1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở việt nam

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 347,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyển dịch cơ cấu nhằm mục tiêu phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của đất nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp, hoá hiện đại hoá đất nước, tăng khả năng cạnh tranh của nền

Trang 1

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển kinh tế, vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn nhất định vừa là yếu tố cực kỳ quan trọng thúc đẩy phát triển, đưa quốc gia tiến lên một trình độ mới

Nhận thức được tầm quan trọng của chuyển dịch, Việt Nam đã coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Bởi nó phản ánh trình độ, tính chất và hiệu quả của sự phát triển Chuyển dịch cơ cấu nhằm mục tiêu phát triển nhanh và bền vững kinh tế -

xã hội của đất nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp, hoá hiện đại hoá đất nước, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình tham gia hội nhập

Đóng góp vào quá trình chuyển dịch ấy phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp đạt được hiệu quả trong chuyển dịch sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc Trong giai đoạn 2001 – 2005, cơ cấu ngành công nghiệp đã đạt được mở rộng theo hướng phát triển những ngành mới hiện đại hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm Song bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều khuyết điểm và hạn chế cần phải khắc phục để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Do đó em đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá tình

hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở

Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005”

NỘI DUNG

Trang 2

I Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng trong

kế hoạch 5 năm 2001 – 2005

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hóa là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm mục tiêu tổng quát đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đưa nước ta cơ bản đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp hiện đại Do đó trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra mục tiêu cơ cấu ngành kinh tế trong GDP đến năm 2005 như sau:

Tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp 20 – 21%

Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng khoảng 38 – 39%

Tỷ trọng dịch vụ 41 – 42%

Riêng đối với ngành công nghiệp và xây dựng, hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là:

- Tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến trong GDP của toàn nền kinh tế bởi tỷ trọng của ngành là một trong những tiêu chí quan trọng quyết định sự chuyển đổi từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp

- Giảm dần tỷ trọng của công nghiệp khai thác trong GDP bởi một quốc gia phát triển nhờ vào khai thác cạn kiệt tài nguyên là sự phát triển không bền vững

- Phát triển những ngành công nghiệp công nghệ cao đặc biệt là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử Từ đó gia tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp

II Tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2001 – 2005

1 Kết quả thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu của ngành công nghiệp – xây dựng

Trang 3

Nhằm thực hiện mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra trong kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, ngành công nghiệp đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Nhờ vậy, tỷ trọng của công nghiệp – xây dựng trong GDP không ngừng tăng lên trong những năm qua

Bảng 1: Tỷ trọng của ngành công nghiệp - xây dựng trong GDP qua các năm

Đơn vị: %

Năm 1995 1997 1999 2001 2002 2003 2004 2005

Kế hoạch

Ước

TH

GDP (giá h.hành)

100 100 100 100 100 100 100 100 100

Công nghiệp-xây dựng

28,75 32,06 34,49 38,18 38,49 39,47 40,09 38-39 41

Công nghiệp 21,85 25,52 29,05 32,32 32,59 33,14 33,84

Xây dựng 6,9 6,54 5,44 5,8 5,89 6,05 6,25

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Qua bảng số liệu tỷ trọng của ngành công nghiệp – xây dựng chiếm trong GDP tăng liên tục từ 28,75% năm 1995 lên 40,09% năm 2004 Phần trăm của công nghiệp – xây dựng trong tổng sản phẩm quốc dân năm 1995 chỉ cao hơn nông nghiệp 1,57% thì đến năm 2004 ngành công nghiệp – xây dựng đã gấp gần

2 lần phần trăm của nông nghiệp Điều này cho thấy sự tiến bộ vượt bậc của ngành trong những năm gần đây Trong giai đoạn 2001 – 2005, tỷ trọng trong GDP của công nghiệp – xây dựng đã tăng 2,82%, bình quân 5 năm tăng 0,56%

Năm 2005, ngành chiếm 41% trong GDP vượt mục tiêu của kế hoạch

Trang 4

2001- 2005 là 2 – 3% Với đà phát triển như vậy thì khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm trong GDP đến năm 2010 sẽ vượt chỉ tiêu 42 - 43% của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010

