Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan kết hợp với câu hỏi nhận thức, góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện và khắc phục tình trạng hiện đại hóa l
Trang 2I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Giáo dục – đào tạo là sự đáp ứng các yêu cầu của xã hội về con người
Trong toàn bộ sự vận động đổi mới của xã hội Việt Nam, đổi mới giáo dục là một yêu
cầu tất yếu Nền giáo dục nước ta đang thực hiện một sự đổi mới mạnh mẽ, toàn diện
nhằm thực hiện “bốn cột trụ một nền giáo dục” ở thế kỷ XXI mà UNESCO nêu ra, đó
là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”[10, tr
70]
Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan kết hợp với câu hỏi nhận thức, góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện và khắc phục
tình trạng hiện đại hóa lịch sử của học sinh trong quá trình dạy học, cùng với lời giảng
sinh động của giáo viên, phương tiện cơ bản để tạo ra cơ sở của “ trực quan sinh động”
giáo viên cần đưa ra một cách hợp lý những tài liệu trực quan nói chung, và đồ dùng
trực quan nói riêng Mục đích của việc làm là để cho bài giảng sinh động, hấp dẫn hơn,
nhưng chủ yếu là để huy động thật nhiều giác quan của học sinh vào việc nhận thức
bài giảng, vào việc phát huy tư duy của các em
1.2 Trong thời đại ngày nay, bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo những con người đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã
hội Nhưng việc học tập lịch sử ở các trường phổ thông lại đang tồn tại những vấn đề
bất cập bởi thực tế cho thấy rằng Lịch sử là môn học ít được học sinh yêu thích; chất
lượng môn Lịch sử đang giảm sút đó là do quan niệm đây là môn phụ, là môn khô
khan với những con số sự kiện khó nhớ Quan niệm trên xuất phát một phần do cách
dạy học lịch sử phổ thông hiện nay đó là vẫn tồn tại tình trạng “đọc, chép” khiến cho
học sinh nhàm chán, đây là tình trạng đáng báo động Mặt khác còn do giáo viên chưa
chú trọng việc rèn luyện việc xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước cho học
sinh kết hợp với các câu hỏi nhận thức
Thực tiễn dạy học ở một số trường phổ thông cho thấy, với sự hỗ trợ của ĐDTQƯ và việc rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS qua mỗi giờ học lịch sử đã gây
được hứng thú học tập của học sinh và nâng cao hiệu quả của giờ học
Điều đó không những góp phần hoàn thành mục tiêu kiến thức và bồi dưỡng tư tưởng tình cảm mà còn có ý nghĩa quan trọng để phát triển kĩ năng quan sát, tưởng
tượng, tư duy, ngôn ngữ và khả năng thực hành của học sinh
Xuất phát từ định hướng về đổi mới phương pháp học nội dung, chương trình SGK,
Trang 3vai trò và ý nghĩa của ĐDTQQƯ và đặc biệt là từ thực tiễn sinh động của việc dạy học lịch
sử ở trường THPT, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng và thiết kế đồ dùng trực quan kết
hợp câu hỏi nhận thức trong dạy học bài 12, SGK Lịch sử 12, Chương trình Chuẩn)” làm đề tài nghiên cứu
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận
Vấn đề kĩ năng, và sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp câu hỏi nhận thức trong dạy học đã được các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà sử học, quản lý giáo dục, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công
bố góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng
* Ở nước ngoài:
Trong cuốn “ Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” N.G Đai-ri có đề cập đến
biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan Ông cho rằng: “hơn tất cả các cách thức khác, cách hỏi bằng phương pháp cho lập bảng giúp học so sánh và trên cơ sở đó mà đánh giá các biên số, các quá trình, các hình thái kinh tế xã hội” “Việc hỏi và cách cho lập sơ đồ tổ chức
