Mặc dù đây là một lĩnh vực vô cùng mới mẻ không những của ngành dầu khí mà còn của Việt Nam, nhưng nó có ý nghĩa cấp thiết đối với việc phát triển kinh tế đất nước nói chung, đối với tiế
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
''Phát triển công nghiệp Dầu khí thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn'' đã và đang là mục tiêu của Chính phủ ta trong quá trình thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Đáp ứng lại sự tin tưởng
ấy, sau 27 năm đầu tư và phát triển, Ngành Dầu khí Việt Nam đã đạt được một vị trí quan trọng và vững chắc trong nền kinh tế đất nước Từ những dòng dầu đầu tiên khai thác được từ mỏ Bạch Hổ đến phát hiện thương mại
ở mỏ Sư Tư Đen (8/2003), tính đến nay đã hơn 100 triệu tấn dầu thô được khai thác cung cấp nguồn năng lượng cho phát triển đất nước Tất cả những thành tích to lớn và ấn tượng này đều khởi nguồn từ những nỗ lực rất lớn của toàn Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
Bước vào thế kỷ mới, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam cũng phải đối diện với những vận hội và thách thức mới Đó là khi khi việc đảm bảo an toàn năng lượng cho đất nước sẽ trở nên cực kỳ quan trọng, đặc biệt là từ năm 2015, khi chúng ta khó có thể đáp ứng nhu cầu năng lượng bằng các nguồn trong nước Do đó, đòi hỏi Tổng Công ty không những đẩy mạnh hoạt động trong nước mà còn phải từng bước thực hiện đầu tư thăm dò khai thác ở nước ngoài Mặc dù đây là một lĩnh vực vô cùng mới mẻ không những của ngành dầu khí mà còn của Việt Nam, nhưng nó có ý nghĩa cấp thiết đối với việc phát triển kinh tế đất nước nói chung, đối với tiến trình hội nhập vào các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu của Tổng Công ty dầu khí nói riêng
Trong khuôn khổ khoá luận của mình, em xin trình bày: “Chiến lược
đầu tư nước ngoài trong thăm dò khai thác dầu khí của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam” Mong sao những ý tưởng và quyết tâm lớn lao của Tổng
Trang 2công ty Dầu khí Việt Nam sớm trở thành hiện thực, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước
Mục đích nghiên cứu
Khoá luận nhằm mục đích làm rõ yêu cầu cấp thiết của hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong thăm dò khai thác dầu khí, để từ đó đưa ra một Chiến lược đầu tư cụ thể cho hoạt động này cũng như là đề xuất một số giải pháp thiết thực để thực hiện hiệu quả chiến lược đó, nhất là trong thời gian tới khi vấn đề an ninh năng lượng quốc gia thực sự trở nên cấp bách trước yêu cầu phát triển của kinh tế đất nước
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu trong Khoá luận tốt nghiệp là phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích kết hợp với những kết quả thống kê, vận dụng lý luận để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu Mặt khác, Khoá luận còn vận dụng những quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước cũng như chiến lược phát triển Ngành Dầu khí để khái quát, hệ thống và khẳng định các kết quả nghiên cứu Và phương pháp luận chủ yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng ứng dụng vào nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khoá luận bao gồm các vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài trong ngành dầu khí, tình hình an ninh năng lượng quốc gia, chiến lược đầu tư ra nước ngoài trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận trong khuôn khổ những hoạt động đầu tư nước ngoài trong ngành dầu khí của Việt Nam và trên thế giới
Trang 3Bố cục khoá luận
Phù hợp với mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, nội dung của Khoá luận được chia thành 3 chương:
Lời nói đầu
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về đầu tư nước ngoài
Chương II: Chiến lược đầu tư nước ngoài trong thăm dò khai thác
dầu khí của Tổng công ty dầu khí Việt Nam
Chương III: Một số biện pháp thực hiện chiến lược ĐTNN trong
TDKT dầu khí của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của đề tài là rất mới mẻ, thời gian nghiên cứu có hạn nên trong một số khía cạnh trình bày của em sẽ không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong những ý kiến đánh giá, phê bình quý báu của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn hơn
Trang 4CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ
Về bản chất, đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước ngoài hiện nay Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng chính trong trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu hiện nay
Vốn đầu tư nước ngoài có thể được đóng góp dưới các dạng tiền tệ (ngoại tệ, nội tệ), các vật thể hữu hình (hàng hoá, tư liệu sản xuất, nhà xưởng, tài nguyên thiên nhiên…), các hàng hoá vô hình (công nghệ, bí quyết, bằng bảo hộ, nhãn hiệu, uy tín hàng hoá…) hoặc các phương tiện đầu tư đặc biệt khác như cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán có giá khác…
2 Nguyên nhân ra đời
2.1 Sự phát triển của xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư
Chúng ta đang sống trong thời đại mà quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh chóng, với quy mô và tốc độ ngày càng lớn,
Trang 5tạo nên một nền kinh tế thị trường toàn cầu, trong đó tính phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế dân tộc ngày càng gia tăng Sau thời kỳ chiến tranh lạnh, quá trình này ngày càng diễn ra nhanh chóng và đã chi phối thế giới cho đến tận bây giờ, làm cho nền kinh tế hầu hết các nước vận động theo xu hướng mở cửa và hoà mình vào quỹ đạo của nền kinh tế thị trường Và hiện nay, hàng loạt các tổ chức liên kết kinh tế khu vực cũng như toàn cầu đã ra đời và không ngừng phát triển Đó là các tổ chức như
EU, ASEAN, APEC… và tổ chức lớn nhất là WTO Trong điều kiện trình độ phát triển sản xuất, khả năng về công nghệ, nguồn tài nguyên, mức độ chi phí… ở mỗi nước khác nhau, nguồn vốn đầu tư quốc tế với tư cách của loại hàng hoá đặc biệt tất yếu sẽ tuân theo những quy luật của thị trường vốn là chảy từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn theo tiếng gọi của lợi nhuận cao