1.1 Xây dựng

Trong giai đoạn 2001 – 2005, tỷ trọng của xây dựng trong tổng sản phẩm quốc dân tăng từ 5,8% năm 2001 lên 6,25% năm 2004, bình quân tăng 0,11% / năm Như vậy, ngành xây dựng đã có sự chuyển dịch tích cực theo đúng mục tiêu mà kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành đặt ra Nhưng nếu so với tỷ trọng của ngành vào năm 1995 lại cao hơn 0,75% năm 2004, nguyên nhân là do

sự gia tăng đột ngột của giá xăng dầu, giá thép; sự chậm trễ của công tác giải phóng mặt bằng và những bất cập trong quản lý đầu tư là những lý do chủ yếu hạn chế tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng Mặc dù vậy ngành xây dựng đã

có những bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở cũng như những công trình quy mô lớn đòi hỏi chất lượng cao, công nghệ hiện đại trong và ngoài nước Công nghiệp vật liệu xây dựng đã chú trọng đầu tư và nâng cao chất lượng sản phẩm Nhiều dây chuyền công nghệ có quy mô lớn, hiện đại đã được đưa vào sử dụng, đặc biệt là xi măng, gạch, sứ vệ sinh Nhờ vậy mà sản lượng xi măng sản xuất đã hoàn thành kế hoạch đặt ra, thực hiện năm 2005 là 29,3 triệu tấn trong khi kế hoạch đặt ra chỉ

cần 24,5 triệu tấn hay hoàn thành 119,6% mục tiêu kế hoạch (xem chi tiết bảng 3 )

1.2 Công nghiệp

Giá trị của ngành công nghiệp do sự đóng góp của ba ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, gas, nước Nếu coi GDP của ngành công nghiệp là 100% ta sẽ có tỷ trọng của những ngành nêu trên đóng góp trong GDP công nghiệp

Bảng 2: Cơ cấu tổng sản phẩm quốc dân phân theo ngành

công nghiệp giai đoạn 1995 -2004

Trang 5

Đơn vị: %

Công nghiệp(CN) 100 100 100 100 100 100 100

CN khai thác 22,01 24,69 29,00 28,50 26,42 28,18 30,05

CN chế biến 68,60 64,58 60,90 61,20 63,15 61,71 60,05

CN điện, gas, nước 9,39 10,73 10,10 10,30 10,43 10,11 9,9

Nguồn: Tổng cục Thống kê

a Ngành công nghiệp khai thác

Tỷ trọng của công nghiệp khai thác trong GDP công nghiệp liên tục tăng

từ 22,01% năm1995 lên 30,05% năm 2004 Đây là sự phát triển không phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Nếu tỷ trọng của ngành tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo sẽ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo được, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của một quốc gia Đối với Việt Nam đi lên từ sản xuất nhỏ, lạc hậu thì ban đầu phải dựa vào nguồn thu của ngành để tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển Sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp khai thác mà điển hình là ngành khai thác dầu, đã đóng góp không nhỏ cho quá trình công nghiệp hoá đất nước Sản lượng dầu thô khai thác tăng liên tục qua các năm 2001: 16,8 triệu tấn; 2003: 17,6 triệu tấn, năm 2004:

20,0 triệu tấn và ước tính năm 2005 sản lượng là 18,5 triệu tấn Mặc dù sản lượng có giảm vào năm 2005( giảm 1,5 triệu tấn so với năm 2004) song ngành dầu khí đã tạo ra những sự thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến và mở ra triển vọng phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác Ngoài

ra cũng phải kể đến những ngành khai thác có tốc độ phát triển cao đang dần chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển của công nghiệp Cụ thể là ngành công nghiệp nguyên liệu than Ước tính năm 2005 sản lượng than khai thác được là 27

Trang 6

triệu tấn (tăng 0,7 triệu tấn so với năm 2004) Sản lượng than khai thác năm 2005

hoàn thành 168,7% mục tiêu kế hoạch 2001 – 2005 (xem chi tiết bảng 3) Có thể

nói trong những năm gần đây, công nghiệp khai thác đã đóng góp rất nhiều cho

sự phát triển của ngành công nghiệp nói riêng cũng như toàn bộ khu vực công nghiệp – xây dựng nói chung

b Ngành công nghiệp chế biến

Tỷ lệ của ngành công nghiệp chế biến trong GDP công nghiệp có xu hướng giảm từ 68,6% năm 1995 xuống 60,05% năm 2004, mặc dù tỷ lệ này có tăng lên trong những năm 1999 – 2003 Mặt khác, tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp chế biến năm 2004 chỉ đạt 20,3% và với tốc độ tăng trưởng liên tục giảm giai đoạn 2001 - 2004 thì đến 2020 tỷ trọng của ngành trong GDP vẫn dưới 30% ( thấp hơn ranh giới 37% mà các chuyên gia quốc tế cho rằng là điều kiện

