt Trăng là một thiên thể có dạng hình cầu, không tự phát sáng Ánh sáng

mà ta nhìn thấy là nhờ sự phản chiếu ánh sáng Mặt Trời Như vậy khi phần Mặt Trăng được chiếu sáng quay về phía chúng ta thì ta mới nhìn thấy Mặt Trăng

Song phần nhìn thấy này luôn thay đổi, có lúc tròn lúc khuyết Sự thay đổi tuần hoàn này trong một tháng âm dương lịch chính là các tuần trăng Như vậy tuần trăng là chu kì biến đổi các pha nhìn thấy Trăng

Nguyên nhân do Trái Đất chuyển động xung quanh Mặt Trời còn Mặt Trăng lại quay xung quanh Trái Đất nên vị trí tương đối của Mặt Trăng đối với Mặt Trời và Trái Đất thay đổi

Ngày cuối tháng âm dương lịch, Mặt Trăng ở giữa Mặt Trời và Trái Đất, phía Mặt Trăng quay về Trái Đất không được Mặt Trời chiếu sáng lúc đó ta không thấy có trăng

Ngày đầu tháng Trăng ở chếch một chút so với Mặt Trời do đó một phần được chiếu sáng, trăng hình lưỡi liềm (trăng non)

Tiếp đó Mặt Trăng đến vị trí vuông góc với đường nối tâm Trái Đất và tâm Mặt Trời, nó quay một nửa phần được Mặt Trời chiếu sáng về phía Trái Đất và ta nhìn thấy Trăng có hình bán nguyệt, đó là trăng thượng huyền (ngày 7 tháng âm dương lịch)

Khi Mặt Trăng ở vị trí đối diện với Mặt Trời thì Mặt Trăng hướng toàn bộ phần được chiếu sáng về phía Trái Đất nên ta thấy trăng tròn (ngày vọng-ngày 15,16 tháng âm dương lịch)

Khi Mặt Trăng di chuyển đến vị trí vuông góc với đường nối tâm Trái Đất

và tâm Mặt Trời, ta lại thấy trăng hình bán nguyệt đó là trăng hạ huyền (ngày 22 tháng âm dương lịch)

Trang 27

Qua ngày hạ huyền Trăng lại tiếp tục nhỏ dần thành hình lưỡi liềm rồi cuối tháng lại không có Trăng

Ví dụ 3:

Các trích đoạn thơ sau cũng nhắc đến các pha nhìn thấy Trăng

Trong bài thơ “Trăng khuyết” Phi Tuyết Ba viết:

“Em vui lúc trăng tròn Chạnh lòng khi trăng khuyết Anh ơi anh có biết

Trăng hay tình lứa đôi?”

Hàn Mặc Tử viết trong bài “Một nửa trăng”:

“Hôm nay chỉ có nửa trăng thôi Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi”

Trong bài thơ “Trăng sáng” Nhược Thủy viết:

“Trăng tròn như cái đĩa

Lơ lửng mà không rơi

Những hôm nào trăng khuyết Trông giống con thuyền trôi

Giáo viên có thể khai thác thêm nội dung vì sao trăng “Lơ lửng mà không rơi.” Mọi thiên thể trong Vũ trụ đều hấp dẫn nhau Mặt Trăng là thiên thể gần Trái Đất nhất (khoảng cách trung bình 384000 km), giữa chúng có lực hấp dẫn khá mạnh Song Mặt Trăng không rơi vào Trái Đất vì lực hấp dẫn giữa chúng cân bằng với lực li tâm khi Mặt Trăng quay quanh Trái Đất

9 Bài 18

(Sinh quyển Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố sinh vật)

Tục ngữ có câu: “Đất nào cây ấy”

Câu tục ngữ trên nói về vai trò của đất đối với thực vật mà theo nghĩa hẹp là với cây trồng Mỗi loại đất thích hợp với 1 hay một nhóm thực vật nào đấy

10 Bài 20

(Lớp vỏ Địa lí Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ Địa lí)

Trang 28

Ví dụ 1

Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ Địa lí là qui luật về mối quan

hệ qui định lẫn nhau giữa các thành phần tự nhiên, giữa các bộ phận của lãnh thổ địa lí Một số câu tục ngữ thể hiện mối quan hệ qui định lẫn nhau đó như:

“Đất nào cây ấy” (Ảnh hưởng của đất đến thực vật)

“Mây xanh thì nắng Mây trắng thì mưa” (Ảnh hưởng của mây đến hiện tượng mưa)

Nguyên nhân dẫn đến các thành phần tự nhiên có mối quan hệ qui định lẫn nhau là do các thành phần thường xuyên xâm nhập và tác động qua lại lẫn nhau, đều đồng thời chịu tác động của nội lực và ngoại lực

Ví dụ 2:

Đọc những câu thơ sau của nhà thơ Cù Thâm:

Rừng nay chừng đã lụi tàn Nhạc mưa lỡ nhịp, suối đàn còn đâu?