2.2 Sự phát triển nhanh chóng của khoa học-công nghệ-thông tin đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia
Khi khoa học công nghệ càng phát triển thì thời gian từ khâu nghiên cứu đến ứng dụng sản xuất càng được rút ngắn lại, chu kỳ sống của sản phẩm càng ngắn, sản phẩm hàng hoá ngày càng đa dạng phong phú Đối với doanh nghiệp, nghiên cứu phát triển và đổi mới sản phẩm cũng như đổi mới thiết bị có ý nghĩa sống còn Đối với quốc gia làm chủ và đi đầu trong khoa học công nghệ sẽ quyết định vị trí lãnh đạo chi phối hay phụ thuộc các nước khác trong tương lai Và ở đây xuất hiện hai hướng tổ chức: với những vấn đề khoa học công nghệ đòi hỏi vốn lớn, các tập đoàn
sẽ hợp tác đầu tư; bên cạnh đó các nước phát triển còn có hướng chuyển dịch đầu tư sang các nước khác đối với các sản phẩm đã lão hoá, cần nhiều lao động, nguyên liệu thô gây ô nhiễm môi trường Thông qua quá trình chuyển giao công nghệ trên thế giới diễn ra theo “mô hình đàn sếu
Trang 6bay” (nghĩa là các nước tư bản phát triển chuyển giao công nghệ sang cho các nước NICs, các nước NICs chuyển giao sang cho các nước đang phát triển và chậm phát triển)
2.3 Sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn thúc đẩy đầu tư nước ngoài
Trình độ phát triển kinh tế cao ở các nước công nghiệp phát triển đã nâng cao mức sống và khả năng tích luỹ vốn của các nước này Điều này dẫn đến hiện tượng thừa vốn trong nước; mặt khác, làm cho chi phí tiền lương cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên thu hẹp và chi phí khai thác tăng lên dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, tỷ suất lợi nhuận giảm dần, lợi thế cạnh tranh trên thị trường không còn Chính nguyên nhân này tạo nên lực đẩy các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để giảm chi phí sản xuất, tìm thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới nhằm thu lợi nhuận cao
Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của cách mạng thông tin, bưu chính viễn thông, phương tiện giao thông vận tải đã khắc phục sự xa cách
về không gian, giúp các chủ đầu tư xử lý thông tin kịp thời, đưa ra những quyết định đầu tư, điều hành sản xuất kinh doanh đúng đắn ở cách xa hàng trăm vạn km, tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô để chuyển vốn trên toàn cầu đến các địa chỉ đầu tư hấp dẫn Ngoài việc chuyển dịch vốn, thiết bị sang đầu tư ở các nước khác để đổi mới thiết bị trong nước, việc đầu tư này còn cho phép kéo dài tưổi thọ sản phẩm của doanh nghiệp ở các thị trường tiềm năng mới…
2.4 Nhu cầu vốn đầu tư phát triển để công nghiệp hoá của các nước đang phát triển rất lớn, tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với nguồn vốn đầu
tư nước ngoài
Trang 7Hiện nay trình độ chênh lệch phát triển giữa các nước công nghiệp phát triển và các đang phát triển ngày càng dãn cách, nhưng sự phát triển của một nền kinh tế toàn cầu đang đòi hỏi kết hợp chúng lại Các nước đang phát triển rất trông chờ và mong muốn thu hút được vốn đầu tư, công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hoá, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa Tuy nhiên trong điều kiện cung cầu vốn trên thị trường quốc tế ngày càng căng thẳng, sự cạnh tranh giữa các nước đang phát triển nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng ác liệt thì việc tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, có những chính sách
ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài, chấp nhận phần thiệt hơn về mình trong chính sách của các nước đang phát triển hiện nay tạo nên thời kỳ các chủ đầu tư có quyền lựa chọn địa chỉ đầu tư
3 Các hình thức đầu tư nước ngoài chủ yếu vào Việt Nam
Xét theo hình thức di chuyển vốn, đầu tư nước ngoài bao gồm các kênh chính sau đây:
Hình 1: Các hình thức đầu tư nước ngoài theo dòng di chuyển vốn
3.1 Đầu tư tư nhân
- Đầu tư trực tiếp (FDI)
Vốn đầu tư quốc tế
Đầu tư tư nhân Trợ giúp phát triển chính thức của
Trang 8FDI là một hình thức của đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại
Theo luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi bổ sung năm
2000 thì khái niệm về FDI có thể hiểu như sau: FDI là hoạt động đầu tư
do các tổ chức nhà nước hoặc các tổ chức kinh tế và các cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của Việt Nam bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu được lợi nhuận trong kinh doanh Hoạt động FDI tại Việt Nam thường được tiến hành thông qua các dự án - gọi là dự án FDI
Đây là một hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu và rất quan trọng, thường có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, FDI là vốn đầu tư do chủ đầu tư tự quyết định đầu tư và
tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Do đó, hình thức đầu tư này mang lại hiệu quả kinh tế cao, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế, ít bị lệ thuộc vào điều kiện chính trị Lợi nhuận mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của đối tượng mà họ bỏ vốn ra đầu tư, do
đó, FDI có tính khả thi cao vì các chủ đầu tư theo đuổi mục tiêu lợi nhuận
và hoàn vốn
Thứ hai, chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn pháp định
hoặc điều lệ tối thiểu tuỳ theo quy định của luật pháp mỗi nước để tham gia kiểm soát doanh nghiệp Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam 1996 quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu là 30% vốn pháp định của dự
án Tỷ lệ đóng góp của mỗi bên trong vốn pháp định sẽ quy định quyền
và nghĩa vụ của mỗi bên đồng thời cùng là cơ sở để phân chia lợi nhuận
và rủi ro
Trang 9Thứ ba, thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận
được công nghệ, kỹ nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được Do
đó, thông qua hình thức này nước tiếp nhận đầu tư có thể kết hợp tối ưu các nguồn lực trong và ngoài nước cũng như các nguồn lực tiên tiến từ bên ngoài
- Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà ở đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức mua cổ phần của các công ty nước sở tại (ở mức khống chế nhất định) để thu lợi nhuận mà không tham gia trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư
- Tín dụng thương mại
