Qua khảo sát cho thấy, tại các trường Đại học tiên tiến trên thế giới, thường xuyên có các cuộc khảo sát về sự thỏa mãn của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ học tập: từ các dị
Trang 1Thực tế cho thấy, song song với tốc độ phát triển kinh tế thì đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt Vì vậy nhu cầu về học tập, về giáo dục là một nhu cầu rất lớn và giáo dục là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Xét về mặt quản lý thì hoạt động giáo dục cũng như nhiều loại hình hoạt động xã hội tương tự khác, là hoạt động cung ứng dịch vụ cho con người và khách hàng trưc tiếp của nó chính là học sinh sinh viên
Nói riêng về bậc đại học, thì tại đây sinh viên nhận được rầt nhiều các dịch vụ được cung cấp tại trường Ngoài các dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đào tạo thì không thể không nhắc đến các dịch vụ hỗ trợ học tập nhằm giúp công tác đào tạo đạt hiệu quả cao nhất Đây là các dịch vụ không thể thiếu trong một trường đại học, nó có một tầm quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đào tạo Hiện nay, các trường đại học ở Việt Nam nói chung, vẫn thường xuyên tổ chức các diễn đàn để nghe ý kiến của sinh viên Qua đó, ngoài các yếu tố khác thì lãnh đạo nhà trường cũng muốn nghe ý kiến sinh viên về chất lượng của các dịch vụ hỗ trợ học tập tại trường Nhưng những ý kiến trên thường không được toàn diện và chính xác vì tâm lý e ngại và không dám nói thẳng, vì vậy các nhà quản lý nên chăng tìm cách tốt hơn để đo lường và mô tả
sự hài lòng của sinh viên Kết quả đạt được từ những nghiên cứu này sẽ giúp nhà quản lý nhận ra được vấn đề chất lượng cần giải quyết và giảm thiểu được khoảng cách giữa cái mong đợi và cái nhận được
Qua khảo sát cho thấy, tại các trường Đại học tiên tiến trên thế giới, thường xuyên có các cuộc khảo sát về sự thỏa mãn của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ học tập: từ các dịch vụ hỗ trợ trực tiếp như hệ thống thư viện, phòng thí nghiệm… đến các dịch vụ gián tiếp như y tế, nhà để xe… và các dịch vụ hành chính ; từ đó cho thấy được tầm quan trọng của loai dịch vụ này
Tại đây, sinh viên đóng một vai trò quan trọng đối với các hoạt động đánh giá,
do đó nhà trường sẽ biết được sinh viên muốn gì và biết phải hành động như như thế nào Còn ở Việt Nam, các trường đại học nhìn chung vẫn đang dè dặt đối với việc sử dụng ý kiến sinh viên như một kênh thông tin để đánh giá hoạt động của trường và đã có nhiều sinh viên không được thỏa mãn về chất lượng các dịch vụ
hỗ trợ học tập nhưng thường thì lãnh đạo nhà trường không biết hoặc biết nhưng chưa toàn diện và chưa định hướng được phải ưu tiên giải quyết từ đâu Vì vậy, việc sử dụng ý kiến đóng góp của sinh viên cho các hoạt động dịch vụ của trường nên trở thành một điều bắt buộc và cần thiết ở các trường đại học ở Việt Nam nói chung và trường đại học Bách Khoa nói riêng Điều này mang một ý nghĩa to lớn, là một hoạt động thiết thực đóng góp vào sự nghiệp giáo dục chung
Trang 2Qua các vấn đề nêu trên tôi quyết định chọn đề tài: “ Đánh giá sự thỏa
mãn của sinh viên về chất lượng của một số các dịch vụ hỗ trợ tại trường ĐHBK TpHCM”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Xác định khoảng cách sự mong đợi và cảm nhận của sinh viên về mức độ dịch vụ hiện tại dựa trên các thành phần chất lượng dịch vụ của Servqual
Xác định tầm quan trọng của các thành phần dịch vụ
Đưa ra các kiến nghị giải pháp nhằm cải thiện dịch vụ tốt hơn
1.3 PHẠM VI ĐỀ TÀI:
Đối tương nghiên cứu: Nhằm tăng hiệu quả nghiên cứu thì đối tượng
nghiên cứu là các sinh viên ĐHBK từ năm 3 trở lên Đây là đối tượng đã trải qua nhiều năm học tại trường, sẽ đưa ra các nhận xét chính xác và
toàn diện hơn
Giới hạn về đề tài nghiên cứu: qua khảo sát sơ bộ, nhận thấy hầu hết các
sinh viên chú trọng nhất đến một số loại dịch vụ trong trường là: dịch vụ thư viện, dịch vụ hành chính thủ tục giấy tờ và websites Do giới hạn về thời gian, nên sinh viên chỉ thực hiện khảo sát hai loại dịch vụ được quan tâm nhất là: dịch vụ thư viện và dịch vụ hành chính thủ tục đăng ký giấy
tờ
1.4 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI:
Đứng trên quan điểm nhà quản lý thì hoạt động giáo dục, cũng như rất nhiều loại hình hoạt động xã hội tương tự khác, là hoạt động cung ứng dịch vụ cho con người Trong dịch vụ gồm có dịch vụ cốt lõi và dịch vụ hỗ trợ, vậy trong giáo dục chính là dịch vụ đào tạo và các dịch vụ hỗ trợ sinh viên Đặc biệt trong đó việc nghiên cứu sự thỏa mãn của sinh viên đối với các dịch vụ hỗ trợ trong nhà trường được thực hiện thường xuyên hằng năm hoặ hai năm một lần
Từ đó cho thấy tầm quan trọng củaloại dịch vụ này
Trường đại học Bách Khoa là một trong những trường Đại học lớn nhất ở Việt Nam, cả về quy mô lẫn chất lượng Hằng năm, thông qua các hội thảo, diễn đàn nhà trường cũng muốn nghe ý kiến sinh viên về chất lượng dịch vụ tại trường nhưng nó chỉ dừng lại những ý kiến đóng góp về dịch vụ đào tạo còn những dịch vụ hỗ trợ khác thường không được quan tâm đúng mức Hiện nay, ở các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới thì vấn đề nghiên cứu sự thỏa mãn của sinh viên đối với các dịch vụ hỗ trợ trong trường đại học không có gì mới mẽ, ở đó sinh viên đóng một vai trò quan trọng đối với hoạt động đánh giá
Trang 3chất lượng, qua các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, nổi bật lên một vấn đề là sinh viên là người có đủ điều kiện nhất trong việc đóng góp ý kiến cho các hoạt động của nhà trường Vì vậy việc sử dụng ý kiến của sinh viên nên trở thành một hoạt động thường xuyên cho các trường đại học ở Việt Nam nói chung và trường đại học Bách Khoa nói riệng Vì vậy đề tài mang một ý nghĩa thiết thực, là nguồn tài liệu tham khảo cho nhà trường, giúp tìm ra nguyên nhân của vấn đề chất lượng, là cơ sở để cải thiện các vấn đề này tốt hơn
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 DỊCH VỤ
Khi xã hội loài người xuất hiện nền sản xuất hàng hoá thì hoạt động dịch
vụ đồng thời xuất hiện như một đòi hỏi khách quan Xã hội phát triển với nền kinh tế thị trường hiện đại, đã và đang đòi hỏi dịch vụ tiếp tục phát triển và phong phú hơn
Trang 42.1.1 Khái niệm về dịch vụ
Trên thế giới ngày nay, nền kinh tế không chỉ đơn thuần với các sản phẩm vật chất cụ thể, mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ Dịch vụ đã được coi là ngành công nghiệp không khói Tổng thu nhập quốc dân của một quốc gia cũng như doanh thu của một doanh nghiệp không thể không tính đến sự đóng góp của lĩnh vực dịch vụ Ở các nước phát triển, tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc gia thường rất cao Nhiều tổ chứac cánhân đầu tư không ít tiền của vào các hoạt động dịch vụ bởi một lẽ đơn giản là nó đem lại lợi thế kinh
tế cao và đang là xu thế thời đại Vậy dịch vụ là gì?
Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước nơi mà khác hàng và nhà cung cấp dịch vụ tiếp xúc với nhau Mục đích của việc tiếp xúc này là nhằm thõa mãn nhu cấu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng
Một định nghĩa khác về dịch vụ:
Dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn tới việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người
2.1.2 Những đặc điểm cơ bản về dịch vụ
Tính vô hình
Dịch vụ không thể lưu kho cất trữ
Dịch vụ không thể được cấp bằng sáng chế
Dịch vụ không thể trưng bày hay quảng bá
Việc định giá khó khăn
Trang 5 Tính sản xuất và tiêu thụ đồng thời
Khách hàng tham gia vào và ảnh hưởng vào quá trình thực hiện dịch
vụ
Khách hàng tác động lẫn nhau
Nhân viên ảnh hưởng đến kết quả dịch vụ
Việc phân quyền là điều tất yếu
Sản xuất lớn rất khó khăn
Tính mau hư hỏng
Khó đồng bộ hóa cung và cầu với dịch vụ
Dịch vụ không thể hoàn tra, thu hồi hay bán lại
2.1.3 Phân biệt giữ hoạt động dịch vụ với hoạt động của các ngành sản xuất vật chất
Cần phân biệt hoạt động dịch vụ với hoạt động của các ngành sản xuất vật chất theo ba tiêu thức sau:
Một là, hoạt động của các ngành sản xuất vật chất thì chế tạo ra các sản phẩm vật chất Các sản phẩm này có các tiêu chuẩn kỹ thuật có thể xác định được Hoạt động dịch vụ thì không thể xác định cụ thể băng các tiêu chuẩn kỹ thuật, bằng các chỉ tiêu chất lượng hay được lượng hoá một cách rõ ràng Sản phẩm dịch vụ là một sản phẩm khó đánh giá chất lượng Chất lượng của sản phẩm dịch vụ phụ thuộc vào người bán, người mua, thời điểm bán mua dịch vụ
Người được phục vụ chỉ có thể đánh giá các sản phẩm dịch vụ bằng cảm giác hoặc quan niệm là tốt hay xấu trên cơ sở cảm nhận của họ thông qua thực tế được phục vụ Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời
Hai là hoạt động sản xuất vật chất chế tạo ra các sản phẩm vật chất Các sản phẩm này có thể được cất giữ trong kho hoặc có thể đem bán bằng cách vận chuyển di các nơi để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng thông qua điều tiết của quy luật cung cầu Hoạt động dịch vụ tạo ra sản phẩm dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ được diễn ra đồng thời nên sản phẩm dịch vụ không thể cất giữ trong kho để chờ nhu cầu thị trường như sản phẩm vật chất Hoạt động dịch vụ thường xuất hiện ở các địa điểm và thời gian có nhu cầu cần phải đáp ứng kịp thời
Ba là, hoạt động sản xuất vật chất tạo ra sản phẩm vật chất có chất lượng cao, tạo ra uy tín cho hãng sản xuất và kinh doanh Khách hàng có thể dựa vào mác, mã, ký hiệu sản phẩm của hãng ấy để lựa chọn sản phẩm, không cần biết
Trang 6đến người sản xuất hay chủ hãng Nhưng sản phẩm của chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất cao vào chất lượng tiếp xúc, vào sự tác động qua lại giữa người làm dịch vụ và người được phục vụ, ấn tượng đọng lại đối với người được phục vụ là quan hệ giao tiếp, là sự đáp ứng kịp thời những nhu cầu về những dịch vụ và người làm dịch vụ trực tiếp phục vụ khách hàng
Cần chú ý rằng hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động dịch vụ có những điểm khác biệt như đã nêu trên Tuy nhiên việc phân định ranh giới một cách cứng nhắc sẽ dẫn tới sai lầm Chẳng hạn trong hoạt động dịch vụ cũng có thể tạo ra sản phẩm vật chất của mình như nhân viên thẩm mỹ viện làm cho khuôn mặt khách hàng đẹp thêm: sống mũi cao thêm, nếp nhăn giảm đi…
Những đặc điểm trên đã tạo ra những nét đặt thù cho những doanh nghiệp dịch vụ Nếu các doanh nghiệp sản xuất cần 4P: Product, Place, Price, Promotion cho hoạt động của mình thì cá nhà kinh doanh dịch vụ cần 5P gồm 4P kể trên và thêm 1P đó là People (yếu tố con người)
Quy mô sản xuất ngày càng tăng, tiến bộ khoa học kỹ thuật và các mối quan hệ giao dịch thương mại càng phát triển thì càng đặt ra nhiều yêu cầu mới cho hoạt động dịch vụ thương mại, trong đó kể cả hoạt động dịch vụ khách hàng: trước, trong và sau khi bán hàng
2.1.4 Phân loại dịch vụ 2.1.4.1 Phân loại dịch vụ theo những đặc điểm khác nhau
Thứ nhất, phân theo nguồn gốc của dịch vụ: dịch vụ có nguồn gốc là con người hay thiết bị, máy móc? Trong số dịch vụ có nguồn gốc là con người, có dịch vụ có nhân lực chuyện nghiệp ( kế toán, tư vấn về cá vấn đề quản lý) hay những chuyên gia lành nghề ( sữa chữa thiết bị vệ sinh, sữ chữa ôtô), hay nhân lực không có tay nghề ( quét dọn, chăm sóc vườn hoa) Những dịch vụ có nguồn gốc máy móc bao gồm: những dịch vụ cần máy móc tự động ( máy tự động rửa hàng, máy tự động rửa xe ôtô) hay những thiết bị cần sự điều khiển của các chuyên gia có trình độ cao ( máy bay, máy tính điện tử) Ngay trong cùng một ngành dịch vụ cụ thể, những người cung ứng khác nhau cũng sử dụng số lượng thiết bị Đôi khi thiết bị làm tăng giá trị của dịch vụ (bộ khuếch đại âm thanh nổi); và cũng có khi thiết bị được sử dụng để giảm bớt nhu cầu nhân lực (máy tự động bán hàng)
Trang 7Thứ hai: khách hàng có nhất thiết phải có mặt khi cung ứng dịch vụ cho
họ hay không? Nếu sự có mặt của khách hàng là bắt buộc thì người cung ứng phải chú ý đến những yêu cầu của khách hàng đó
Thứ ba: động cơ mua dịch vụ của khách hàng là gì? Dịch vụ có tá dụng thỏa ãn nhu cầu cá nhân hay không (dịch vụ cá nhân) hay thoả mãn nhu cầu nghề nghiệp (dịch vụ công việc)?
Thông thường chi phí cho dịch vụ tiêu dùng các cá nhân và dịch vụ nghề nghiệp rất khác nhau
Động cơ bán hàng của người cugn ứng dịch vụ (hoạt động thương mại hay phi thương mại) và hình thức cung ứng dịch vụ (phục vụ từng người hay phục vụ cộng đồng) như thế nào? Kết hợp hai đặc điểm này sẽ có những kiểu tổ chức phục vụ rất khác nhau
Thứ tư: các dịch vụ khác nhau về mục tiêu của nó (kiếm lợi hay phi lợi nhuận) và quyền sở hữu (tư hay công), hai đặc điểm này khi giao nhau sẽ tạo ra các kiểu tổ chức dịch vụ hoàn toàn khác nhau
2.1.4.2 Phân loại những quá trình dịch vụ
Trang 8 Giao tiếp với khách hàng: khả năng chuyên môn và khả năng giao tiếp của nhân viên là yếu tố vô cùng quan trọng
Cơ thể khách hàng: cần quan tâm đến đặc tính thiết kế của phương tiện
phục vu và vị trí thực hiện phục vụ
Các hình thức giao tiếp với khách hàng:
Khách hàng phải đích thân có mặt và giao tiếp với nhân viên
Khách hàng giao tiếp không trực tiếp – thông qua email, telephone…
Khách hàng hoàn toàn không cần giao tiếp với nhân viên
2.2 CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2.2.1 Khái niệm
Đối với dịch vụ, sự đánh giá về chất lượng được thực hiện trong suốt quátrình thực hiện dịch vụ Mỗi sự tiếp xúc khách hàng là một sự thể hiện, một
cơ hội đê thỏa mãn hoặc không thỏa mãn khách hàng Việc thỏa mãn khách hàng với một dịch vụ có thể được định nghĩa bằng việc so sánh nhận thức của dịch vụ nhận được với mong đợi của dịch vụ đòi hỏi Khi sự mong đợi trội hơn, dịch vụ được cho là có chất lượng đặc biệt - và cũng mang lại sự ngạc nhiên thú