bộ máy nhà nước cho phép tái hiện sự hiểu biết vấn đề tốt hơn là hỏi cách khác” [4, tr.12]
I.F.Kharlamốp (1978), trong công trình “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”, NXB Giáo dục, Hà Nội, đã khẳng định dạy học là một quá trình lĩnh hội một
cách vững chắc kiến thức của HS, từ đó ông đưa ra yêu cầu về quá trình học tập tích cực của HS
Tìm hiểu các công trình trên, từ đó phân tích, tổng hợp những vấn đề liên quan tới
đồ dùng trực quan, câu hỏi nhận thức và phát huy tính tích cực của HS làm cơ sở quan trọng để chúng tôi khái quát và xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” đã nêu lên những vấn đề cơ bản về kĩ
Trang 4năng và việc rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành sư phạm Lịch
sử
Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1978), trong cuốn “Giáo dục học”, NXB Giáo dục,
Hà Nội, đã nêu lên ý nghĩa và việc sử dụng một số biện pháp nhằm phát huy tính tích
cực học tập của HS như: Sử dụng đồ dùng trực quan, dạy học nêu vấn đề ; Bùi Văn
Huệ (2000) trong cuốn Tâm lí học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội đã nêu lên sự lĩnh
hội trí thức của học sinh là quá trình hiểu biết bản chất sự vật hiện tượng và vận dụng
tri thức vào những tình huống khác nhau, trong đó ông nhấn mạnh đến việc dạy học
lấy HS làm trung tâm; Thái Duy Tuyên (2001) trong cuốn Giáo dục học hiện đại,
NXB Đại học quốc gia Hà Nội; Hồ Ngọc Đại (1985), trong cuốn “Bài học là gì”,
NXB Giáo dục, đều đã đề cập đến các nguyên tắc gây hứng thú, tạo nên tích cực, tự
giác trong học tập của HS Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn
đề có tính chất lý luận về phương pháp dạy học tích cực và bước đầu xây dựng các quy
trình, thiết kế bài học theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học các bộ
môn nói chung
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến vấn đề kĩ năng, rèn luyện kĩ năng một cách chung nhất, chưa có một công trình nào nghiên cứu về quy
trình, biện pháp rèn luyện kĩ năng xây dựng và sử dụng ĐDTQQƯ kết hợp với câu hỏi
nhận thức cho học sinh trong dạy học lịch sử nói chung, bài 12 “Phong trào dân tộc
dân chủ ở Việt Nam từ 1919 đến 1925”, SGK Lịch sử 12, Chương trình Chuẩn)” nói
riêng Đó là nhiệm vụ trọng tâm mà đề tài cần giải quyết
lệ thi tốt nghiệp THPT và Cao đẳng – Đại học luôn cao Trong các kỳ thi chọn học
Trang 5sinh giỏi tỉnh thì trường luôn thuộc tốp đầu trong các trường THPT, ngoài ra còn có nhiều em đạt danh hiệu học sinh giỏi quốc gia
Về phương pháp: Các thầy cô trong tổ có trình độ chuyên môn cao, đầy nhiệt huyết với lòng yêu nghề và luôn tích cực đổi mới phương pháp dạy học: rất chú trọng dạy học theo phương pháp mới - lấy học sinh làm trung tâm, phát triển tư duy cho học sinh
Về thái độ học tập của học sinh: Các em nhiệt tình tham gia hoạt động trên lớp học, đối với các câu hỏi khó, cần yêu cầu tư duy thì các em đều chịu khó tìm hiểu
và chủ động phát biểu Trong các hoạt động giao việc về nhà sưu tầm tài liệu, làm bài
thuyết trình trước lớp cũng được các em tích cực hưởng ứng
Về cơ sở vật chất: Trường có hệ thống cơ sở vật chất thuộc loại tốt và luôn được trang bị hoàn thiện hơn qua các năm học Hiện tại nhà trường có đầy đủ phòng chức năng, phòng nghe nhìn Đặc biệt ở mỗi lớp (thuộc khối 10, 11, 12) được trang bị
1 tivi hiện đại với nhiều chức năng ưu việt
Tất cả những yếu tố trên đã tạo một điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt đề tài này