Đây là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền vay Nguồn vốn này nhằm hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu giữa các nước và theo một nghĩa nào đó thì cũng là nhằm hỗ trợ cho đầu tư nước ngoài
3.2 Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Đây là nguồn viện trợ song phương hoặc đa phương với một tỷ lệ là không hoàn lại, phần còn lại chịu lãi suất thấp, và thời gian cho vay tuỳ thuộc vào từng dự án Đây cũng là nguồn vốn của Chính phủ nước ngoài
hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức quốc tế, tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ hoặc là nguồn ODA hỗn hợp bao gồm một phần của Chính phủ nước ngoài, một phần do các doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi Chính phủ đóng góp Vốn ODA có thể đi kèm hoặc không đi kèm các điều kiện chính trị
Các hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển:
Trang 10 Hỗ trợ dự án: Đây là hình thức chủ yếu, bao gồm các hỗ trợ cơ bản
cho những dự án cải thiện cơ sở hạ tầng và những hỗ trợ kỹ thuật về mặt kỹ thuật cho dự án
Hỗ trợ phi dự án: Chủ yếu là viện trợ chương trình đạt được sau khi
kí các hiệp định với đối tác tài trợ dành cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định
Tín dụng thương mại: là những khoản tín dụng dành cho chính phủ
các nước sở tại với các điều khoản “mềm” về lãi suất, thời gian ấn hạn, thời hạn trả dài nhưng thường kèm theo những ràng buộc nhất định
II MÔI TRƯỜNG CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Có thể hiểu môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc kinh doanh của nhà đầu tư và bao gồm các nhóm yếu tố chủ yếu là: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, môi trường chính trị, trình độ phát triển kinh tế, chính sách đối ngoại, điều kiện cơ sở hạ tầng Những yếu tố này rất khác nhau ở mỗi nước và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm Và những yếu tố quan trọng nhất là:
1 Xu hướng vận động của dòng đầu tư trên thế giới
Trang 11Cách mạng khoa học cộng nghệ và quốc tế hoá đời sống kinh tế cùng với xu hướng mở cửa hoà nhập của các nền kinh tế đang phát triển vào thị trường thế giới là quá trình kinh tế năng động, mạnh mẽ thúc đẩy
sự vận động của luồn vốn quốc tế trong suốt thập kỷ qua theo những xu hướng sau:
Quy mô dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh: năm 1993, tổng
vốn đầu tư quốc tế tăng gấp đôi so với năm 1990, từ 434,9 tỷ USD lên 818,6 tỷ USD Năm 1999 khối lượng FDI trên thế giới là 865 tỷ USD, tăng 36% so với năm 1998, gấp 10 lần so với 10 năm trước đó Lượng vốn đầu tư quốc tế trong năm 2000 tăng từ 4-5%, chiếm khoảng 23,8%
GDP của toàn thế giới so với 23,2% của năm 1999 Trong đó vốn FDI gia tăng ngoạn mục mức kỷ lục khoảng 1.200 tỷ USD, tăng 38,7% so với năm 1999 Theo dự báo trong 5 năm đầu thế kỷ XXI, dòng đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng vượt tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và của thương mại quốc tế
Ngày càng gia tăng tính không đồng đều trong phân bố và lưu chuyển đầu tư nước ngoài, đầu tư giữa các nước phát triển vẫn là chủ yếu Mỹ và EU là tâm điểm của dòng lưu chuyển đầu tư thế giới Trong
hai năm 1998, 1999, riêng Mỹ đã tiếp nhận 1/4 FDI, còn Châu Âu là khoảng 1/2 FDI của toàn thế giới Năm 2002, trong tổng lượng FDI của các TNCs có hơn 4/5 là đầu tư vào các nước phát triển FDI đổ vào các nước đang phát triển tuy có tăng về qui mô nhưng tỷ trọng lại giảm Năm
1998, 1999, FDI đổ vào các nước này chiếm 22,5% tổng FDI toàn thế giới nhưng năm 2002 lại giảm xuống chỉ còn 20%, tương đương với 200
tỷ USD Ngay trong các quốc gia đang phát triển sự phân bố cũng không đồng đều: 2/3 FDI tập trung vào 10 nước có trình độ phát triển kinh tế tương đối cao của Châu á và Châu Mĩ La Tinh, 1/3 còn lại được san sẻ cho hơn 100 quốc gia
Trang 12 Dòng vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI chịu sự chi phối và kiểm soát chủ yếu bởi các công ty xuyên quốc gia (TNCs) của các nước phát triển TNCs trở thành chủ đầu tư trực tiếp kiểm soát trên 90% tổng
FDI trên toàn thế giới hiện nay Chỉ 100 TNCs lớn nhất thế giới (tất cả đều thuộc Mỹ, EU và Nhật Bản) đã chiếm tới 1/3 FDI toàn cầu và tổng tài sản
ở nước ngoài của chúng lên tới 1.400 tỷ USD Hiện nay, các TNCs vẫn tiếp tục vươn dài ra các khu vực khác nhau trên thế giới với qui mô FDI ngày càng lớn Bên cạnh việc giữ các khu vực truyền thống như Châu Âu, Bắc Mỹ, các TNCs đều đẩy mạnh đầu tư vào khu vực Châu Á Châu Á cũng là địa bàn ưu tiên đầu tư hàng đầu của Nhật, thứ 2 của Mỹ và hàng thứ 3 của Châu Âu (sau Bắc Mỹ và Châu Âu) dưới hình thức chủ yếu là mua lại và sáp nhập Năm 2002, làn sóng sáp nhập tăng hơn 50% so với năm 2000
Tính linh hoạt trong dòng chảy đầu tư nước ngoài ngày càng cao
Chi phí vận tải và truyền thông giảm trong những năm gần đây cũng như nới lỏng các hàng rào mậu dịch và đầu tư giữa các nước trên thế giới có tác động như ''chất bôi trơn'' đẩy nhanh sự vận động của dòng đầu tư quốc
tế Đầu tư quốc tế có xu hướng vận động tới những thị trường an toàn và đem lại nhiều lợi nhuận Vào những năm 60, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của khu vực Châu Mỹ La Tinh đã hấp dẫn được dòng FDI, những năm 70, 80 là Đông Nam Á Tuy nhiên, sau cơn bão tài chính - tiền tệ Châu Á, dòng FDI lại đổ vào các nước Mỹ La Tinh và vùng vịnh Caribe
Dòng vốn này hiện nay tập trung vào những ngành nghề có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, tiêu tốn ít năng lượng và nguyên liệu, sử dụng ít nhân công nhưng lại có giá trị gia tăng lớn, tỷ suất lợi nhuận lớn, trong đó chủ yếu là vào hai ngành công nghiệp và dịch vụ
2 Tác động của đầu tư nước ngoài tới nền kinh tế thế giới
2.1 Với các nước tiếp nhận đầu tư
Trang 13- Chuyển giao vốn
Tại nhiều nước đang phát triển, vốn FDI chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế Với các nước công nghiệp phát triển, ĐTNN vẫn là nguồn bổ sung vốn quan trọng và có ý nghĩa to lớn
Bằng chứng là các yếu tố này đã thu hút tới hơn 60% vốn FDI trong thập