vị Tuy nhiên, khi sự mong đợi không được đáp ứng thì chất lượng dịch vụ được cho rằng không thể chấp nhận, Khi dịch vụ nhận thức được giống như mong đợi
thì xem như như thỏa mãn về chất lượng
2.2.2 Các thước đo chất lượng dịch vụ
Các thước đo chất lượng dịch vụ được trình bày dưới đây được định nghĩa bởi các nghiên cứu tiếp thị, họ đã nghiên cứu nhiều lịnh vực dịch vụ khác nhau như: sửa chữa đồ gia dụng, ngân hàng, dịch vụ điện thoại đường dài, an ninh, vá các công ty thẻ tín dụng.Họ đã xác định được 5 thuộc tính cơ bản mà khách hàng sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ: độ tin cậy, độ đáp ứng, độ bảo đảm, độ thấu cảm, độ hữu hình Các thước đo này được xếp thứ tự theo chiều giảm giần mức độ quan trọng với khách hàng
Các thành phần của chất lượng dịch vụ:
Độ tin cậy
Dịch vụ mong đợi (PS)
Chất lượng dịch vụ nhận được:
1 Vượt quá sự mong đợi Truyền thông Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm
quá khứ
Trang 9Hình 2.1: Chất lượng dịch vụ cảm nhận (nguồn: SERVICE MANAGEMENT, James A Fitzsimmons – Mona
Khả năng phục vụ: Kiến thức và tác phong của nhân viên cũng như khả
năng của họ để truyền niềm tin và sự tự tin
Độ thấu cảm: Mức chăm sóc, cá thể hoá mà công ty cung ứng cho khách
hàng
Độ hữu hình: Các phương tiện vật chất vàhình thức của nhân viên
2.2.3 Khoảng cách trong chất lƣợng dịch vụ
Việc đo lường khoảng cách giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ nhận được
là một quátrình phản hồi đều đặn của khách hàng đối với dịch vụ công ty cung cấp
CÔNG TY
Trang 10Hình 2.2: Mô hình 5 khoảng cách trong chất lượng dịch vụ
Fitzsimmons)
Gap 1: Khoảng cách giữa mong đợi khách hàng so với nhận thức của nhà quản
ly: khoảng cách này là sự thất bại trong việc nhận ra những mong đợi của khách hàng, không hiểu khách hàng muốn gì
Gap 2: Xảy ra khi nhà quản lý truyền đạt sai hoặc không truyền đat mong đợi
của khách hàng thành đặc tính chất lượng: nguyên nhân là do không có tiêu chuẩn và thiết kế đúng dịch vụ
Gap 3: Nhân viên cung cấp dịch vụ không đung với đặc tính chất lượng của
dịch vụ: khoảng cách này là do nhân viên đã không triển khai đúng các tiêu chuẩn dịch vụ
Gap 4: Khoảng cách giữa việc cung cấp dịch vụ và thông tin cho khách hàng về
dịch vụ đó: khoảng cách này là do việc điều hành không đúng như đã hứa
Gap 5: Khoảng cách giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ khách hàng nhận được:
chính là sự khác biệt giữa mong đợi và thực tế
2.3.4 Các thuộc tính của chất lƣợng dịch vụ
Các tác giả của mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ đã phát triển 22 thuộc tính để đo lường 5 thước đo của chất lượng dịch vu
Độ tin cậy:
Cung ứng dịch vụ như đã hứa
Độ tin cậy trong việc giải quyết các vấn đế của khách hàng
Thực hiện tốt dịch vụ ngay lần đầu tiên
Cung ứng dịch vụ vào đúng thời gian đã hứa
Duy trì mức độ không sai sót Đối với dịch vụ đăng ký thủ tục giấy tờ, một ví dụ thể hiện độ tin cậy là phòng đào tạo cần đảm bảo đúng ngày hẹn hồi đáp để trả lời những vướng mắt của sinh viên Trong thư viện, các nguồn tài liệu cần được sắp xếp cẩn thận theo khu vực không chồng chéo gây khó khăn cho sinh viên
Trang 11 Độ bảo đảm:
Nhân viên sẽ truyền lòng tin vào khách hàng
Làm cho khách hàng cảm thấy an toàn trong việc cung ứng dịch vụ
Nhân viên luôn lịch sự, nhã nhặn
Nhân viên có đủ kiến thức trả lới tất cả câu hỏi của khách hàng Các nhân viên trong các dịch vụ đăng ký thủ tục cũng như dịch vụ thư viện cần có kiến thức nghiệp vụ để trả lời những thắc mắc của sinh viên, luôn tỏ ra nhã nhặn lịch sự khi giao dịch với sinh viên
Độ thấu cảm:
Quan tâm đến khách hàng một cách cá nhân
Nhân viên giao dịch với khách hàng một cách rất quan tâm
Tạo cho khách hàng thích thú tận đáy lòng
Nhân viên thông hiểu nhu cầu khách hàng
Giờ làm việc phù hợp Các nhân viên của dịch vụ đăng ký và dịch vụ thư viện cần tỏ ra quan tâm với sinh viên từ đó nắm bắt được nhu cầu sinh viên nhằm giải quyết một cách thỏa đáng Chẳng hạn, khi một sinh viên không nắm vững về quy trình tiến hành thực hiện một thủ tục đăng ký, thì các nhân viên cần hướng dẫn tận tình, tạo cho sinh viên sự hứng thú khi sử dụng dịch vụ
Trang 12cũng như trang phục của nhân viên các phòng cần gọn gàng lịch sự
Dựa vào sản xuất: căn cứ vào sự phù hợp so với tiêu chuẩn Một trường
tiểu học có 90% học sinh giỏi được xem là có chất lượng hơn một trường
đại học có dưới 10% sinh viên giỏi
Dựa vào khách hàng: một dịch vụ đáp ứng những đòi hỏi của người sử
dụng là dịch vụ có chất lượng Một quán ăn có khẩu phần ăn nhiều và giá bình dân sẽ là một quán ăn có chất lượng đối với dân lao động nhưng với những người giàu có thì phải là quán có món ăn ngon, phục vụ chu đáo,
Phương pháp dựa vào sản phẩm:
Mô hình đánh giá của Gronroos có 2 thành phần sau:
Chất lượng kỹ thuật: khách hàng nhận được gì từ dịch vụ
Trang 13 Chất lượng kỹ năng: khách hàng nhận dịch vụ như thế nào
Phương pháp dựa vào sản xuất:
Dựa vào quy trình hoạt động của dịch vụ mà đưa ra tiêu chí đánh giá
George Philip và Shirley-Ann Hazlett đã đưa ra mô hình P-C-P gồm 3 thành phần sau:
Pivotal: những yếu tố đầu ra của dịch vụ
Core: những yếu tố tương tác với khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ
Peripheral: những yếu tố đầu vào của dịch vụ
Phương pháp dựa vào khách hàng:
Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi nhất Parasuraman đã đưa ra mô hình SERVQUAL với 5 tiêu chí đánh giá và 22 câu hỏi dùng để xác định chất lượng của một dịch vụ Mô hình này dựa trên khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng và dịch vụ nhận được
2.3 CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ TRONG GIÁO DỤC 2.3.1 Khách hàng của ngành giáo dục
Dịch vụ là một hoạt động vô hình và không đồng nhất, hoạt động này là mục tiêu chủ yếu của giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu cho khách hàng Chất lượng dịch vụ là khả năng mà tổ chức đó đáp ứng được hoặc vượt mức mong đợi của khách hàng Mô hình SERVQUAL và TPA (Importance Performance Analysis)
có thể thích hợp cho nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong ngành giáo dục Mô hình SERVQUAL so sánh mong đợi khách hàng và sự cảm nhận về dịch vụ: sự hữu hình của tài sản, sự tin cậy, sự đáp ứng, sự thấu cảm, sự bảo đảm IPA kết hợp tầm quan trọng cảm nhận được và sự thể hiện cảm nhận được của khách hàng Mô hình SERVQUAL đã được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của các ngành công nghiệp dịch vụ nói chung và ngành giáo dục nói riêng Ví dụ như ở Thái Lan, một lĩnh vực thường được quan tâm là chất lượng dịch vụ của các đơn vị hành chính trong các trường đại học
Giffin, (1996) đã định nghĩa một khách hàng cũng như bất cứ người nào cũng phải trả tiền để có được sản phẩm hoặc dịch vụ của một tổ chức Staton, Etzel and Walker (1994) cho rằng khách hàng là một tổ chức hoặc cá nhân mà