- Khó khăn: Đa số học sinh đều chọn thi khối A, khối A1, khối B và khối D, số học sinh chọn khối C rất ít nên dường như các em còn rất lơ là với bộ môn Sử vì cho rằng môn Sử sự kiện nhiều lại khó nhớ, có nhớ cũng không nhớ được lâu nên cần phải tạo được sự hứng thú học tập lịch sử cho các em, phát huy được tính tích cực của bộ môn Muốn vậy, giáo viên phải tự tìm tòi, nâng cao chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học Phát triển tư duy độc lập, sáng tạo là một khâu quan trọng trong dạy học lịch sử; tuy vậy, hiện nay một số giờ giảng của giáo viên trên lớp vẫn còn mang tính độc diễn, thầy giáo truyền thụ một chiều Cũng còn có trường hợp, bài giảng của giáo viên chỉ là bản tóm tắt SGK mà không chú ý sử dụng các ĐDTQ cần thiết làm cho giờ học trở nên khô khan và kết quả là HS không hứng thú đối với việc học môn Lịch sử
Cũng như việc học các bộ môn khác ở nhà trường phổ thông, học tập lịch sử là một quá trình nhận thức, mỗi cá nhân phải chủ động thực hiện cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn, điều chỉnh của thầy giáo Học tập lịch sử, HS không chỉ dừng ở việc ghi nhớ các sự kiện, điều quan trọng là phải hiểu bản chất sự kiện, quá trình lịch sử, rút ra quy luật, tìm kiếm bài học từ quá khứ phục vụ cho hiện tại Vì vậy, dạy học lịch sử cần phát huy tính tích cực, sáng tạo từ phía học sinh
Trang 6Chính vì vậy, đề tài tập trung đề xuất các nguyên tắc, biện pháp của việc sử dụng và thiết kế đồ dùng trực quan kết hợp câu hỏi nhận thức trong DHLS ở trường
THPT, cụ thể là bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến
năm 1925”, SGK Lịch sử 12 (Chương trình Chuẩn) Đây là giải pháp thay thế một
phần giải pháp đã có; chưa từng áp dụng tại đơn vị và đã thực hiện có hiệu quả cao
II TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP:
1 Sử dụng đồ dùng trực quan quy ƣớc kết hợp với câu hỏi, bài tập cho HS trong
quá trình hình thành kiến thức mới
Hình thành kiến thức mới là yếu tố chủ yếu của quá trình dạy học ở trường phổ thông Trong quá trình hình thành kiến thức mới cho HS, GV nên kết hợp lời nói với
các phương tiện trực quan và các nguồn kiến thức khác để giúp HS nhớ nhanh, nhớ lâu
kiến thức của bài, đặc biệt cần đặt câu hỏi và hướng dẫn HS trả lời, thảo luận Để
RLKN xây dựng và sử dụng ĐDTQ kết hợp câu hỏi nhận thức cho HS trong quá trình
nghiên cứu kiến thức mới, GV phải kết hợp với nhiều phương pháp khác nhau như kết
hợp với miêu tả, tường thuật, kết hợp với các đồ dùng trực quan khác, đặc biệt là sử
dụng câu hỏi, bài tập nhận thức cùng với hệ thống câu hỏi gợi mở
- Cách thức tiến hành + GV xác định nội dung bài học hoặc một phần của bài học có kiến thức liên quan tới ĐDTQQƯ đang được GV sử dụng để rèn luyện cho HS, lựa chọn các phương
pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học thích hợp
+ GV nghiên cứu các câu hỏi, bài tập có trong SGK hoặc tiến hành xây dựng câu hỏi, bài tập phục vụ cho việc RLKN Đồng thời xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở
hoặc các phương án giải quyết các tình huống có thể xảy ra trong quá trình HS thực
hiện yêu cầu của câu hỏi, bài tập Những câu hỏi, bài tập dùng trong khi nghiên cứu
kiến thức mới phải cụ thể, chi tiết hoặc những câu hỏi khái quát ở mức độ vừa phải,
Trang 7được những nhận xét, kết luận về bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử
+ Xử lí câu trả lời và kết luận kiến thức, kĩ năng Việc xử lí câu trả lời của HS
và các thao tác của HS cần được quan tâm trong mọi trường hợp, mục đích là để vừa tôn trọng ý kiến vừa khuyến khích tinh thần của các em trong những lần làm việc tiếp theo
Ví dụ: Khi dạy bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919 – 1925”, mục II 3 Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, Giáo viên sử dụng lược đồ “Hành
trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1911 – 1941” (xem phụ lục 5)
Và đặt câu hỏi: “Qua các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 đến năm 1925,
em hãy cho biết công lao đầu tiên của Nguyễn Ái quốc với cách mạng Việt Nam?”