kỷ 20 Tuy nhiên việc thu hút vốn ĐTNN này không phải do thiếu vốn, hay do trình độ kỹ thuật thấp kém, mà nhàm mục đích tối đa hoá lợi nhuận Trên thực tế các nước phát triển là những nước tích cực nhất cả trong việc đầu tư và thu hút đầu tư
Bên cạnh đó, ĐTNN khuyến khích tăng nguồn tiết kiệm của các nước tiếp nhận đầu tư khi có thể tạo thêm việc làm trong nước và tạo ra nguồn thu nhập FDI còn đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nước tiếp nhận, và cũng có thể làm giảm thâm hụt cán cân vãng lai khi các công ty nước ngoài thu được những khoản xuất khẩu ròng Vậy nên thực sụ ĐTNN có vai trò quan trọng trong việc chuyển giao vốn cho phát triển kinh tế
- Chuyển giao công nghệ
Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước đó vốn bằng tiền mà còn cả vốn bằng hiện vật như máy móc, thiết
bị, nguyên vật liệu (hay còn gọi là công nghệ cứng), và vốn vô hình như chuyên gia kỹ thuật, công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết công nghệ (hay còn gọi là công nghệ mềm) Chuyển giao công nghệ thông qua ĐTNN cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với các nước phát triển vì mặc dù trình độ sản xuất ở đây có hiện đại nhưng không thể nào toàn diện được ĐTNN đã khiến cho các nước này hoàn thiện mình và liên kết hỗ trợ nhau cùng phát triển
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 14Tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước NICs với tốc độ tăng trưởng luôn ở mức trên dưới 10%/năm trong thập kỷ 90, đã chứng minh rằng quốc gia nào thực hiện chiến lược kinh
tế mở cửa với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng của các nhân
tố bên ngoài, biến nó thành chỗ dựa để khai thác những tiềm năng to lớn trong nước thì quốc gia đó tạo ra được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại của nền kinh tế mà nó còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay Bên cạnh việc làm xuất hiện nhiều lĩnh vực ngành nghề mới, ĐTNN còn góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động ở các ngành này và làm tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế
- Tạo ra công ăn việc làm, do đó giảm các tệ nạn xã hội
Về mặt xã hội, việc thu hút một số lượng đáng kể người lao động ở nước nhận đầu tư vào làm việc ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ góp phần cải thiện đời sống người dân mà còn giúp giảm bớt nạn thất nghiệp, vốn là tình trạng nan giải của nhiều quốc gia Điều này cũng có thể làm giảm bớt các tệ nạn xã hội Ngoài ra, thông qua quá trình làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp xúc với công nghệ kỹ thuật hiện đại, môi trường làm việc chuyên nghiệp, trình độ của người lao động cũng sẽ từng bước được nâng lên
2.2 Với các nước đi đầu tư
Có thể nói đầu tư cũng là một hình thức mở rộng thị trường cho một quốc gia hay một tập đoàn kinh tế Việc mở rộng này có ý nghĩa nhiều mặt với nước đi đầu tư Điều này được thể hiện rõ qua các góc độ sau:
- Đứng trên góc độ vĩ mô:
Trang 15Hoạt động ĐTNN làm cho sự lưu thông kinh tế giữa các nước trở nên dễ dàng hơn, uy tín của nước đi đầu tư cũng được nâng cao trên thị trường quốc tế ĐTNN giúp cho các nước chủ động trong việc tiêu thụ hàng hoá, đặc biệt là những mặt hàng đã cũ, lạc hậu hoặc nhu cầu trong nước đã giảm Bên cạnh đó, hoạt động ĐTNN, đặc biệt là đầu tư trực tiếp
sẽ đem về nước những khoản lợi nhuận, hàng hoá, nguồn nguyên liệu các nước này không có hoặc đã cạn kiệt
Đứng trên góc độ vi mô:
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận Khi thị trường trong nước đã trở nên nhỏ bé và thừa thãi thì bắt buộc họ phải đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thị trường tiêu thụ, kéo dài vòng đời sản phẩm để thu lợi nhuận, đồng thời với việc tìm nguồn hàng, nguồn tài nguyên nước mình khan hiếm
3 Tác động của đầu tư nước ngoài tới kinh tế Việt Nam
3.1 Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tính đến tháng 8 năm 2003, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên địa bàn cả nước có hơn 4000 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng
ký hơn 42,2 tỷ USD được cấp giấy phép hoạt động Trong những năm qua, ĐTNN là nguồn lực quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đầu tư phát triển của Việt Nam Từ năm 1995 đến nay, nguồn vốn này chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn FDI trong GDP tăng dần qua các năm, đạt 9,3% trong năm 2002 và hiện chiếm 8% tổng thu nhập GDP trong của cả nước, chiếm 29,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, và 37% tổng giá trị sản lượng công nghiệp của cả nước trong 6 tháng đầu năm 2003
Tuy nhiên hiện nay, trong bối cảnh dòng ĐTNN trên thế giới liên tục giảm, nhất là dòng đầu tư vào các nước đang phát triển, ĐTNN vào Việt
Trang 16Nam cũng có phần bị ảnh hưởng Riêng năm 2002, con số dự án được cấp Giấy phép là 745 dự án với tổng số vốn đăng ký là 1,49 tỷ USD So với năm 2001, ĐTNN năm 2002 gia tăng đáng kể về số dự án (tăng 42%) nhưng giảm vốn đăng ký cấp mới (giảm 41%), vì thực tế không có dự án nào quy mô trên 50 triệu USD được cấp phép Nếu xét theo lĩnh vực đầu
tư thì trong năm 2002 ngành công nghiệp nặng và xây dựng chiếm tới 81,4% về số dự án, và 80,5% tổng vốn đăng ký Nếu xét theo địa phương, thì cũng như các năm trước, phần lớn các dự án và vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào các vùng kinh tế phía Nam ở ba địa phương dẫn đầu là Bình Dương, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm tới 63,2%
tổng số dự án và 54% tổng vốn đăng ký cấp phép của cả nước Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo đối tác trong năm 2002 vẫn thể hiện vai trò quan trọng của các nền kinh tế Đông Bắc Á ( Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông
và Nhật Bản) với 60,6% tổng số dự án và 55% tổng vốn đăng ký, và đánh dấu việc gia tăng đầu tư của Mỹ cũng như cho thấy sự giảm sút đầu tư của Châu Âu và Asean
Bên cạnh việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, trong năm