đã thực sự thực hiện một quyết định mua, trong khi một khách hàng là cá nhân hay tổ chức mới là người sử dụng hoặc tiêu thụ một sản phẩm Trong giáo dục, sinh viên là khách hàng là người mà đã tiếp xúc với nhà cung cấp dịch vu, là một tổ chức giáo dục, với mục đích đòi hỏi đáp ứng về hàng hoá hoặc dịch vụ
Trang 14Hill (1995) đã đề cập rằng là một khách hàng chủ yếu của dịch vụ giáo dục cao cấp, sinh viên nên tập trung vào sự mong đợi Tuy nhiên, Waugh (2002) cho rằng việc xem sinh viên như khách hàng đã tạo ra một số sức ép trong các trường đại học bằng việc khiến cho các trường đại học giống như một tổ chức kinh doanh Một số nhà nghiên cứu cũng xem các khoa trong các trường đại học như là khách hàng của tổ chức quản lý hành chính trong trường đại học Tại úc, Pitman (2000) đã khảo sát đối với khối giảng viên của các trường đại học cảm nhận sinh viên như một khách hàng
Mặc dù lực lượng tham gia chủ yều trong dịch vụ giáo dục là sinh viên, nhưng cũng có một giả định rất mạnh mẽ là “khách hàng” của giáo dục bao gồm các ngành công nghiệp, cha mẹ, chính phủ và ngay cả toàn thể xã hội Hầu như không có mối liên hệ giữa sự thỏa mãn, sự chi trả và mua lặp trong ngành giáo dục
Tuy nhiên, trong đề tài nghiên cứu này tác giả sẽ chỉ tập trung nghiên cứu sự thỏa mãn dựa trên đối tượng khách hàng chính là sinh viên, khách hàng trực tiếp
có thể đưa ra được những nhận xét chính xác giúp ích cho cuộc nghiên cứu
2.3.2 Chất lượng dịch vụ trong trường đại học
Cũng thật là lý thú khi nhận thấy việc ứng dụng Servqual trong giáo dục, chẳng hạn như đối với các trường kinh doanh và các cơ quan giáo dục Phạm vi cho cái mà sinh viên cảm nhận được mức độ thể hiện dịch vụ đáp ứng được mong đợi của họ phản ánh được chất lượng của dịch vụ Người ta nhận thấy rằng, chất lượng dịch vụ kém được cảm nhận rút cuộc sẽ làm ảnh hưởng đến tài chính và khả năng tồn tại trong lĩnh vực đại học bằng việc giảm đi danh tiếng của tổ chức giáo dục đó, và cả số lượng và tiêu chuẩn người theo học Nhựng sự tác động này không trực tiếp và diễn ra rất chậm Tuy nhiên, sự không thỏa mãn được thể hiện trực tiếp bởi những người sử dụng dịch vụ, là những sinh viên, sẽ gây ra một sự ảnh hưởng Sự không thoả mãn của các sinh viên, nếu ở vào một mức vừa đủ, thì sẽ gây ra hậu quả là số đơn xin nhập học sẽ giảm vào các năm tiếp theo khi mà chất lượng kém ngày một tăng cho dù số sinh viên đang theo học rất có khả năng bị ép phải duy trì
Các cuộc nghiên cứu đầu tiên về chất lượng dịch vụ trong giáo dục cấp cao chú trọng đến công tác nhân sự về giảng viên hơn là công tác quản lý hành chính, tức là tập trung vào cơ cấu phân bổ khoá học hiệu quả và chất lượng của khoá học và việc giảng dạy (Athiyaman,1997; Bourner,1998; Cheng and Tam,1997; Mc Elwee and Edman, 1993; Yorke,1992…) Sự đo lường chất lượng dịch vụ của khoá học và chương trình học thường dựa trên các công cụ nghiên cứu (các bảng câu hỏi phản hồi của sinh viên) đã được đưa ra bởi các nhà đại diện của các viện giáo dục cao cấp Tuy nhiên, Kamal và Ramzi (2002) đã
nổ lực đo lường cảm nhận sinh viên về các thủ tục hành chính và về giảng viên
Trang 15trong trường đại học, là những người giúp đưa ra các lời khuyên hữu ích cho các khoa trong trường và cho các dịch vụ quản lý hành chính trong trường nhằm đảm bảo được chất lượng dịch vụ thật tốt phục vụ cho học viên
Có nhiều lý do để tập trung vào chất lượng dịch vụ hành chính trong một trường đại học (Anderson 1995): điều dễ nhận thấy đầu tiên của sinh viên là việc được tiếp nhận vào trường và các dịch vụ đăng ký, vì vậy việc cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho sinh viên góp phần vào việc đánh giá trường đại học đó So với các bộ phận khác của trường đại học thì bộ phận hành chính của trường đại học như: văn phòng đăng ký thủ tục giấy tờ (phòng hành chính, phòng tài chính hoặc thư viện thường là những đơn vị quan liêu trong các cơ quan nhà nước (Salem 1969) Trong khi thủ tục đăng ký của các trường đại học ở các nước phương Tây nhanh chóng được thông qua bằng hệ thống nghiệp vụ ngân hàng thì ở các nước đang phát triển vẫn đang loay hoay đấu tranh với nạn quan liêu và
hệ thống tổ chức không hiệu quả, do đó việc dư thừa trong thủ tục đăng ký làm cho các nước này không thể thoát khỏi công tác xử lý bằng tay truyền thống lạc hậu (Spencer, 1991) Và dưới đây tác giả có đưa ra một số các dịch vụ hành chính trong một trường đại học, được rút ra từ các cuộc nghiên cứu trước đó của các trường đại học ở nước ngoài
2.3.3 Các dịch vụ trong môi trường Đại học mà sinh viên nhận được:
Dưới đây là các dịch vụ mà sinh viên có thể nhận được trong một trường Đại học
Hệ thống hạ tầng cơ sở: Sân thể thao phục vụ sv, hệ thống thư viện
Các dịch vụ khac: chăm sóc sức khoẻ, ý tế; hỗ trợ việc làm; chỗ ở;
Website của trường; và các dịch vụ: an ninh, bãi đậu xe, điện thoại, đưa rước, ăn uống…
Các dịch vụ đăng ký, thủ tục: liên quan đến các dịch vụ đăng ký giấy tờ,
hỗ trợ tài chính, đóng học phí…
2.2.4 Những nghiên cứu có liên quan
“Assessment of Library Service Quality at Thammasat University Library System”: nghiên cứu này khảo sát toàn bộ chất lượng dịch vụ của hệ thống thư viện trường đại học Thammasat từ quan khách hàng, cũng như nhận dạng các thước đo để xác định nhằm xác định đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ Mô hình và công cụ Servqual đã được dùng
để thực hiện cuộc khảo sát này
“ UNI Student Satisfaction Survey”, mục đích của cuộc nghiên cứu này là nhằm cung cấp những thông tin về sự thỏa mãn của sinh viên về trường
Trang 16đại học UNI (University of Northern Iowa) về các mảng như : dịch vụ máy tính, hệ thống thư viện và các loại dịch vụ khác
“The University of California Undergraduate Experiences Survey:
Student Services”: kết quả từ cuộc nghiên cứu này cho biết tỷ lệ sinh viên
đã sử dụng các loại dịch vụ trong trường, sau đó đánh giá sự thỏa mãn của
số sinh viên đã sử dụng dịch vụ đó
2.3.5 Sự thỏa mãn khách hàng
Sự thỏa mãn khách hàng là một trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm dịch vụ với những kỳ vọng của người đó(Kotler,2001) Sự thỏa mãn của khách hàng có liên quan từ chất lượng dịch
vụ Nếu chất lượng dịch vụ rất cao, mức độ thoả mãn vượt quá sự mong đợi, khách hàng sẽ rất hài lòng Chất lượng dịch vụ cao, mức độ thoả mãn sẽ đạt được sự mong đợi, khách hàng cảm thấy vui vẻ hài lòng Ngược lại, nếu chất lượng dịch vụ thấp, mức độ thoả mãn thấp hơn giá trị mong đợi, khách hàng sẽ thất vọng
Nhận thức chất lượng dịch vụ là kết quả của khoảng cách giữa kỳ vọng và dịch
vụ nhận được Và sự thoả mãn cũng là sự so sánh hai khoảng cách này, cho nên nhận thức chất lượng dịch vụ được xem là kết quả truy xuất sự nhận thức thoả mãn của khách hàng Khi khoảng cách này thu hẹp bằng không thì chất lượng dịch vụ xem như thoả mãn khách hàng