Việc hướng dẫn HS xử lí câu hỏi trong những trường hợp này cần được GV gợi ý chi tiết và cụ thể bằng hệ thống câu hỏi gợi mở giúp các em khai thác kiến thức Sử dụng bản đồ kết hợp với câu hỏi nhận thức vừa rèn luyện được kĩ năng thực hành, phát triển kĩ năng tư duy (phân tích, khái quát, nhận xét ) vừa giúp các em nắm kiến thức một cách vững chắc
+ Cuối cùng, GV dùng lược đồ để nhận xét các câu trả lời của HS, bổ sung và kết
luận kiến thức: Qua những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1911 – 1925 thể hiện
vai trò to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Rõ ràng, bằng cách sử dụng câu hỏi, bài tập gắn liền với bản đồ như vậy, GV vừa hướng dẫn HS khai thác kiến thức, khai thác các mối liên hệ Đây là hình thức dạy học có sự tham gia tích cực của HS, tránh được kiểu dạy học cung cấp thông tin một cách tẻ nhạt, gây chán nản, việc tiếp thu kiến thức sẽ hời hợt và không rèn luyện được
Trang 8- Trong kiểm tra bài cũ:
Khi tiến hành kiểm tra bài cũ, GV có thể sử dụng nhiều hình thức câu hỏi khác nhau Có thể kiểm tra cùng lúc 1 – 2 em dùng hình thức hỏi đáp bằng miệng kết hợp
với kĩ năng thực hành
Việc sử dụng ĐDTQ kết hợp câu hỏi nhận thức để kiểm tra bài cũ của HS có tác dụng thúc đẩy và luôn nêu cao ý thức làm bài tập và ôn bài của HS, tạo thói quen
tự học; từ đó, giúp các em rèn luyện kĩ năng và nhớ bài học một cách vững chắc hơn
Đồng thời, giúp GV nắm bắt được tình hình thực tế việc RLKN xây dựng và sử dụng
ĐDTQQƯ cho HS để có biện pháp xử lí, điều chỉnh kịp thời những thiếu sót hoặc sai
sót của HS nhằm hoàn thiện các kĩ năng cho các em
Việc kiểm tra bài cũ là một yêu cầu bắt buộc, GV có thể tiến hành linh hoạt trong quá trình thực hiện tiết dạy Tuy nhiên, do thời gian kiểm tra thường diễn ra ngắn
nên việc đưa ra các câu hỏi, bài tập gắn liền với ĐDTQQƯ để kiểm tra bài cũ cần chú
ý:
+ Chọn những ĐDTQQƯ và kĩ năng mà HS đã được học trong những bài trước
+ GV nêu câu hỏi kiểm tra phù hợp với nội dung kiến thức và phần kĩ năng đã học dựa trên những ĐDTQQƯ có trong bài tập, đồng thời phải chú ý về mặt thời gian
Nội dung thể hiện ĐDTQQƯ và nội dung câu hỏi, bài tập kiểm tra phải phù hợp và có
mối quan hệ với nhau
+ Đối với những kĩ năng mới hình thành hoặc ĐDTQQƯ tương đối khó thì GV nên đưa ra những câu hỏi, bài tập ở mức độ vừa phải hoặc GV gợi ý cho HS cách trả
lời Cần chú ý tới việc tái hiện, nhắc lại các thao tác làm việc với kĩ năng xây dựng và
vào một tình huống mới Do vậy, GV có thể thực hành bằng cách:
+ Ra câu hỏi nhỏ hoặc yêu cầu HS thực hiện bài tập trong SGK
+ Sử dụng các câu hỏi trong SGK sau mỗi bài học để kiểm tra HS
Trang 9+ Thiết kế câu hỏi, bài tập yêu cầu HS xây dựng hoặc quan sát ĐDTQQƯ để trả lời
Trong quá trình thực hiện những cách thức này, ở những bài đầu chỉ là những yêu cầu tương đối đơn giản, sau đó sẽ tăng dần về mức độ khó Trong quá trình HS trả lời, GV yêu cầu cả lớp lắng nghe và quan sát ĐDTQQƯ để có thể trả lời bổ sung Sau khi HS trả lời, GV nhận xét hoặc gọi HS khác nhận xét về bài làm và câu trả lời của bạn Sau đó, GV đánh giá và thông báo điểm Riêng đối với bản đồ (lược đồ), vì thời gian kiểm tra bài cũ có hạn nên thường kiểm tra kĩ năng sử dụng, còn kĩ năng vẽ thường là kiểm tra sản phẩm của HS sau khi các em đã thực hiện ở nhà mà không trực tiếp thực hiện ở khâu kiểm tra bài cũ
Ví dụ: Để kiểm tra và củng cố kĩ năng sử dụng bản đồ (lược đồ) của HS, trước
khi đi vào dạy học phần mới: II, Bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925”, GV có thể sử dụng lược đồ: “Nguồn lợi tư bản Pháp ở Việt Nam trong cuộc khai thác lần hai” (xem phụ lục 4) để kiểm tra bài cũ GV sử dụng câu
hỏi: “Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam như thế nào?” và yêu cầu HS dựa vào lược đồ để trả lời Có thể hướng dẫn các em nắm các kí hiệu, chú giải, gợi ý bằng các câu hỏi gợi mở như sau:
- Trong nông nghiệp, để kiếm lời, thực dân Pháp đã làm gì, tập trung ở đâu?
- Trong công nghiệp, thực dân Pháp đã làm gì, tập trung ở những nơi nào?
- Trong thương nghiệp, thực dân Pháp đã làm gì để kiếm lời?