2002, chúng ta cũng đã có 13 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp phép, với số vốn đăng ký là 139,74 triệu USD, tăng đột biến so với các năm trước (năm 2001 có 13 dự án, 6 triệu USD vốn đăng ký) Nguyên nhân của sự gia tăng này là do trong năm 2002, hai dự án thăm dò và khai thác dầu khí sang Iraq (100 triệu USD) và Angeri(21 triệu USD) được cấp phép đầu tư Bên cạnh đó, dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng tại Liên bang Nga, với số vốn đăng ký 11,9 triệu USD cũng góp phần làm tăng lượng đầu tư ra nước ngoài Các dự án đầu tư ra nước ngoài năm 2002 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, và dầu khí, với 9 dự
án, 136,6 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 72,7% tổng số dự án và 98,5%
tổng vốn đăng ký Số dự án còn lại đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp,
Trang 17văn phòng cho thuê và dịch vụ Đầu tư ra nước ngoài tuy là một hoạt động mới mẻ nhưng đầy triển vọng của Việt Nam, phù hợp với xu hướng vận động phát triển cuả nền kinh tế thế giới và khu vực
2.2 Tác động của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam
Trong suốt gần 15 năm qua, ĐTNN đã không ngừng đóng góp vào những thành công của công cuộc đổi mới đất nước Tựu trung lại, ĐTNN
có những tác động tích cực chủ yếu như sau:
Bảng 1.1: Đóng góp của FDI vào nền kinh tế Việt Nam Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Doanh thu (Triệu USD) 2743 3815 3910 4600 6167 7400 8570 Xuất khẩu (Triệu USD) 788 1790 1982 2547 3300 3560 3820
Tỷ trọng GDP (%) 7,39 9,07 10,03 12,24 13,25 13,5 13,7 Tốc độ tăng công nghiệp
(%) 21,7 23,2 24,4 20,0 23,1 12,1 19,5
Tỷ trọng trong công nghiệp (%) 26,7 28,9 32,0 34,7 36,0 35,4 37,3 Nộp ngân sách
(Triệu USD) 263 315 317 271 260 - 310 Lao động trực tiếp
(ngìn người) 220 250 270 296 327 380 417
Nguồn: Thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư 3/2003
- ĐTNN tạo nguồn vốn quan trọng hỗ trợ phát triển kinh tế
Trang 18Trong thời gian qua, bình quân mỗi năm chúng ta thu hút được hơn
3 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Vốn FDI thực hiện bình quân thời kỳ 1991 - 2001 đạt 1.925,9 triệu USD/năm Đối với một nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay còn thiếu vốn nghiêm trọng để thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, đ-
ưa đất nước tiến lên hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, nhất là thiếu vốn để đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ chủ yếu cho nước nhà thì đây có thể nói là một lượng vốn đầu tư đáng kể, góp phần chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu từ chỗ chỉ xuất khẩu những hàng
sử dụng nhiều lao động sang sử dụng nhiều vốn
- ĐTNN giúp đổi mới và tiếp cận công nghệ hiện đại
Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành (năm 1987), quá trình chuyển giao và đổi mới công nghệ ở nước ta diễn ra vô cùng mạnh mẽ Hoạt động chuyển giao công nghệ thông qua các dự án FDI ngày càng tăng Trong giai đoạn 1996-2002, cứ 10 dự án đầu tư thì
có 1 dự án chuyển giao công nghệ; hiện nay tỷ lệ này là 4/1 Do đó, khoảng cách lạc hậu về công nghệ của nước ta so với các nước phát triển giảm từ 50 - 100 năm xuống còn 30 - 50 năm Cũng chính thông qua các doang nghiệp FDI mà nhiều kỹ thuật và công nghệ tiến bộ được đưa vào các ngành phục vụ hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu như khai thác dầu khí, công nghiệp hoá chất, sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm có chất lượng cao Các công nghệ này tuy không phải hiện đại nhất mà chỉ thuộc loại trung bình của thế giới nhưng đa phần là đồng bộ và có trình
độ cơ khí hoá cao hơn các thiết bị tiên tiến đã có sẵn trong nước Một số công nghệ chuyển giao vào lĩnh vực dầu khí, viễn thông, điện tử tin học, lắp ráp ô tô, xe máy thuộc loại hiện đại của thế giới Ví dụ, công nghệ khai thác dầu khí ngoài khơi lắp đặt tổng đài, kỹ thuật số, rô bốt, dây truyền tự động
Trang 19- ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Trong giai đoạn 1996-2001, vốn đầu tư nước ngoài đã tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất vật chất với cơ cấu hợp lý hơn, hướng vào xuất khẩu và xây dựng kết cấu hạ tầng Nếu thời kỳ 1991-1995 đầu tư nước ngoài trong công nghiệp và xây dựng chiếm 56% vốn thực hiện thì tới giai đoạn này con số đã lên tới 73% Hiện tại, đầu tư nước ngoài tạo ra xấp xỉ 35% giá trị sản lượng công nghiệp với tốc độ tăng trưởng trên 20%/năm, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng công nghiệp của cả nước đạt 11-13% mỗi năm, tạo nên nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, làm tăng đáng kể năng lực công nghiệp của Việt Nam Thông qua đầu tư nước ngoài, một hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất đã được hình thành, góp phần phân bổ công nghiệp hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư
Và chúng ta tin tưởng rằng đất nước sẽ hoàn thành mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
- ĐTNN tham gia phát triển nguồn nhân lực cho đất nước
Với điều kiện làm việc tốt hơn, có đầy đủ thiết bị máy móc và các điều kiện vật chất khác, sử dụng các loại công nghệ kỹ thuật hiện đại và
áp dụng các phương thức quản lý tiên tiến nên lao động trong khu vực ĐTNN có năng suất cao hơn trong khu vực nội địa Kết quả khảo sát của Viện Khoa học Lao động cho thấy mức thu nhập trung bình của công nhân làm việc trong các doanh nghiệp FDI vào khoảng 70 - 100 USD/tháng và của cán bộ quản lý là 200 - 300 USD/tháng Theo kết quả khảo sát điều tra liên bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì khoảng 49% doanh nghiệp FDI có quỹ đào tạo Trong những năm qua, có nhiều kỹ thuật viên và nhà quản lý giỏi được đào tạo ra từ các dự án FDI Có thể nói là chủ đầu tư nước ngoài rất chú trọng tới việc đào tạo cán bộ một cách có hệ thống
Trang 20- ĐTNN nâng cao năng lực xuất khẩu của Việt Nam
Kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu khí tăng nhanh thể hiện qua con
số 10,6 tỷ USD trong giai đoạn 1996-2002 là khoảng 16,6 tỷ USD tăng hơn 9 lần so với 5 năm trước, chiếm 24% kim ngạch xuất khẩu cả nước
Đó là chưa kể xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực dầu khí
Nếu tính cả dầu khí thì con số này cao hơn rất nhiều (chiếm trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu) Năm 1996, kể cả dầu thô, các doanh nghiệp FDI đã chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu, năm 2000 tăng lên 47,1% và năm