2.3.6 Mô hình nghiên cứu
Dựa vào lý thuyết đã trình bày về chất lượng dịch vụ và thoả mãn khách hàng thì mô hình nghiên cứu được đề xuất như hình 2.3
Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu
Trang 17Theo mô hình này chúng ta sẽ tiên hành thu thập số liệu để đánh giá chất lượng dịch vụ thư viện và dịch vụ đăng ký thủ tục trong trường dựa vào mô hình 5 thành phần: sự tin cậy, sự đáp ứng, khả năng phục vụ, sự cảm thông và sự hữu hình kết hợp với thang đo chất lượng dịch vụ Servqual Sau đó tiến hành nghiên cứu tác động của các thành phần chất lượng dịch vụ đối với sự thoả mãn của sinh viên
CHƯƠNG 3: TỔNG QUÁT VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TPHCM
3.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 3.1.1 Giai đoạn trước năm 1975
Thời kỳ thành lập – các trường thành viên Lịch sử của Đại học Bách Khoa Tp HCM nếu tính về không gian và thời gian thì trường được thành lập vào ngày 29-6-1975 khi chính quyền Sài Gòn ký nghị đ5inh thành lập Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ (TTQGKTPT) Nhưng nếu tính về truyền thống lâu đời của các trường thành viên thì có lẽ phải tính từ những năm đầu của thế kỷ 20
Năm 1917, Pháp cho lập ở Hà Nội trường Cao đẳng Đông Dương với 7 trường là:
1- Thú y 2- Cao đẳng Sư phạm
Trang 183- Cao đẳng Canh nông 4- Cao đẳng Công chánh 5- Cao đẳng thương mại 6- Luật khoa Hành chính 7- Y dược
Như vậy, thành viên lâu năm nhất của TTQGKTPT là trường Cao đẳng Công chánh Trường này đã đào tạo nhiều cử nhân khoa học, kỹ thuật của các ngành xây dựng, cầu đường, địa chánh Nhiều người trong số họ sau này đã giữ các cương vị quan trọng Nhiều người giác ngộ và đi theo cách mạng, trở thành cán
bộ đầu đàn của ngành xây dựng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này
là Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Trường Cao đẳng Công chánh
Từ năm 1919 trường đào tạo các Chuyên viên, cán sự và kỹ sư Công chánh
Ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp, trường dóng cửa Đến kháng chiến chống Pháp, vì lý do an ninh, ngày 1-10-1947, Pháp dời trường vào Sài Gòn Từ năm
1950, trường đào tạo kỹ sư Công chánh Đông Dương và tổ chức thi tuyển ngạch
Kỹ sư ở các xứ thuộc địa (Cao Miên, Lào) Hệ thứ nhất tuyển những học sinh lớp Đệ nhị cấp là những người đã trải qua lớp dự bị và học hai năm những kiến thức kỹ thuật cần thiết và những người có bằng tú tài Pháp hay bằng tú tài Pháp – Việt, hoặc những người đã có chứng chỉ cử nhân (toán đại cương hay vật lý đại cương) Các lớp học ở trường Cao đảng Công chánh do các giáo sư của các
sở giáo dục, Công chánh, Kinh tế, Y tế, Địa chánh… giảng dạy
Năm 1957, trường là thành viên của Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Từ năm 1973-1974 Trường Cao đẳng Công chánh chỉ đào tạo Kỹ sư Công Chánh và kỹ
sư địa chính Chương trình của trường là 3 năm, không kể năm thứ nhất học tại trường khoa học Nội dung đào tạo là các kiến thức kỹ thuật tổng quát trong các lĩnh vực có liên quan
Trường Cao đẳng Công nghệ
Trường Cao đẳng công nghệ là hậu thân của Trường Quốc gia kỷ sư Công nghệ ( được thành lập vào năm 1956) và được sát nhậplàm thành viên của TTQGKTPT vào năm 1957 Trường đào tạo các kỹ sư công nghệ của các ngành
cơ khí, đúc luyện kim, kỹ nghệ sắt, ôtô…
Trường Cao đẳng Điện học
Trang 19Nguyên là trường vô tuyến điện Trường vô tuyến điện được thành lập trên
cơ sở khoa Nhân viên vô tuyến điện được thành lập 23/11/1947 trực thuộc Trường Đại học Khoa học Sài Gòn, làm nhiệm vụ đào tạo nhân viên kỹ thuật vô tuyến điện hạng 1, hạng 2 Có lúc khoa đóng ở khuôn viên trường Lycée Petrus
Ký Sài Gòn Đến tháng 1/1949 trở thành trường Vô tuyến điện, đào tạo kỹ thuật viên vô tuyến điện (2 năm), điện tín viên, trắc lượng viên, chuẩn bị các kỳ thi về hàng hải và hàng không Năm 1950, trường trực thuộc Bộ quốc gia Giáo dục, sau đó là Nha kỹ thuật và Mỹ thuất học vụ
Năm 1957, trường sát nhập làm thành viên của TTQGKTPT và đổi tên là Trường Cao đẳng Điện học Trường đào tạo kỹ sư điện, cán sự điện và điện tử, huấn luyện trung cấp và thợ chuyên môn cho các xí nghiệp công tư và quân nhân của Bộ Quốc phòng (cính quyền Sài Gòn)
Năm 1973-1974, trường Cao đẳng Điện học chỉ đào tạo Chuyên viên, kỹ sư, còn cán sự điện được chuyển qua Trường Đại học chuyên nghiệp trung cấp
Trường Cao đẳng Hàng hải
Trường Cao đẳng Hàng hải là hậu thân của trường Việt Nam hàng hải, được thành lập năm 1951, chương trình 8 tháng đào tạo thuyền viên hàng hải Năm
1957, trường được sát nhập vào TTQGKTPT, sau đó đổi tên là Cao đẳng Hàng hải, chương trình đào tạo 2 năm Năm 1960, trường đào tạo cấp cán sự với chương trình 2 năm cho thuyền viên, lái máy, sĩ quan hàng hải
Năm 1973 trường đào tạo Kỹ sư Hàng hải, với chương trình 4 năm
3.1.2 Giai đoạn sau 1975
Ngày 27/10/1976, Thủ tướng chính phu CHXHCNVN ký quyết định số 426?TTg, tổ chức lại 11 trường đại học thuộc VĐHSG, còn 8 trường:
1- Đại học tổng hợp TPHCM (sát nhập 2 trường Đại học khoa học và Đại học Văn Khoa)
2- Đổi tên trường Đại học Phú Thọ thành trường Đại học Bách Khoa TPHCM 3- Đại học Sư phạm kỹ thuật Thủ Đức (nguyên là Đại học giáo dục Thủ Đức) 4- Đại học Y dược TpHCM (sat nhập 3 trường Đại học Y, Dược , Nha Khoa) 5- Đại học Kinh tế
6- Đại học Nông nghiệp TPHCM 7- Đại học Sư phạm TPHCM
Trang 208- Đại học Kiến trúc Các trường Đại học Tổng hợp, Bách khoa, Sư phạm kỹ thuật, Kinh tế thuộc Bộ đại học và THCN, Trường Y dược thuộc Bộ Y tế, trường Kiến trúc thuộc Bộ xây dựng, trường Nông lâm thuộc Bộ nông nghiệp và Trường Đại học Sư Phạm thuôc Bộ Giáo Dục, do các bộ quản lý về tổ chức nhân sự, và ngân sách Viện Đại Học Sài Gòn giải thể vì đã làm tròn sứ mạng lịch sử
Trường Đại học Bách Khoa TPHCM mới hình thành có các khoa:
1- Khoa Cơ Khí (trên cơ sở công nghệ cũ) 2- Khoa Xây dựng
3- Khoa Thuỷ lợi
4- Khoa Hoá 5- Khoa Điện Sau này trường thành lập thêm 2 khoa mới: Động lực tách từ khoa Cơ Khí và
Địa Chất Sau nữa lại nhập khoa Động Lực vào khoa Cơ khí
Các phòng ban:
1- Tổ chức cán bộ
2- Tài vụ 3- Thiết bị vật tư 4- Hành chánh quản trị 5- Giáo vụ
6- Nghiên cứu khoa học 7- Tuyên huấn
Ngoài 800 SV là cao đẳng, trường có 1.200 Sv đại học chính quy Đến kỳ tuyển sinh 1975, con số lấy vào là 600 SV đưa tổng số sinh viên lên 2.600 người Cán bộ giảng dạy có 36 người từ miền Bắc vào, 147 cán bộ tại chỗ, 122 nhân viên, cán bộ phục vụ
Trang 21GIAI ĐOẠN NĂM 1976 – 1981
Trong giai đoạn này, Trường Đại Học Bách Khoa TPHCM củng cố hoàn thịên các chương trình đào tạo về ngành nghề và bắt đầu đưa ra các định hướng
về nghiện cứu khoa học
Các ngành nghề và chương trình đào tạo, tổ chức các khoa, phòng ban, bộ môn, phòng thí nghiệm theo mô hình của các trường đại học phía Bắc (ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Xây Dựng Hà Nội…)