Tháng ba mây vắng, trời cao Lửa nung rừng cháy một màu hồng hoang Suối khe nằm thở khô khan

Bụi đường xe quấn khăn tang trắng đầu Mưa về, núi lở rừng dâu

Phù sa lót biển ghi màu tang thương

Ai ơi, trả lại cho rừng Tán xanh bát ngát, chim mừng hót ca Mạch ngầm chảy bốn mùa hoa

Gầu thăm, giếng gửi đầy quà nước trong…

Những câu thơ phản ánh hiện trạng rừng của nước ta đã bị lụi tàn và hậu quả của việc phá rừng Trong thiên nhiên nếu 1 thành phần tự nhiên thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác theo quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ Địa lí Qua đó nhà thơ cũng kêu gọi cần bảo vệ rừng

Trang 29

11 Bài 21

(Quy luật địa đới và phi địa đới)

Ví dụ 1:

Đọc trích đoạn thơ “Gửi nắng cho em” của Bùi Lê Dung:

“Anh ở trong này chưa thấy mùa đông Nắng vẫn đỏ, mận hồng đào cuối vụ Trời Sài Gòn xanh cao như quyến rũ Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam

Muốn gửi ra em một chút nắng vàng Thương cái rét của thợ cày, thợ cấy Nên cứ muốn chia nắng đều cho ngoài ấy

Có tình thương tha thiết của trong này”

Đoạn thơ nói về sự phân hóa khí hậu theo chiều Bắc – Nam ở nước ta (vĩ độ-địa đới) Vào mùa đông miền Bắc nước ta (Bạch mã trở ra Bắc) lạnh nhưng miền Nam nóng

Nguyên nhân lãnh thổ nước ta trải dài trên nhiều vĩ độ, miền Nam gần Xích đạo hơn nên góc nhập xạ và thời gian chiếu sáng lớn hơn Ở nước ta sự phân hóa Bắc nam còn được tăng cường do gió mùa đông bắc lạnh xuất phát từ áp cao Xibia chỉ hoạt động ở miền Bắc mà không hoạt động ở miền Nam

Ví dụ 2:

Đọc câu thơ sau của nhà thơ Thúy Bắc trong bài “Sợi nhớ, sợi thương”:

“Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây Bên nắng đốt, bên mưa quây”

Câu thơ nói về sự phân hóa của thiên nhiên theo chiều Đông Tây của Đông

và Tây dãy Trường Sơn, cùng một dãy núi nhưng các hiện tượng tự nhiên ở sườn

Đông đối lấp với sườn Tây “Bên nắng đốt, bên mưa quây”

Nguyên nhân là do tác động của nội lực hình thành các dãy núi chạy theo phương kinh tuyến kết hợp với hoạt động của gió mùa

Trang 30

II Lớp 12

1 Bài 2

(Vị trí địa lí Phạm vi lãnh thổ)

Ví dụ:

Đọc hai câu thơ sau của nhà thơ Tố Hữu:

“Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang

Cà Mau, mũi đất mỡ màng phù sa”

Câu thơ giúp các em nhớ được điểm cực Bắc (Hà Giang) và điểm cực Nam nước ta (mũi Cà Mau)

2 Bài 6, 7

(Đất nước nhiều đồi núi)

Ví dụ 1:

Trong bài thơ “Tây Tiến” nhà thơ Quang Dũng viết:

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi ! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Đặc điểm địa hình khu vực Tây Bắc hiểm trở, cao, dốc, cắt xẻ được thể hiện

qua câu “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Nguyên nhân do trong Tân kiến tạo Tây Bắc chịu ảnh hưởng mạnh nhất của vận động tạo sơn Anpo-Himalaya

Ví dụ 2

Ca dao có câu:

“Đường lên Mường Lễ bao xa

Trang 31

Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh”

Để phản ánh về sự xa xôi, cao hiểm trở, nguy hiểm khi lên Mường Lễ (thị

xã Mường Lay ngày nay) tác giả dân gian đã sử dụng hình ảnh trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh Kiến thức địa lí trong câu ca dao đề cập cụ thể đặc điểm địa hình của vùng Tây Bắc cao hiểm trở

Ví dụ 3:

Trong bài thơ “Viết cho người con gái Đăk Mil” tác giả Sơn Thu có đoạn:

“Yêu biết mấy miền cao nguyên lộng gió Tây Nguyên xanh, con suối chảy không ngừng”

Mô tả dạng địa hình của sườn Tây vùng núi Trường Sơn Nam: hệ thống các cao nguyên Các cao nguyên này được hình thành do phun trào bazan

Ví dụ 4 Trong bài thơ “Gửi cô Hàng Xóm” Nguyễn Hữu Đô viết:

„Em đi lấy chồng cách một dòng sông Thỉnh thoảng đưa con về thăm quê ngoại Sông quê mình mùa này con nước nổi Hoa cỏ may trắng cả con đê chiều‟

Đặc điểm địa hình đồng bằng Sông Hồng - đồng bằng châu thổ, bồi tụ bởi phù sa sông, mạng lưới sông ngòi dày đặc, có đê ven sông ngăn lũ

Ví dụ 4:

Ca dao có câu:

“Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm”

Hàm ý của câu ca dao nói về Đồng bằng sông Cửu Long có địa hình khá bằng phẳng “thẳng cánh cò bay” Đồng Tháp là một ô trũng ngập nước chưa được bồi tụ phù sa nên nguồn tài nguyên thủy sản giàu có “lóng lánh cá tôm”

Ví dụ 5:

Ca dao có câu:

“Ai về nhắn với nậu nguồn

Trang 32

Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên”

Măng le là sản phẩm đặc trưng, thế mạnh của miền núi nước ta còn cá chuồn là thế mạnh của vùng đồng bằng ven biển

Ví dụ 6:

Ca dao có câu:

Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó lòng không muốn về

Cần Thơ là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long có thế mạnh lớn trong sản xuất lúa gạo do đất phù sa sông màu mỡ, khí hậu cận xích đạo gió mùa nhiệt cao, mưa nhiều phù hợp với đặc điểm sinh thái của cây lúa

Ví dụ 6:

Ca dao có câu:

“Đường bộ thì sợ Hải Vân

“Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi”

Giao thông qua đèo Hải Vân, trước khi có hầm Hải Vân nhìn chung khá khó khăn Câu ca trên dẫn dắt khó khăn của địa hình miền núi đến ngành giao thông vận tải Để vượt đèò Hải Vân an toàn ngày nay người ta phải thiết kế hầm đường

Trang 33

Biển cho ta cá như lòng mẹ, Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.”

Trích đoạn thơ thể hiện biển Đông nước ta giàu tài nguyên sinh vật Biển Đông

vai trò quan trọng với nước ta ”Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.”

Ví dụ 2:

Đọc câu ca dao sau:

“Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo

Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh”

Câu ca dao thể hiện ảnh hưởng của biển Đông đến địa hình bờ biển (bãi

biển) Bãi biển là một dạng địa hình khá bằng phẵng trải dài dọc theo bờ biển có

cát hoặc sỏi đá, đá cuội với diện tích rộng

Nguyên nhân hình thành dạng địa hình này là do kết quả của quá trình bồi tụ của sóng biển những làn sóng bởi sóng hoặc dòng di chuyển của cát trầm tích và lắng đọng, tập trung tại một địa điểm cụ thể Một số bãi cát trắng được hình thành

do quá trình xói mòn của thạch anh ở dãy núi kề cận

“Gió mát” biểu hiện ảnh hưởng của gió biển đến thời tiết ở những vùng dọc ven biển Gió được hình thành do sự chênh lệch khí áp giữa biển và đất liền vào ban đêm

Ví dụ 3:

Ca dao có câu:

“Thâm đông, hồng tây, dựng mây

Ai ơi ở lại ba ngày hãy đi”

Bão đổ bộ vào nước ta thường xuất hiện ở Biển Đông Phía đông nơi vị trí của bão, hệ thống mây đối lưu dày đặc xuất hiện nên thâm đông Không khí có độ

ẩm rất lớn, ánh sáng Mặt trời chiếu qua lớp không khí này sẽ bị tán xạ mạnh tạo nên ráng màu hồng ở chân trời tây Dựng mây là gió đổi hướng đông bắc Điều này dực báo bão sắp đổ bộ vào nên đợi sau 3 ngày bão tan mới nên đi

Ngày đăng: 10/10/2022, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bước đầu tìm hiểu về khí tượng dân gian Việt Nam. Hoàng Hữu Triết. H- Giáo dục (1973) Khác
2. Ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam, Nguyễn Tam Phù Xa, NXb Thanh Niên, 20083. Ca dao Khác
4. Địa lí Tự nhiên đại cương Tập 1 (Giáo trình). Hoàng Thiếu Sơn. H- Giáo dục, 1963 Khác
5. Địa lí Tự nhiên Việt Nam. Vũ Tự Lập. NXB Đại học Sƣ phạm Tái bản lần 3 năm 2006 Khác
6. Hỏi đáp về khí tƣợng. Hoàng Hữu Triết. NXB Khoa học và kĩ thuật 1972 7. Khí hậu Việt Nam. Phạm Ngọc Toàn – Phan Tất Đắc. NXB Khoa học và kĩ thuật 19788. Internet Khác
11. Sách giáo viên Địa lí 10 12. Sách giáo viên Địa lí 12 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN - (SKKN HAY NHẤT) sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học địa lý tự nhiên lớp 10 và lớp 12
BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w