2002 là 45% Thông qua hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã được thay đổi
về cơ cấu theo hướng tích cực, theo hướng ngày càng tiếp cận được với thị trường các nước phát triển có sức tiêu thụ lớn song cũng đòi hỏi chất lượng hàng hoá rất khắt khe Cùng với quá trình đổi mới công nghệ, nhiều sản phẩm xuất khẩu mới có giá trị cao ra đời như các sản phẩm điện tử cũng làm tăng đáng kể sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam
ĐTNN thể hiện thông qua sự phát triển nhiều ngành sản xuất ở nước tiếp cận đầu tư Một trong những ngành đó là ngành dầu khí vừa mới phát hiện trong đẩy mạnh khai thác ở các nước đang phát triển Việt Nam là nước như vậy, và điều này sẽ được đề cập đến trong Chương II
Bên cạnh rất nhiều các tác động tích cực của đầu tư nước ngoài tới nền kinh tế Việt Nam như chúng ta vừa tìm hiểu, vẫn còn những tồn tại chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài như:
- Công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài còn yếu kém
và sơ hở, chưa nhất quán, thủ tục đầu tư còn nhiều phức tạp và tồn tại nhiều tiêu cực
- Hình thức đầu tư nước ngoài chưa phong phú
Trang 21- Công tác quy hoạch tổng thể còn chậm, chất lượng chưa cao, thiếu tính đồng bộ
- Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập và hiệu quả tổng thể về kinh tế – xã hội của khu vực đầu tư nước ngoài chưa cao
- Năng lực trình độ cán bộ phía Việt Nam còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm, không nắm vững pháp luật
Tóm lại, đầu tư nước ngoài là một hoạt động mang tính quy luật tất
yếu của nền kinh tế thế giới, mà bất kỳ nước nào cũng phải tham gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay Đầu tư nước ngoài không những đã đem lại những lợi ích nhất định cho nền kinh tế thế giới, mà riêng với Việt Nam cũng đem lại nhiều đóng góp thiết thực cho kinh tế đất nứơc Tuy nhiên, trong thời gian qua, chúng ta mới chỉ thực sự chú trọng đến công tác thu hút vốn đầu tư vào trong nước mà chưa có những chiến lược thích đáng cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài Trong xu thế của thời đại, để tăng trưởng kinh tế chúng ta không những cần thu hút đầu
tư nước ngoài nhằm khai thác nguồn lực trong nước mà còn cần tích cực tham gia đầu tư ra nước ngoài để tận dụng lợi thế so sánh giữa các nước
Tuy mới chỉ bắt đầu đi những bước đi mới mẻ, nhưng muốn thành công, chúng ta cũng rất cần các định hướng đúng đắn mang tính chiến lược
Trang 22CHƯƠNG II: CHIẾN LƯỢC ĐTNN TRONG THĂM DÒ KHAI THÁC DẦU KHÍ CỦA PETROVIETNAM
I GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM
60, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã sớm có chủ trương xây dựng và phát triển ngành dầu khí và năm Từ đó đến nay, ngành Dầu khí Việt Nam đã
có những mốc son đáng nhớ trên con đường phát triển như sau:
Năm 1961 Thành lập Liên đoàn địa chất 36
Tháng 9-1975
Thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam trên cơ sở Liên đoàn Địa chất và Ban Dầu thuộc Tổng cục Hoá chất
Tháng 9-1977
Thành lập Công ty dầu mỏ và khí đốt Việt Nam gọi tắt là Petrovietnam trực thuộc Tổng cục Dầu khí với nhiệm vụ hợp tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí với nước ngoài tại Việt Nam
Tháng 4-1990 Sáp nhập Tổng cục Dầu khí vào Bộ Công nghiệp
nặng
Tháng 7-1990
Thành lập Tổng công ty Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam trên cơ sở các đơn vị cũ của Tổng cục Dầu khí (tên giao dịch quốc tế là Petrovietnam)
Trang 23Tháng 4-1992
Tổng công ty Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam tách khỏi Bộ Công nghiệp nặng và trực thuộc Thủ tướng Chính phủ
Tháng 5-1995 Tổng công ty Dầu khí Việt Nam được Thủ tướng
Chính phủ quyết định là Tổng công ty nhà nước
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là Tổng công ty Quốc gia, là đơn vị được tổ chức theo mô hình Tổng công ty 91, có Hội đồng quản trị, Ban Tổng Giám Đốc và 17 phòng ban Hiện nay, Tổng công ty có 17 đơn vị thành viên với 15.000 lao động; trong đó có 10 đơn vị hạch toán độc lập,
3 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 4 đơn vị sự nghiệp nghiên cứu
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam có nhiệm vụ chính là:
Nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, vận chuyển, cung cấp dịch vụ về dầu khí
Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị dầu khí, dầu thô, khí thiên nhiên, các sản phẩm về dầu khí
Lưu thông các sản phẩm dầu khí
Tiến hành các hoạt động kinh doanh đa dạng cũng như thực hiện các nhiệm vụ khác do Nhà nước giao phù hợp với pháp luật Việt Nam
Như vậy, rõ ràng là so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, ngành Dầu khí nước ta ra đời khá muộn Từ thập niên 70, khi mà ngành công nghiệp Dầu khí của các nước trên thế giới đã phát triển mạnh thì chúng ta mới có một đơn vị làm nhiệm vụ tìm kiếm thăm dò ở giai đoạn đầu khi mới thành lập đến trước khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, trong bối cảnh đất nước bị bao vây cấm vận, vốn đầu tư dành cho điều tra cơ bản phục vụ cho phát triển ngành Dầu khí rất eo hẹp, tiềm lực vật chất và kỹ
Trang 24thuật thiếu thốn nên hoạt động của ngành chủ yếu là tự đầu tư, tiến hành công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí khu vực đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long Thành tựu quan trọng thu được trong giai đoạn này là hình thành Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsopetro với sự liên doanh của Liên bang Xô Viết (cũ) năm 1981, đã đưa vào khai thác mỏ dầu Bạch Hổ
Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và của ngành, nghiên cứu kinh nghiệm phát triển của các quốc gia dầu khí, từ giữa những năm 80, Tổng Công Ty Dầu khí Việt nam đã đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại, tăng cường hợp tác thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dầu khí, nhằm tận dụng vốn đầu tư, trình độ công nghệ và trình độ quản lý cao của các nước có ngành công nghiệp Dầu khí tiên tiến trên thế giới Trong giai đoạn từ những năm 1985 đến 1995, Tổng Công Ty Dầu khí Việt nam đã từng bước khai thác tiềm năng dầu khí phục vụ nền kinh tế quốc dân và đã