+ HS phải huy động các kĩ năng sử dụng lược đồ và các kiến thức lịch sử đã được học như:
+ Nhận biết được các kí hiệu, biểu tượng về các sơ đồ khai thác, khu chế biến, diện tích trồng trọt, đồn điền
+ Trên cơ sở đó, cùng với các kiến thức lịch sử đã được học về chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam,
HS phải trình bày được:
• Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, toàn quyền mới của Pháp ở Đông Dương vạch ra chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai nhằm mục đích: tận lực vơ vét, bóc lột, khai thác thuộc địa một cách toàn diện và triệt để, tăng cường đầu tư vốn vào các ngành kinh tế (tăng gấp 6 lần so với lần thứ nhất)
• Về nông nghiệp, tư bản Pháp mở rộng đáng kể diện tích đồn điền trồng các
Trang 10loại cây công nghiệp có giá trị như cao su, chè, cà phê, mía, bông, lúa gạo
• Về công nghiệp, qua các kí hiệu trên bản đồ thể hiện khá rõ sự ưu tiên đầu tiên của Pháp vào các cơ sở khai thác, đặc biệt là ở Bắc Kì, như khai thác than ở Đông
Triều, Hòn Gai, Cẩm Phả , khai thác kim loại màu ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn
Bên cạnh đó là các cơ sở công nghiệp chế biến (xay xát gạo, nấu rượu) và một số cơ sở
sửa chữa cơ khí ở các trung tâm như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh và Sài Gòn
• Về giao thông, thương mại, thực dân Pháp đã cho xây dựng các đường giao thông, các cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn, đường sắt xuyên Việt để phục vụ cho việc
vận chuyển tài nguyên Bên cạnh đó, Pháp còn tăng cường thủ đoạn bóc lột, vơ vét
tiền của nhân dân ta bằng cách đánh thuế nặng Nhờ vậy, nguồn ngân sách thu được ở
Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng đã tăng lên gấp nhiều lần
Trong chương trình khai thác lần thứ hai, thực dân Pháp đẩy mạnh bao chiếm đất đai, thành lập các đồn điền với các quy mô lớn ở Nam Kỳ để khai thác triệt để điều
kiện tự nhiên và bóc lột nhân công rẻ mạt Đồng thời, chúng tăng về quy mô và tốc độ
ngành công nghiệp khai khoáng (than và kim loại), trong đó, tập trung chủ yếu ở miền
Bắc Mặt khác, chúng đã phát triển các nhà máy chế biến công nghiệp nhẹ nhằm tập
trung nguyên liệu và nhân công dồi dào để đem lại cho tư bản ở thuộc địa những
nguồn lợi kích xù trên xương máu của người lao động
Sau khi HS trả lời, GV gọi HS khác nhận xét, bổ sung Cuối cùng GV nhận xét, chốt ý và cho điểm
3 Sử dụng ĐDTQ kết hợp câu hỏi nhận thức cho HS trong bài tập về nhà
Việc ra bài tập về nhà gắn liền với ĐDTQ, giúp HS hiểu rõ hơn kiến thức, rèn luyện được kĩ năng mới học và biết cách vận dụng trí thức đã có, tạo thói quen học tập
ở nhà với ĐDTQ, dựa vào ĐDTQ để củng cố kiến thức đã học ở trên lớp Đồng thời,
nó rèn luyện cho người học năng lực chủ động, tích cực vận dụng các thao tác tư duy
(phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa) Tùy theo nội dung lịch sử và đối
tượng học sinh mà GV lựa chọn bài tập cho phù hợp nhưng phải đảm bảo tính vừa sức
cho HS, không đòi hỏi HS phải bỏ một khối lượng lao động quá nhiều vào đó
- Cách thức tiến hành:
Nhiệm vụ mà GV giao cho HS trong các câu hỏi, bài tập về nhà thường nhằm
để củng cố, nâng cao bài vừa học và sự chuẩn bị bài học sau:
Có nhiều loại bài tập để RLKN xây dựng và sử dụng ĐDTQQƯ cho HS khi học
Trang 11ở nhà như loại bài tập để HS hệ thống kiến thức và nắm kiến thức cơ bản, loại bài tập tường thuật, miêu tả về những sự kiện đã qua: loại bài tập giải thích sự kiện, loại bài tập thực hành Sau khi giao nhiệm vụ, GV phải hướng dẫn các em những kiến thức
và kĩ năng cần đạt của bài tập được giao