Đặc biệt trường tiếp nhận một đội ngũ lớn các cán bộ từ các trường Đại học phía Bắc chuyển vào, bổ sung cho lực lượng CBGD, CNVC Số đội ngũ cán bộ này có ý thức chính trị vững vàng, có tinh thần làm việc hăng say, có trình độ khoa học kỹ thuật và sư phạm giỏi, đã làm cho các hoạt động của trường không ngừng phát triển và ổn định
Từ năm 1979 trường bắt đầu đào tạo tại chức khoá 1
Năm 1979 trường tham gia phục vụ chiến đấu, đã có nhiều đề tài nghiên cứu phục vụ quốc phòng và góp sức cùng quân đội trong chiến tranh biên giới Tây Nam, như nghiên cứu máy dò mìn, nghiên cứu phòng lạnh ướp tử thi liệt sĩ … được đáng giá cao Với nhừng đóng góp này nhóm nghiên cứu phục vụ Quốc phòng Khoa Điện được tặng Huân chương Lao động hạng 3 vào năm 1982
Trong thời kỳ khó khăn về kinh tế, thực hiện chủ trương tíêt kiệm, tăng gia sản xuất, trường đã đưa hàng ngàn cán bộ, sing viên đi Sông Bé tăng gia sản xuất trên 20 ha Đây là một chủ trương không thể thực thi được vì cán bộ chúng
ta không được đào tạo về nông nghiệp, không có kiến thức, kinh nghiệm làm nông nghiệp, hơn nữa làm nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều Kết quả là trường bỏ ra công sức rất lớn, tốn rất nhiều công của mà khi thu hoạch như lời đồng chí Đặng Hữu Ngươn, cố hiệu phó của trường lúc đó nói:” chúng
ta gieo một hột đậu phộng, thu được hai hột đậu phộng” Trước kết quả đó Đảng
uỷ đã quyết định thôi không làm nông nghiệp nữa, trả đất cho tỉng Sông Bé, và xác định trường nên phát huy thế mạnh của đội ngũ cán bộ giảng dạy của mình, làm công nghiệp, dịch vụ, nghiên cứu và ứng dụng Khoa học Kỹ thuật Nhiều cán bộ tại chỗ, từ sau 1975 do không vượt qua được khó khăn, đã bỏ trường, bỏ nghề,một vài người đã vượt biên Nhưng đại đa số anh chị em vẫn bám trụ cho đến ngày hôm nay
GIAI ĐOẠN 1981 - 1988
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đáp ứng yếu cầu về nguồn nhân lực, trường đã quyết địng phải có những bước đột phá trong đào tạo cụ thể Trường
Trang 22đã mở hội nghị Thanh Đa (hè năm 1982), Long Hải 1984 để đưa ra chiến lược đào tạo Sau hội nghị này trường chuyển sang đào tạo diện rộng Kỹ sư diện rộng là người có trình độ trên lĩnh vực chung, nắm vững ngành nghề chuyên sâu, đặc biệt có khả năng tự học hỏi để làm việc, khả năng tự chuyển đổ để thích nghi với nghề nghiệp Chương trình đào tạo chuyển từ 4 năm sang 5 năm cho bậc kỹ sư, các ngành nghề chia ra nhóm ngành(Cơ Khí, Địa chất, Điện, Điện tử, Hoá học và Thực phẩm, Xây dựng, Công trình thủy) Trong mỗi nhóm ngành lại chia ra chuyên ngành, các ngành mở thường xuyên và không thường xuyên Cụ thể trường có 17 ngành mở thường xuyên và 11 ngành mở không thường xuyên
Đào tạo theo diện rộng là một sự lựa chọn hợp lý, có tính đón đầu, vì số sinh viên tốt nghiệp ĐHBK.HCM sẽ là những Kỹ sư hoạt động trên nhiều lĩnh vực trong xã hội, trong nhiều loại hình xí nghiệp công ty
Từ năm 1981 – 1988 dưới sự lãnh đạo của Hiệu trưởng Trần Hồn Quân (1977 – 1982) và sau đó là hiệu trưởng Huỳnh Văn Hoàng cùng tập thể ban giám hiệu đã đưa Trường Đại Học Bách Khoa từng bước trở thành trung tâm đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật đa ngành, có vị trí quan trọng ở phía Nam, có
uy tín trong xã hội Đến năm 1988 trường đã có sáu khoa: Cơ Khí, Địa Chất, Hoá, Công Trình Thuỷ, Xây Dựng
GIAI ĐOẠN 1988 - 1993
Trong giai đoạn đầu Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã đưa ra chủ trương đào tạo hai giai đoạn Do đó, năm 1988 trường đã điều chỉnh chương trình đào tạo và tách Khoa Cơ bản thành một đơn vị quản lý đào tạo giai đoạn Đại cương – giai đoạn đào tạo khối kiến thức cơ bản
Năm 1991, Khoa Công trình thuỷ lợi sát nhập vào khoa Xây Dựng
Năm 1992 khoa Quản lý Công nghiệp được thành lập Năm 1993 khoa Mỹ thuật Công nghiệp được thành lập đánh dấu giai đoạn nhà trường phát triển thành một trường Đại học đa ngành đa lĩnh vực Khoa Mỹ thuật Công nghiệp đến năm 1995 chuyển về Đại học Kiến trúc
Tháng 12 năm 1989 Bô Giáo dục và Đào tạo cho phép trường mở đào tạo Cao học, tháng 9 năm 1990 tổ chức tuyển sinh khoá đầu tiên gồm 7 ngành với
87 học viên Tháng 12 năm 1992 đã có 48 thạc sĩ khoá đầu tiên tốt nghiệp Đến nay đã mở 25 chuyên ngành đào tạo Thời gian đầu, việc quản lý Cao học được giao cho Khoa tại chức sau đó hệ đào tạo này chuyển về phòng quản lý sau đại học Đến nay trường đang đào tạo 25 chuyên ngành cao học
Năm 1989, lần đầu tiên Bộ Giáo Dục và Đào Tạo thực hiện việc bổ nhiệm Hiệu trưởng bằng hình thức bỏ phiếu bầu của toàn thể CBCNV nhà trường
GS.TSKH Trương Minh Vệ đã được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng nhiệm kỳ 1989
Trang 23– 1993 và 1993 – 1998 GS Trương Minh Vệ đã cùng ban lãnh đạo trường góp phần to lớn vào tiến trình đổi mới của trường
GIAI ĐOẠN 1993 – 1995
Một giai đoạn ngắn về thời gian, nhưng để lại dấu ấn cho nhà trường Đó là giai đoạn trường ta chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ, một sự đổi mới có tính đột phá trong đào tạo Lần đầu tiên một trường Đại học Việt Nam đã áp dụng một phương thức đào tạo khác với phương thức truyền thống vốn có, tiếp cận đến mô hình đào tạo của nến đại học tiên tiến Trường Đại Học Bách Khoa TPHCM đã tập trung tài lực để cải tiến chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo Nhà trường đã thực hiện quản lý đào tạo hoàn toàn bằng máy tính Với những nổ lực đó chúng ta đã từng bước vươn tới để hoà nhập với các trường đại học tiên tiến trong khu vực
GIAI ĐOẠN 1995 – ĐẾN NAY
Theo Nghị định 16/CP ngày 17/1/1995 của Thủ tướng Chính Phủ, Đại học quốc gia TPHCM được thành lập vớo 9 trường Đại học thành viên Đại học Bách Khoa TPHCM là một trong các trường thành viên của ĐHQG TPHCM với tên gọi Trường Đại học Kỹ thuật (ĐHKT)
Ngày 12/2/2001 với Quyết định 15/2001/QĐ – TTg và Quyết định 16/2001/QĐ – TTg của Chính phủ về tổ chức lại ĐHQG, ĐHQG TPHCM còn
ba trường thành viên là Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Đai Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn và Trường Đại Học Kỹ Thuật sau đó trường của chúng ta lại được mang tên truyền thống Trường Đại Học Bách Khoa
Đây là giai đoạn phải vượt qua nhiền khó khăn với việc đào tạo hai giai đoạn tách rời Cho đến năm 2002, giai đoạn 1 do trường Đại học đại cương quản lý (sau là Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên), chúng ta chỉ quản lý giai đoạn 2 Với cách đào tạo này đã làm cho nhà trường khó thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ nhưng toàn thể CBCNV nhà trường đã nổ lực, kiên trì vượt khó để duy trì và hoàn thiện học chế tín chỉ
Vượt lên tất cả, Trường Đại Học Bách Khoa đã giữ vững uy tín trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tích cực xây dựng đội ngũ CBGD và cán bộ quản lý, nhiều công tác đã được thúc đẩy đáng