có những đóng góp quan trọng trong giai đoạn này Đồng thời, cũng trong giai đoạn này, Tổng Công Ty Dầu khí Việt nam đã từng bước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực, chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho những bước phát triển tiếp theo Giai đoạn từ 1995 đến nay, tiếp tục triển khai chính sách kinh tế mở và công cuộc đổi mới do Đảng, Chính phủ Việt nam chủ trương, quán triệt những quan điểm chủ đạo trong hoạt động kinh tế đối ngoại, Tổng công ty dầu khí Việt nam đã thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các hình thức hợp tác quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia
Quá trình xây dựng và phát triển ngành Dầu khí Việt nam là một chặng đường dài với nhiều khó khăn, thử thách Vượt qua những khó khăn những ngày đầu thì lại gặp phải những thử thách mới, đó là tình hình chính trị diễn biến phức tạp, khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, đầu tư nước ngoài giảm nhiều so với những năm trước đây Ngoài những khó khăn chung đó, sự bất ổn định của giá dầu thô trên thế giới đã khiến đầu tư của
Trang 25các Công ty dầu khí nước ngoài vào Việt Nam giảm hẳn, những hạn chế về tiềm lực tài chính, cơ sở vật chất, khoa học-kỹ thuật-công nghệ, trình độ, năng lực chuyên môn đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Dầu khí Đứng trước những khó khăn thử thách đó, Tổng Công Ty Dầu khí Việt nam đã cùng với các đơn vị thành viên phát huy mọi nguồn lực sẵn có, quán triệt phương hướng, nhiệm vụ, từng bước vượt qua khó khăn này đến khó khăn khác để tự khẳng định mình và ngày càng phát triển, mở rộng không ngừng cả về quy mô và sản lượng khai thác sản phẩm
Như vậy, sau hơn 40 năm hoạt động và 27 năm thành lập Petrovietnam , ngành Dầu khí Việt nam đã trưởng thành nhanh chóng, đóng góp nguồn tài chính quan trọng cho đất nước, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn người lao động Đến nay, chúng ta đã đưa vào khai thác 6 mỏ dầu và xuất khẩu trên 100 triệu tấn dầu thô, thu gom và sử dụng được trên 6 tỷ m3
khí đồng hành Thành quả này là sự ghi nhận công lao đóng góp của toàn thể cán bộ, công nhân của ngành, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ, Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị Tổng Công Ty Dầu khí Việt nam
2 Hoạt động của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
- Tìm kiếm thăm dò khai thác
Trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, với mục tiêu xác định tiềm năng
và gia tăng trữ lượng dầu khí, phát hiện thêm nhiều mỏ mới, đảm bảo nhu cầu về sản lượng dầu khí cho đất nước, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tiếp tục mở rộng khu vực tìm kiếm, thăm dò thông qua các hợp đồng phân chia sản phẩm, hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh, đưa nhanh các mỏ đã được phát hiện vào khai thác và áp dụng các công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, tăng hệ số thu hồi dầu khí, bảo vệ môi trường tài nguyên và đạt mục tiêu sản lượng 25-27 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2005 Kết quả các hoạt động này gồm: đã ký được 45 hợp đồng
Trang 26các loại như PSC, JOC, BCC trong đó 25 hợp đồng đang thực hiện Số
mỏ chính đang khai thác gồm mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Bunga Kekwa
- Sử dụng các tiềm năng khí thiên nhiên
Để sử dụng tiềm năng to lớn về khí thiên nhiên, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã và đang tích cực triển khai các đề án khai thác như xây dựng tuyến đường ống dẫn từ mỏ Bạch Hổ, các mỏ khí Nam Côn Sơn, Tây Nam vào bờ Mục tiêu trước mắt của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là nâng công suất đưa khí vào bờ lên đến 4,5-5 triệu m3/ngày Hiện nay, Nhà máy xử lý khí Dinh Cố đang hoạt động từ nguồn khí mỏ Bạch
Hổ nhằm đáp ứng nhu cầu khí hoá lỏng trong nước, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đang triển khai các đề án khai thác và sử dụng khí từ các bể trầm tích Nam Côn Sơn và vùng Tây Nam nhằm đảm bảo nhu cầu về nguyên, nhiên liệu cho các cụm nhà máy điện, đạm, các khu công nghiệpngoại vi thành phố Hồ Chí Minh và các công trình khác trong kế hoạch tổng thể về sử dụng khí của Việt Nam
- Các đề án lọc hoá dầu
Trong lĩnh vực hạ nguồn, các đề án lọc hoá dầu cũng đang được Tổng công ty Dầu khí Việt Nam triển khai tích cực Đề án lọc dầu số 1 Dung Quất – miền Trung Việt Nam công suất 6,5 triệu tấn/năm đang trong giai đoạn xây dựng Nhà máy lọc dầu số 2 với công suất tương đương cũng sẽ được xây dựng cùng với khu tổ hợp công nghiệp hoá dầu
Nhà máy đạm Phú Mỹ là một trong những công trình hoá dầu đầu tiên của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đang được xây dựng Những công trình này sau khi xây dựng xong sẽ đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa về các sản phẩm lọc hoá dầu và phục vụ cho xuất khẩu Hiện nay, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đang thành lập các liên doanh với các công ty dầu khí hàng đầu thế giới để sản xuất nhựa đường, PVC,
Trang 27polypropylene, DOP, menthanol cũng như xây dựng các cơ sở đóng bình
và mạng lưới phân phối khí hoá lỏng
- Dịch vụ dầu khí
Ngoài những dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các khâu tìm kiếm, tham dò, khai thác và chế biến dầu khí, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam còn chú trọng các dự án phát triển năng lực dịch vụ các loại, nhất là dịch vụ kỹ thuật cao Cho đến nay, dịch vụ dầu khí của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đảm đương các công việc phức tạp trong các hoạt động thăm dò, khai thác, phát triển mỏ, thiết kế, lắp ráp, chế tạo vật tư, thiết bị cung cấp cho ngành Có nhiều loại hình dịch vụ hiện là thế mạnh của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam như dịch vụ căn cứ, dịch vụ tàu thuyền, xây dựng các công trình dầu khí biển, cung cấp lao động kỹ thuật cao, phân tích mẫu, xử lý tài liệu địa chất, địa vật lý,… Các loại hình dịch vụ của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam cung cấp đều đạt các tiêu chuẩn quốc tế và được các công