để chuyển từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp) Sự đóng góp của ngành công ngiệp chế biến vào sự phát triển của ngành công nghiệp nói riêng cũng như cả nền kinh tế nói chung là chỉ tiêu quan trọng để một quốc gia được đánh giá chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền công nghiệp hiện đại Nhưng ở Việt Nam tỷ trọng của ngành này lại đang có xu hướng giảm, một

xu hướng không phù hợp với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Ngành công nghiệp chế biến đã không hoàn thành nhiệm vụ mà toàn nền kinh tế giao phó Sản phẩm của công nghiệp chế biến bao gồm hai loại: nông sản chế biến và sản phẩm chế tạo Đối với nông sản chế biến do công nghệ lạc hậu, cơ sở

kỹ thuật chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên những nông sản xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô mới chỉ qua sơ chế Do đó, đóng góp của chế biến nông sản thấp và hạn chế khả năng cạnh tranh sản phẩm so với các nước trong khu vực Đối với sản phẩm chế tạo do chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao và sự phụ thuộc vào giá nguyên liệu nhập khẩu Sản phẩm của ngành chủ yếu vẫn là những sản phẩm mang tính gia công lắp ráp như dệt may, da giầy, ô tô, xe máy và sản lượng liên tục tăng trong những năm 2001 -2004 Ví dụ: ti vi lắp ráp tăng từ 1,1 triệu chiếc

Trang 7

năm 2001 lên 2,5 triệu chiếc năm 2004 ( tăng 27,3%) Sản lượng vải lụa sản xuất

cũng tăng đều qua các năm bình quân 9,3% năm ( xem chi tiết bảng 3) Chúng ta

mới chỉ thực hiên gia công sản phẩm mà không phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào để từ đó giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế Những ngành có hàm lượng công nghệ cao, có khả năng tạo giá trị tăng thêm, nhất là công nghệ thông tin khởi đầu từ việc lắp ráp một số linh kiện như mạch in, bóng hình còn phát triển chậm Đóng góp vào giá trị gia tăng của ngành công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn là những ngành sản xuất thay thế nhập khẩu và được hưởng chính sách bảo hộ của Nhà nước Do đó hạn chế khả năng cạnh tranh của ngành được bảo hộ nói riêng cũng như ngành công nghiệp chế biến nói chung

c Các ngành công nghiệp điện, gas và cung cấp nước Những ngành này là cơ sở hạ tầng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, do đó được chú trọng đầu tư phát triển Đóng góp của ngành trong GDP công nghiệp mặc dù tăng trong những năm 1997 – 2002 nhưng từ năm 2003 trở về đây tỷ trọng của ngành có xu hướng giảm từ 10,43% năm 2002 xuống 10,11%

năm2003 và năm 2004 chỉ còn 9,9% Mặc dù vậy, ngành đã có những đóp góp quan trọng cho sự phát triển chung của toàn bộ khu vực II công nghiệp và xây dựng.Về điện đã phát triển nguồn cung cấp cả về thuỷ điện và nhiệt điện nên sản lượng điện phát ra tăng từ 30,7 tỷ KWh năm 2001 lên 46 tỷ KWh năm 2004, bình quân tăng 3,8 tỷ KWh / năm Ước tính năm 2005 sản lượng điện sản xuất ra

là 51,7 tỷ KWh, hoàn thành 117,5% mục tiêu kế hoạch 2001 – 2005 (xem chi tiết bảng 3) Đây quả thực là một dấu hiệu đáng mừng trong việc kết hợp 2 nguồn

cung cấp điện: nhiệt điện và thuỷ điện Mạng lưới điện cũng được đầu tư đảm bảo cung cấp điện cho nông thôn và một số vùng sâu, vùng xa Bên cạnh đó, nguồn nước sạch cũng được cung cấp cho cả nông thôn, thành thị, thực hiên đồng bộ quy hoạch cung cấp điện nước cho các khu công nghiệp

Trang 8

Bảng 3: Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành

công nghiệp – xây dựng

Chỉ tiêu Đơn vị

tính

2001 2002 2003 2004 Kế

hoạch

2005

Thực hiện

2005

Dầu thô Than

Triệu tấn Triệu tấn

16,8

12,9

16,8

16,3

17,7

19,6

20,0

26,3 15 - 16

18,5

27,0

Ti vi Vải lụa

Ng.chiếc Triệu m

1126

402

1597

455

2099

476

2478

Xi măng

Triệu tấn 15,4 20,4 23,3 25,3 24,5 29,0

Điện phát ra Tỷ KWh 30,6 35,8 40,8 46,2 44,0 51,7

Nguồn: Dự thảo kế hoạch phát triển KT – XH 2006 – 2010

2 Ngành công nghiệp – xây dựng - đầu tầu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Kết quả nổi bật của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là xu hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, ổn định tỷ trọng khu vực dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong GDP nhưng giá trị tuyệt đối của từng ngành đều tăng năm sau

so với năm trước

Bảng 4: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế

Đơn vị: %

Trang 9

Năm 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005

(ước thực hiện)

Nông nghiệp

38,74 27,18 24,53 23,24 23,03 22,34 21,76 20,5

CN - XD 22,67 28,76 36,73 38,13 38,49 39,47 40,09 41 Dịch vụ 38,59 44,06 38,74 38,63 38,48 37,99 38,15 38,5