kể Nhà trường chủ trương nâng cao chất lượng đào tạo đại học bằng việc không tăng quy mô nhưng đổ mới cơ sở vật chất, giáo trình và cải tiến phương pháp giảng dạy Trong thời gian này, trường chủ trương mở đào tạo Đại Học Tại Chức ở địa phương để cung cấp đội ngũ cán bộ kỹ thuật cho các tỉnh phía Nam Bên cạnh đó tăng cường đào tạo sau Đại học Hiện nay trường đã đào tạo
25 ngành cao học và 30 ngành Nghiên cứu sinh Nhà trường chủ trương đẩy mạnh liên kết với nước ngoài trong đào tạo Đại học và sau Đại học Hàng loạt
Trang 24các chương trình liên kết được hình thành như chương trình Thuỵ Sĩ – AIT đào tạo QuảnLý Công nghiệp, chương trình IUT đào tạo Bảo dưỡngCông nghiệp – hợp tác với Pháp, chương trình đào tạo Cơ học với Cộng đồng Châu Au và Bỉ, chương trình Kỹ sư chất lượng cao với Pháp, chương trình du học và bán du học với các trường đại học Úc
Trường vận động các tổ chức cấp nhiều học bổng cho sinh viên, nhiều dự
án trang bị phòng thí nghiệm và nghiên cứu có giá trị lớn: phòng thí nghiệm tự động, phòng thí nghiệm Điện tử Viễn thông, AVL Bằng nhiều nguồn vốn, trường đã xây dựng và cải tạo cơ sở vật chất, xây mới nhà C4, C5, sửa chữa lớn Hội trường Ạ, chỉnh trang khuôn viên, nâng cấp nhiều phòng thí nghiệm, xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm Trong 4 năm, tổng giá trị kinh phí xây dựng cơ sở vật chất là 150 tỷ đồng, đây là một nổ lực rất lớn của toàn thể CBCNV nhà trường Trong thời gian này, Trường Đại Học Bách Khoa đã nhận được Huân chương Lao động Hạng nhất và rất nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường còn là lá cờ đầu của ngành Giáo dục Đại học Việt Nam về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
45 năm đã trôi qua của thời cuộc nhưng vẫn đọng lại hình ảnh một khuôn viên với Trường Đại Học Bách Khoa – Phú Thọ Nhiều thế hệ thanh niên đã đến đây học tập, ra trường toả đi mọi miền, mang tài năng, sức lực và kiến thức đã học được cống hiến cho đất nước Nhiều thế hệ cán bộ, công chức, giảng viên, nhân viên đã gắn bó đời mình với ngôi trường này, chứng kiến bao đổi thay, bao niềm vui và những nỗi lo toan Tất cả mọi người đều khắc sâu trong tâm khảm mình ký ức về một ngôi trường bề dày lịch sử hào hùng, có truyền thống dạy tốt, học tốt, về những thầy cô đáng kính, về những CBCNV tận tụy những người bạn sinh viên một thời không thể nào quên Nơi đây, từng hòn sỏi, hàng cây, chiếc ghế đá đã trở nên vô cùng thân thiết Những con đường ta đi, những chiếc bàn ta học, những quyển sách thư viện ta đọc, góc kia
là giảng đường, là phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, lại ân cần tiếp đón các thế hệ sau ta Tất cả, tất cả đã là tâm hồn, tình yêu, là khát vọng cống hiến, là lòng biết ơn vô hạn về cái nôi nuôi dưỡng đào tạo chúng ta nên người
(Nguồn: kỷ yếu 45 năm thành lập trường ĐHBK)
Trang 25CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ở chương 4 này tác giả trình bày cách thức để tiến hành nghiên cứu, cụ thể là giải thích rõ vấn đề nghiên cứu, xác định cỡ mẫu, phương pháp thu thập
dữ liệu, thiết kế bảng câu hỏi
4.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 4.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định sự mong đợi và cảm nhận của sinh viên về mức độ dịch vụ hiện tại dựa trên các thành phần chất lượng dịch vụ của Servqual
Xác định tầm quan trọng của các thành phần dịch vụ khi sinh viên sử dụng dịch vụ đó
Đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm cải thiện dịch vụ tốt hơn
4.1.2 Các vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, rất nhiều các dịch vụ tồn tại trong một trường Đại học, như:
dịch vụ y tế, dịch vụ hỗ trợ tài chính, dịch vụ thư viện, dịch vụ hành chính, dịch
vụ chỗ ở cho sinh viên…Qua khảo sát thăm dò, tác giả nhận thấy hầu hết các sinh viên đều tỏ ra quan tâm nhiều nhất đến hai dịch vụ là: hệ thống thư viện và dịch vụ hành chính thủ tục Vì vậy tác giả quyết định chọn hai vấn đề nêu trên
để thực hiện nghiên cứu sự thỏa mãn của sinh viên
Đối với hệ thống thư viện: là sự thoả mãn về các dịch vụ được cung cấp tại thư viện của trường như: sự bắt mắt của các phương tiện liên quan, nguồn tài liệu tham khảo, nhân viên thư viện…
Đối với dịch vụ hành chính thủ tục: là sự thoả mãn của sinh viên trong quá trình thực hiện các thủ tục đăng ký (cụ thể là tại các phòng ban như:
phòng đào tạo, trung tâm hỗ trợ sinh viên, phòng tài vụ, hỗ trợ tài chính) như: sự thân thiện của nhân viên, nhu cầu thông tin của thông tin được ứng…
Trang 264.1.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: nghiên cứu sơ bộ được thực hiện để đưa ra được những câu hỏi và những giả định cụ thể để làm rõ vấn đề Dựa trên cơ sở
mô hình lý thuyết 5 thành phần và thang đo chất lượng dịch vụ Servqual kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và thảo luận tay đôi với đối tượng là những sinh viên đã sử dụng qua 2 loại dịch vụ này, bên cạnh đó tác giả còn có sự tham khảo những nghiên cứu có liên quan Kết quả của nghiên cứu định tính này là một hệ thống các tiêu chí để đánh giá vấn đề, là cơ sở
để thực hiện nghiên cứu định lượng tiếp theo
Nghiên cứu định lượng: sử dụng phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi để ghi nhận sự đánh giá của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ nhận được
4.1.4 Nhu cầu thông tin
Tài liệu về chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ trong trường học
Tài liệu giới thiệu trường đại học Bách Khoa
Tham khảo thêm các tài liệu, báo cáo trên sách báo, Internet
Dùng phương pháp định tính tìm hiểu các dịch vụ hỗ trợ mà sinh viên quan tâm nhất sau đó tiến hành tìm hiểu các khía cạnh chất lượng dịch vụ được chọn ra
Sử dụng bảng câu hỏi trên cơ sở 5 thành phần chất lượng dịch vụ của
Servqual để đánh giá chất lượng dịch vụ
4.1.5 Chọn mẫu và lấy mẫu
Tổng thể nghiên cứu là toàn bộ toàn bộ sinh viên đại học chính quy ĐHBK từ năm 3 trở lên Tác giả không chọn sinh viên các năm 1 và 2 vì việc sử dụng và tiếp xúc các dịch vụ hỗ trợ trong trường còn hạn chế nên việc nhận xét
sẽ không đạt được như yêu cầu nghiên cứu
Trang 27Là toàn bộ sinh viên từ năm 3 trở lên, trong đó đối tượng phỏng vấn là những sinh viên đã sử dụng qua các loại dịch vụ này
Đối với dịch vụ hành chính thủ tục, hầu hết các sinh viên đều đã được trải nghiệm qua nhiều lần Vì vậy, đối tượng cụ thể được giới hạn cho nghiên cứu này là những sinh viên năm 3 trở lên đã từng nhiều lần sử dụng qua dịch vụ thư viện tại trường
Kích thước mẫu được ước lượng theo công thức sau N=(Z*S/e)2 (Marketing Research, Trần Xuân Khiêm & Nguyễn Văn Thi) Trong đó: n: kích thước mẫu
Z: giá trị ứng với mức tin cậy đã chọn S: độ lệch tiêu chuẩn
e: mức sai số cho phép Với mức tin cậy là 95%, là mức tin cậy phổ biến trong các nghiên cứu nên Z=1,96
Sai số được chọn là e = 0,15 Với thang đo Likert 7 chấm thì độ lệch chuẩn S = (7-1)/6 = 1 Vậy kích thước mẫu n = (1,96*1/0,15)2