Hiệu quả và ý nghĩa của bài tập về nhà được phát huy tốt nhất khi nó gắn liền với kiểm tra đánh giá (trong kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kì, cuối năm ) để khuyến khích, kích thích hứng thú tự học ở nhà của các em
Ví dụ: Sau khi dạy học xong mục III: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, bài 12
“Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925”, ở khâu ra bài tập về nhà nhằm củng cố, nâng cao kiến thức và kĩ năng cho HS, GV có thể đặt câu hỏi, bài tập như sau: “Lập niên biểu hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 đến
1925 theo những nội dung sau: thời gian, nội dung hoạt động, ý nghĩa”
Với sự định hướng của câu hỏi, bài tập và những kĩ năng lập niên biểu đã được rèn luyện, HS phải dựa trên các thao tác tư duy để lựa chọn kiến thức cơ bản, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức mới hoàn thành được bài tập Quá trình đó giúp cho kiến thức và các kĩ năng về bản đồ, niên biểu của các em được củng cố và nâng cao hơn
Các em sẽ hiểu hơn về ý nghĩa trong quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc để thấy được công lao to lớn Người để HS càng cảm thấy tự hào và khắc sâu lòng yêu nước hơn
4 Thiết kế đồ dùng trực quan quy ƣớc ở dạng mở để từ đó đặt câu hỏi nhận thức buộc học sinh phải huy động nhiều thao tác tƣ duy khi nhận thức nội dung lịch sử
Đồ dùng trực quan quy ước dạng mở ở đây có nghĩa là những sơ đồ, bản đồ, niên biểu…có sẵn hay do GV thiết kế nhưng nội dung của nó chưa được thể hiện hết ở trên
đồ dùng trực quan quy ước Để hiểu được toàn bộ nội dung của nó, đòi hỏi HS phải tư duy Tư duy này sẽ có hiệu quả hơn khi GV biết sử dụng câu hỏi nhận thức từ chính đồ dùng trực quan đó Làm được như vậy sẽ có tác dụng rất lớn trong việc phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của HS
Ví dụ khi dạy mục I “Những chuyển biến mới về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất” Để giúp HS chủ động tiếp thu kiến
thức, GV sử dụng câu hỏi nhận thức: “ Tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đối với tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam
Trang 12Nhìn vào sơ đồ trên, HS biết có bốn sự chuyển biến kinh tế nhưng chưa hiểu nội dung Nếu HS vẫn chưa trả lời được câu hỏi nhận thức thì GV phải đặt những câu hỏi
gợi mở để giúp HS tìm ra những nội dung còn thiếu trên sơ đồ Có thể nêu câu hỏi gợi
mở: “Thực dân Pháp du nhập vào Việt Nam nền kinh tế gì?Cơ cấu kinh tế Việt Nam có
chuyển biến hay không?Sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai kinh tế Việt Nam vẫn
chủ yếu là nền kinh tế gì?Kinh tế việt Nam có chuyển biến như thế nào?
HS thông qua tư duy cộng với căn cứ vào các kiến thức đã học và kiến thức mới thể hiện ở sơ đồ để trả lời Cuối cùng GV nhận xét và kết luận những tác động về kinh
tế:
(1) Thực dân Pháp đã du nhập vào Việt Nam quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa trong
một chừng mực nhất định đan xen với quan hệ sản xuất phong kiến
(2) Các ngành kinh tế - kĩ thuật của tư bản Pháp ở Việt Nam phát triển hơn trước song
chỉ mang tính chất cục bộ trong khuôn khổ của nền kinh tế thuộc địa
(3) Kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu ngày càng bị cột
chặt vào kinh tế chính quốc, trở thành thị trường độc chiếm của tư bản Pháp
(4) Sự biến đổi về kinh tế dẫn đến sự biến đổi về xã hội Kinh tế VN có những biến đổi
nằm ngoài ý muốn của thực dân Pháp, làm xuất hiện 1 số ngành kinh tế hiện đại
Những chuyển biến
về kinh tế, xã hội VN sau CTTG I
Trang 13Những tác động về xã hội thì GV có thể đặt câu hỏi gợi ý “ Dưới tác động cuộc khai thác thuộc địa của Pháp thì xã hội VN phân hóa thành mấy giai cấp? Thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp đó?”