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Qua bảng trên ta thấy: trong giai đoạn 1990 – 2005, cơ cấu nền kinh tế quốc dân có bước chuyển biến theo hướng tích cực Tỷ trọng khu vực nông nghiệp liên tục giảm từ 38,74% năm 1990, 24,53% năm 2000 xuống còn 20,5%

năm 2005 Từ chỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế năm1990 thì đến năm 2005, ngành lại chiếm tỷ trọng nhỏ nhất

Đối với khu vực dịch vụ thì sau khi đạt tỷ trọng cao nhất 44,06% năm

1995 thì tỷ trọng của ngành lại có xu hướng giảm liên tục cho đến 2003.Tương ứng với sự giảm tỷ trọng này là sự tăng lên liên tục về tỷ trọng của ngành công nghiệp – xây dựng Nếu vào năm 1990, ngành công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong nền kinh tế: 22,67% , chỉ bằng 0,58 lần so với tỷ trọng của ngành nông nghiệp thì đến năm 1995, tỷ trọng của ngành đã vượt nông nghiệp 0,58% (công nghiệp – xây dựng: 28,76%, nông nghiệp: 27,18%) và cho đến

2005 thì tỷ trọng của ngành đã gấp đôi nông nghiệp (công nghiệp – xây dựng:

41%, nông nghiệp: 20,5%) Như vậy, đóng góp của ngành công nghiệp – xây dựng trong GDP đã tăng liên tuc qua các năm , từ chỗ còn rất nhỏ bé trong nền kinh tế quốc dân thì đến nay đã đạt mức đóng góp lớn nhất Do mức đóng góp như vậy mà tỷ lệ đóng góp của ngành vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng tăng

Trang 10

lên tương ứng

Bảng 5: Tỷ lệ đóng góp của từng khu vực vào tốc độ tăng GDP cả nước

Đơn vị: %

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Ngành công nghiệp – xây dựng đã đóng góp vào tỷ lệ tăng trưởng một cách tích cực Thể hiện: tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng tăng liên tục từ 2,72%

năm 2000 lên tới 3,2% năm 2004 Như vậy ngành đã vươn lên, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế, và đang tạo đà cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, xứng đáng là đầu tầu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

3 Cơ cấu ngành kinh tế trong quan hệ so sánh với các nước trong khu vực

Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỉ XXI - chiến lược đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp – chúng ta đã không ngừng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp nhưng giá trị sản xuất của ngành vẫn phải tăng và đã đạt được những thành tựu rực rỡ Chúng ta đã duy trì được tỷ lệ tăng trưởng khá cao 7,5%

/ năm giai đoạn 2001 – 2005 Tuy nhiên, nếu lấy cơ cấu ngành kinh tế làm một thước đo về trình độ phát triển thì cơ cấu kinh tế Việt Nam năm 2003 chỉ tương đương với cơ cấu kinh tế của các nước trong khu vực vào những năm 80 của thế

Ngày đăng: 10/10/2022, 15:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp – xây dựng  - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở việt nam
Bảng 3 Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp – xây dựng (Trang 8)
Qua bảng trên ta thấy: trong giai đoạn 1990 – 2005, cơ cấu nền kinh tế quốc  dân  có  bước  chuyển  biến  theo  hướng  tích  cực - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở việt nam
ua bảng trên ta thấy: trong giai đoạn 1990 – 2005, cơ cấu nền kinh tế quốc dân có bước chuyển biến theo hướng tích cực (Trang 9)
Bảng 5: Tỷ lệ đóng góp của từng khu vực vào tốc độ tăng GDP cả nước Đơn vị: %  - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở việt nam
Bảng 5 Tỷ lệ đóng góp của từng khu vực vào tốc độ tăng GDP cả nước Đơn vị: % (Trang 10)
3. Cơ cấu ngành kinh tế trong quan hệ so sánh với các nước trong khu vực  - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở việt nam
3. Cơ cấu ngành kinh tế trong quan hệ so sánh với các nước trong khu vực (Trang 10)
Bảng 6: Cơ cấu nền kinh tế các nước trong khu vực Đông Na mÁ năm2003 Đơn vị: %  - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở việt nam
Bảng 6 Cơ cấu nền kinh tế các nước trong khu vực Đông Na mÁ năm2003 Đơn vị: % (Trang 11)
Bảng 7: Tỷ lệ đóng góp của lao động và vốn đầu tư trong ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2001 – 2005  - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở việt nam
Bảng 7 Tỷ lệ đóng góp của lao động và vốn đầu tư trong ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2001 – 2005 (Trang 14)
Bảng 8: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế giai đoạn 2001 -2005 - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng ở việt nam
Bảng 8 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế giai đoạn 2001 -2005 (Trang 15)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w