Bảng câu hỏi sẽ có những câu hỏi lọc các đối tượng không phù hợp
Dự kiến có khoảng 200 bảng câu hỏi được phát ra, tuy nhiên nếu số lượng mẫu đạt tiêu chuẩn chưa đủ với kích thước mẫu cần dùng thì sẽ tiến hành phát tiếp bảng câu hỏi Toàn bộ bảng câu hỏi sẽ được phát trực tiếp cho sinh viên và thu hồi lại ngay
Trang 284.2 THIẾT KẾ BẢNG CÂU HỎI
Mô hình Servqual gồm 22 thuộc tính thuộc 5 thành phần nhân tố: sự tin cậy (reliability) ,độ đáp ứng (responsiveness), độ bảo đảm (assurance), độ cảm thông (empathy) và độ hữu hình (tangible) Dựa trên mô hình 5 nhân tố của Parasuraman, tác giả xây dựng bảng câu hỏi sao cho phù hợp với dịch vụ hành chính trường đại học, cụ thể là dịch vụ thư viện và dịch vụ đăng ký thủ tục trong trường đại học Bách Khoa
4.2.1 Các bước hoàn thành các thuộc tính đánh giá chất lượng dịch vụ
Bước 1: đưa ra 22 thuộc tính được dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ của
Parasuraman
5 nhân tố và 22 thuộc tính chất lượng dịch vụ
Độ tin cậy:
1 Cung ứng dịch vụ như đã hứa
2 Độ tin cậy trong việc giải quyết các vấn đế của khách hàng
3 Thực hiện tốt dịch vụ ngay lần đầu tiên
4 Cung ứng dịch vụ vào đúng thời gian đã hứa
5 Duy trì mức độ không sai sót
10 Nhân viên sẽ truyền lòng tin vào khách hàng
11 Làm cho khách hàng cảm thấy an toàn trong việc cung ứng dịch vụ
12 Nhân viên luôn lịch sự, nhã nhặn
13 Nhân viên có đủ kiến thức trả lới tất cả câu hỏi của khách hàng
Trang 29Độ thấu cảm:
14 Quan tâm đến khách hàng một cách cá nhân
15 Nhân viên giao dịch với khách hàng một cách rất quan tâm
16 Tạo cho khách hàng thích thú tận đáy lòng
17 Nhân viên thông hiểu nhu cầu khách hàng
chính thủ tục trong trường đại học
5 nhân tố và 23 thuộc tính của chất lượng dịch vụ thư viện
4 Cung cấp dịch vụ vào thời gian đã hứa(vd:giờ mở cửa hoạt động đúng như thông báo)
Trang 30Độ đáp ứng:
5 Nhân viên luôn sẵn lòng giúp đỡ người sử dụng (vd: giúp tìm sách)
6 Cung cấp dịch vụ nhanh chóng cho người sử dụng (vd: người sử dụng không phải chờ quá lâu)
7 Thông báo cho người sử dụng biết chính xác khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện
8 Nhân viên không quá bận rộn để trả lời những câu hỏi của người sử dụng
9 Có được bộ sưu tập tài liệu tốt đáp ứng được nhu cầu thông tin ( vd: sách, tạp chí, băng video)
Độ bảo đảm:
10 Nhân viên dễ tiếp xúc và luôn nhã nhặn với người sử dụng
11 Nhân viên có kiến thức để trả lời những câu hỏi của người sử dụng
12 Nhân viên luôn thân mật trong việc giúp đỡ tìm kiếm thông tin và giải quyết vấn đề
13 Bảo đảm với người sử dụng về tính chính xác và đáng tin cậy
14 Nhân viên thư viện tạo được tạo được sự tin tưởng nơi người sử dụng
Độ thấu cảm:
15 Có thời gian hoạt động thuận lợi cho người sử dụng
16 Sắp xếp tài liệu hợp lý theo chủ đề cho người sử dụng
17 Nhân viên thư viện hiểu được nhu cầu của người sử dụng
18 Nhân viên đối xử với người sử dụng một cách chu đáo quan tâm
19 Thấu hiểu được những điều mà người sử dụng quan tâm nhất
Độ hữu hình:
20 Có phương tiện vật chất, tiện nghi nhìn bắt mắt
21 Trang thiết bị đầy đủ, hiện đại (máy vi tính mạng tốc độ cao)
22 Có được những ký hiệu, tài liệu hữu ích cho người sử dụng (ký hiệu, bản hướng dẫn, sách hướng dẫn truy tìm )
Trang 3123 Cung cấp một môi trường hấp dẫn, hữu ích
5 nhân tố và 28 thuộc tính chất lượng dịch vụ tại các phòng hành chính
thủ tục
Độ tin cậy:
1 Khi hứa giải quyết vấn đề của sinh viên thì sẽ làm
2 Khi sinh viên gặp vấn đề thì nhiệt tình giúp đỡ, giải quyết
3 Thực hiện chính xác dịch vụ ngay lần đầu tiên
4 Cung cấp dịch vụ vào đúng thời gian đã hứa(vd: tổ chức nhận hồ sơ đăng
ký dự thính vào đúng ngày đã đề ra )
5 Dịch vụ được cung cấp như nhau đối với mọi sinh viên
6 Luôn giữ uy tín với sinh viên
Độ đáp ứng:
7 Các phòng thông báo cho sinh viên biết chính xác khi nào dịch vụ được thực hiện (vd: thông báo lịch đóng tiền, lịch nhân hồ sơ chấm phúc khảo )
8 Nhân viên luôn sẵn lòng giúp đỡ bạn
9 Nhân viên phục vụ bạn nhanh chóng
10 Nhân viên sẵn lòng trả lời tất cả những câu hỏi của bạn
11 Khi có thắc mắc, nhân viên giúp bạn giải quyết nhanh chóng
Độ bảo đảm:
12 Nhân viên lịch sự nhã nhặn với sinh viên
13 Nhân viên cho thấy có trình độ nghiệp vụ cao khi cung cấp dịch vụ cho sinh viên
14 Thái độ của nhân viên tạo sự tin tưởng nơi bạn
15 Nhân viên biết nghe ý kiến của bạn
16 Nhân viên sắp xếp công việc hợp lý
17 Nhân viên trả lời rõ ràng những câu hỏi của bạn
Độ thấu cảm:
Trang 3218 Nhân viên làm cho bạn cảm thấy họ quan tâm bạn
19 Nhân viên thông hiểu bạn cần gì
20 Thời gian làm việc của các phòng thuận tiện cho sinh viên
21 Nhân viên các phòng hiểu được điều mà bạn quan tâm nhất
22 Nhân viên đối xử với bạn một cách quan tâm, chu đáo
23 Các nơi thực hiện dịch vụ dễ dàng tiếp cận
26 Nhân viên ăn mặt lịch sự, gọn gàng
27 Việc xếp hàng ở nơi đăng ký(không chen lấn, không phải chờ lâu)
28 Bàn đăng ký của nhân viên gọn gàng ngăn nắp
Bước 3: Hiệu chỉnh các thuộc tính lần 1
Sau khi đưa ra các khía cạnh của vấn đề, tác giả đã tiến hành thảo luận tay đôi với bảy sinh viên để đưa ra được các tiêu chí mà sinh viên quan tâm nhất
Qua thảo luận tay đôi, đa số ý kiến cho rằng nên hiệu chỉnh câu văn sao cho dễ hiểu, gần gũi với môi trường giáo dục hơn Bên cạnh đó, không nên cho ví dụ vào mỗi vấn đề vì như vậy dễ dẫn dắt người được phỏng vấn đánh giá vấn đề dựa theo ví dụ đó
5 nhân tố và 20 thuộc tính của chất lượng dịch vụ thư viện
Độ tin cậy:
1 Thực hiện thỏa đáng các vấn đề như đã hứa
2 Thực hiện các vấn đề đúng vào thời gian đã hứa
3 Không mắc sai sót, nhầm lẫn trong quá trình phục vụ sinh viên
Độ đáp ứng:
Trang 334 Luôn sẵn lòng giúp đỡ sinh viên
5 Các thông báo của thư viện luôn đầy đủ, kịp thời
6 Có thể dễ dàng tìm được những tài liệu cụ thể trên kệ sách
7 Sắp xếp tài liệu hợp lý theo chủ đề
8 Luôn cập nhật kịp thời nguồn tư liệu, tài liệu
Độ bảo đảm:
9 Nhân viên luôn nhã nhặn và nhiệt tình
10 Nhân viên có chuyên môn để trả lời những câu hỏi của sinh viên
11 Bảo đảm về tính chính xác và đáng tin cậy đối với những tài liệu đang có
12 Cung cấp đầy đủ danh mục hướng dẫn truy tìm tài liệu cũng như các địa chỉ Internet chuyên ngành
13 Thư viện cung cấp cho sinh viên một môi trường nghiên cứu hấp dẫn, hữu ích
Độ thấu cảm:
14 Thời gian hoạt động của thư viện thuận tiện, hợp lý
15 Nhân viên luôn tỏ ra quan tâm khi tiếp xúc với sinh viên
16 Nhân viên luôn tạo cho sinh viên cảm giác thoải mái khi vào thư viện
Độ hữu hình:
17 Điều kiện môi trường bên trong thư viện yên tĩnh, thoáng mát
18 Bàn ghế, kệ sách trong thư viện nhìn bắt mắt
19 Máy tính phục vụ sinh viên đầy đủ, hiện đại
20 Nội thất bên trong thư viện được sắp xếp gọn gàng, hợp lý
5 nhân tố và 22 thuộc tính chất lượng dịch vụ tại các phòng hành chính thủ tục
Độ tin cậy:
1 Thực hiện thỏa đáng các vấn đề như đã hứa