Cuối cùng GV nhận xét và kết luận những tác động về xã hội:
(1) Giai cấp địa chủ - phong kiến bị phân hoá: Đại địa chủ: phản động Một bộ phận
không nhỏ tiểu địa chủ và trung địa chủ tham gia phong trào dân chủ chống thực dân Pháp và tay sai
(2) Giai cấp nông dân: Chiếm trên 90% dân số, bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột, bị bần cùng hóa Vì vậy giai cấp nông dân việt Nam là lực lượng to lớn của dân tộc
(3) Giai cấp tiểu tư sản: có tinh thần dân tộc, chống Pháp và tay sai Hăng hái tham gia
các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc
(4) Giai cấp tư sản: phần lớn là nhà thầu cung nguyên liệu, hàng hóa cho Pháp, thế
lực yếu quá trình phát triển phân hoá thành hai bộ phận: Tư sản mại bản, Tư sản dân tộc
(5) Giai cấp công nhân Việt Nam: chịu 2 tầng áp bức đời sống khó khăn, sớm tiếp
thu chủ nghĩa Mác trở thành lực lượng chính trị độc lập và đảm nhận vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Qua đó chúng ta thấy: Việc sử dụng câu hỏi nhận thức từ đồ dùng trực quan quy
ước dạng mở có ý nghĩa rất lớn trong việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS trong học tập, giúp HS ghi nhớ kiến thức lâu hơn, hiểu rõ vấn đề hơn
5 Sử dụng ĐDTQ kết hợp câu hỏi nhận thức để củng cố, khái quát và khắc sâu kiến thức cho học sinh
Việc củng cố kiến thức thường diễn ra sau khi HS học xong một nội dung trong bài hay kết thúc bài học Công việc này có tác dụng giúp HS củng cố, vận dụng và hệ thống hóa kiến thức và kĩ năng đã được học nhằm làm cho nó trở nên vững chắc hơn
và có cơ sở để hiểu những kiến thức khác
Một trong những biện pháp có hiệu quả để khắc sâu kiến thức và củng cố các kĩ năng được học là việc dùng câu hỏi, bài tập để kiểm tra hoạt động nhận thức của HS
Sử dụng câu hỏi, bài tập gắn liền với ĐDTQQƯ để ôn tập, củng cố giúp GV nắm được mức độ lĩnh hội tài liệu nghiên cứu, trình độ hiểu biết kiến thức và kết quả hoạt động nhận thức độc lập và kĩ năng của HS; giúp HS củng cố, vận dụng và hệ thống hóa làm cho nó trở nên vững chắc hơn Đồng thời, GV đánh giá được phần nào mức độ tiếp thu kiến thức, khả năng nắm bắt và thực hành với các kĩ năng xây dựng và sử dụng ĐDTQ
Trang 14để có biện pháp uốn nắn, sửa chữa kịp thời Nội dung các câu hỏi, bài tập để kiểm tra
có thể là những câu hỏi đã đặt ra ở đầu giờ học hoặc có thể đưa ra một số câu hỏi, bài
tập mới thể hiện nội dung cơ bản của bài gắn liền với ĐDTQ Nếu HS hoàn thành tốt
các câu hỏi, bài tập này thì chứng tỏ kế hoạch sư phạm của GV trong giờ học đã đạt
kết quả
Nếu coi việc củng cố bao hàm cả việc nắm, nhớ kiến thức, kĩ năng và cả việc biết hoàn thiện, biết vận dụng kiến thức, phát triển kĩ năng để giúp HS tiếp tục suy
nghĩ thì GV đặt câu hỏi, ra các bài tập nhỏ liên quan đến đồ dùng trực quan quy ước
mang tính chất khái quát HS phải huy động những kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội
được vừa phải tổng hợp, khái quát chúng dưới sự theo dõi, gợi ý, điều chỉnh, uốn nắn
của GV để hoàn thiện nhiệm vụ được giao Với cách thức này, HS có điều kiện phát
huy khả năng học tập độc lập, sáng tạo, kiến thức và kĩ năng sẽ được củng cố và tồn tại
bền vững hơn
Ví dụ sau khi học xong bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919 đến 1925” Trên cơ sở các kiến thức HS đã lĩnh hội được, dưới sự hướng dẫn của GV,
HS có thể lựa chọn các kiến thức để lập bảng hệ thống kiến thức vể phong trào dân tộc
dân chủ ở Việt Nam từ 1919 đến 1925 Qua đó trả lời câu hỏi của GV “ Hãy nêu nhận
xét về phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam trong
Trang 15IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, việc xây sử dụng và thiết kế ĐDTQ kết hợp với câu hỏi nhận thức cho HS đóng vai trò rất quan trọng Nó là cơ sở để giúp
HS hiểu sâu sắc, chân thực hiện thực khách quan và tính chân lí của kiến thức lịch sử, giúp HS trong việc tạo biểu tượng cụ thể, sinh động về bức tranh quá khứ, là chiếc cầu nối giữa “quá khứ” và “hiện tại” Chính vì vậy mà việc RLKN xây dựng và sử dụng ĐDTQ kết hợp câu hỏi nhận thức cho HS trong dạy học lịch sử là rất quan trọng góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
Việc đổi mới phương pháp dạy học phải được tiến hành ở nhiều khâu, nhiều công đoạn của quá trình dạy học, trong đó đặc biệt quan trọng là việc trang bị đầy đủ
đồ dùng, phương tiện dạy học Thực tiễn dạy học lịch sử hiện nay, chúng tôi nhận thấy qua điều tra khảo sát, một số GV vẫn chưa có nhận thức đúng về chức năng của ĐDTQ và câu hỏi nhận thức, việc sử dụng ĐDTQ chưa thường xuyên và còn lúng túng trong việc xác định các biện pháp xây dựng và sử dụng ĐDTQ cho HS Thực trạng trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT Điều này đòi hỏi ngay ở bản thân các trường, tổ chuyên môn và các GV phải tích cực chủ động trong việc xây dựng các loại ĐDTQQƯ trong dạy học là rất cần thiết
Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1925 là một thời kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Là thời kỳ mà Nguyễn Ái Quốc sau bao nhiêu năm bôn
ba khắp năm châu bốn bể, từ một con người yêu nước đã sớm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, sự kiện này đã chấm dứt
sự khủng hoảng về đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam kéo dài từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Để tái tạo cho học sinh nội dung lịch sử giai đoạn này một cách cụ thể, sinh động, đúng như nó đã diễn ra thì trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ cho học sinh tiếp thu kiến thức bằng thính giác mà cả thị giác và để làm được điều này thì một trong những biện pháp có ý nghĩa lớn đó chính là sử dụng và thiết kế đồ dùng trực quan kết hợp câu hỏi nhận thức Việc sử dụng và thiết kế đồ dùng trực quan kết hợp câu hỏi nhận thức có vai trò quan trọng trong việc phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông
Để việc sử dụng sử dụng và thiết kế đồ dùng trực quan kết hợp câu hỏi nhận thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có hiệu quả, luận văn đã đề xuất một số biện pháp cụ thể và được thực nghiệm sư phạm, tuy nhiên trong quá trình dạy học giáo
Trang 16viên phải sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học khác, kết hợp với các
phương tiện dạy học hiện đại Không có biện pháp nào là tuyệt đối, do vậy việc sử
dụng hài hòa, hợp lý giữa các biện pháp sẽ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng
cao hiệu quả bài học
Để thực hiện đầy đủ các nguyên tắc và biện pháp sư phạm nêu trên, đòi hỏi giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm, không ngừng học hỏi, bồi dưỡng trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và cố gắng trong công tác giảng dạy của mình
V ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã đạt được của đề tài, với mong muốn góp
phần nâng cao việc sử dụng sử dụng và thiết kế đồ dùng trực quan kết hợp câu hỏi
nhận thức trong dạy học lịch sử chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau đây:
Đối với giáo viên:
+ Khi sử dụng và thiết kế ĐDTQ kết hợp với câu hỏi nhận thức để dạy học lịch sử trong trường THPT cần quán triệt tinh thần xuyên suốt trong tất cả các khâu của
quá trình sư phạm là làm thế nào phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS;
làm cho HS hứng thú, yêu thích học tập bộ môn Lịch sử và có ý thức vận dụng những
kiến thức lịch sử đã học để góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong
học tập cũng như trong cuộc sống
+ Để thực hiện tốt biện pháp này, mỗi GV phải chịu khó học hỏi, sưu tầm và thiết kế ĐDTQ kết hợp với câu hỏi nhận thức, đồng thời phải nắm bắt và sử dụng
thành thạo các thiết bị dạy học Tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hàng
năm, thường xuyên cập nhật thông tin có liên quan đến nghiệp vụ sư phạm nói chung
và các chuyên đề về sử dụng ĐDTQ trong DHLS nói riêng để không ngừng nâng cao
trình độ Quan tâm, tổ chức cho HS sưu tầm tư liệu, tranh ảnh, tham quan bảo tàng,
khu di tích lịch sử, tham gia các buổi ngoại khóa do tổ bộ môn và nhà trường tổ chức
- Đối với các cấp quản lý giáo dục
+ Chúng tôi đề nghị cần quan tâm đầu tư thích đáng cho hệ thống thư viện, trang bị cho thư viện các bộ sưu tập tranh ảnh, băng hình lịch sử vớí chất lượng in ấn
đẹp để sử dụng đi kèm với các thiết bị dạy học tương ứng
+ Xây dựng và sử dụng có hiệu quả phòng học bộ môn Lịch sử của trường nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các thiết bị và đồ dùng dạy học
Cùng với những môn học khác, nhiệm vụ cao cả của bộ môn Lịch sử trong nhà trường