ty dầu khí lớn trên thế giới đánh giá cao về chất lượng, giá cả và thời gian thực hiện
- Hợp tác quốc tế
Với hàng loạt các đề án lớn trong khuôn khổ chương trình phát triển chiến lược của ngành cho đến năm 2010, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam mong muốn mở rộng hơn nữa sự hợp tác với các công ty dầu khí nước ngoài, đa dạng hoá các hình thức đầu tư và nâng cao hiệu quả hợp tác, đầu tư với các đối tác trong và ngoài nước
Ngoài việc tích luỹ kinh nghiệm và chuẩn bị lực lượng để tự đầu tư tại một số khu vực trong nước, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam sẽ tham gia cùng với các công ty dầu khí quốc tế tiến hành các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở các khu vực tiềm năng khác trên thế
Trang 28giới như ở Đông Nam Á, Trung Đông, Châu Phi, và Nam Mỹ Đồng thời, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam cùng các đối tác trong khu vực ASEAN triển khai đề án xây dựng mạng lưới đường ống dẫn khí xuyên qua các nước, cho phép nhập khẩu dầu khí nhằm cân đối nhu cầu mỗi nước
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam khyến khích các công ty nước ngoài đầu tư dưới nhiều hình thức vào các lô còn mở ngoài khơi và trên đất liền, nhất là các lô vùng nước sâu, xa bờ và cùng với các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Việt Nam tìm mọi giải pháp để tạo điều kiện cho các công ty dầu khí nước ngoài nâng cao hiệu quả đầu tư vào ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam
3 Mục tiêu chiến lƣợc phát triển chung của Ngành dầu khí Việt Nam
Căn cứ Đường lối và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020” và định hướng phát triển ngành dầu khím hoá chất, phân bón, đã được quyết định tại Đại hội IX của Đảng;
Căn cứ vào Mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005, mà Chính phủ báo cáo và đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá X;
Xuất phát từ tiềm năng về cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực, khả năng tài chính và kinh nghiệm tổ chức quản lý hiện nay của ngành Dầu khí, các mục tiêu chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 được xác định như sau:
Nâng cao sản lượng trung bình hàng năm khoảng 65 triệu tấn dầu quy đổi
Trang 29 Phấn đấu sản lượng khai thác dầu khí vào năm 2010 đạt 45-50 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó dầu thô khai thác trong nước khoảng 20-
25 triệu tấn, khí khoảng 20-25 tỷ m3, sản lượng dầu thô khai thác từ nước ngoài khoảng 4-5 triệu tấn
Phát triển thị trường khí trong nước đảm bảo sử dụng 18-25 tỷ m3
khí vào năm 2010; phấn đấu trong giai đoạn 2010 -2020 có nối kết với đường ống dẫn khí khu vực, đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa khả năm xuất và nhập khẩu dầu khí
Tăng cường đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ dầu khí Tham gia thị trường kinh doanh dầu thô và các sản phẩm dầu khí quốc tế
Thu hút và hỗ trợ sự tham gia của mọi thành phần kinh tế ngày càng nhiều vào cung cấp dịch vụ cho dầu khí và kinh doanh phân phối các sản phẩm dầu khí
Từng bước đầu tư phát triển hoạt động dầu khí ra nước ngoài, đặc biệt là khâu thăm dò và khai thác nhằm đảm bảo nguồn cung cấp dầu khí lâu dài cho đất nước Đồng thời từng bước đầu tư trong các lĩnh vực chế biến, phân phối dầu khí ở nước ngoài
Đẩy mạnh đầu tư để phát triển tiềm lực khoa học công nghệ của ngành Dầu khí Việt Nam, sớm tiếp cận với trình độ chung của cộng đồng dầu khí quốc tế Đến năm 2010 đạt trình độ khoa học công nghệ của các nước trong khu vực và đạt trình độ thế giới trong một số lĩnh vực về công nghệ thăm dò, khai thác, chế biến và dịch vụ
Xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia và nhân công dầu khí Việt
Nam đủ mạnh về chất lượng để tự điều hành các hoạt động dầu khí
cả ở trong nước và nước ngoài
Trang 30 Xây dựng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thành tập đoàn kinh tế
mạnh ngang tầm với các tập đoàn dầu khí trong khu vực
Như vậy, Sau hơn 27 năm xây dựng và trưởng thành Tổng công ty Dầu
khí Việt Nam đã thực sự trở thành một nhân tố phát triển của kinh tế đất nước Trong thế kỷ mới, Petrovietnam sẽ tích cực phát huy tiềm năng nội lực không những đẩy mạnh hoạt động trong nước mà còn ở nước ngoài như đã đề ra trong “Chiến lược phát triển ngành dầu khí” Đây là một bước đi vô cùng mới mẻ nhưng đầy triển vọng, Petrovietnam rất cần thiết phải nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này trước khi hoạch định ra một chiến lược đầu tư nước ngoài trong thăm dò khai thác dầu khí
cụ thể
II TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG THĂM DÒ KHAI THÁC DẦU KHÍ
1 Tổng quan về thăm dò khai thác dầu khí thế giới
1.1 Tình hình thăm dò khai thác dầu dầu khí thế giới
Lịch sử khai thác dầu khí được coi như bắt đầu vào năm 1859 với dòng dầu đầu tiên được phun lên tại Tutresville (Pennsylvania, Mỹ), nhưng sản lượng khai thác dầu thô chỉ thực sự tăng rất nhanh trong giai đoạn 1939-1980 Đó là nhờ có những tiến bộ khoa học đáng kể về cơ khí nặng, các tiến bộ của bộ môn điện và điện tử đã được đưa vào áp dụng trong công nghệ thăm dò khai thác dầu khí Trong giai đoạn từ năm 1975 tới nay sản lượng khai thác tăng chậm dần do sự cạn kiệt dần các mỏ dầu trên đất liền cộng với các cuộc khủng hoảng năng lượng vào những năm 1973-1974 (thành lập khối OPEC), 1979-1980 (chiến tranh Iran-Irắc), 1991-1992 (khủng hoảng Vùng Vịnh) khiến cho giá dầu tăng vọt Điều này đã thúc đẩy các quốc gia phát triển nghĩ tới khả năng thay thế nguồn
Trang 31năng lượng dầu lửa bằng các năng lượng khác, đồng thời tiến dần ra các vùng nước sâu thềm lục địa để tìm kiếm các mỏ mới
Hiện nay, trữ lượng dầu khí thế giới được đánh giá ở vào khoảng 4.500 tỷ thùng Mức tiêu dùng hiện nay khoảng 75 triệu thùng/ngày và dự báo sẽ tăng lên hơn 120 triệu thùng/ngày vào 2020 Tỷ trọng dầu khí trong cơ cấu năng lượng tương lai được dự báo ở mức 40% như hiện nay
Phần lớn nguồn cung cấp dầu gia tăng dự kiến sẽ từ các nước thành viên OPEC ở vùng Vịnh Ba-tư (20,5 triệu thùng/ngày) Các nguồn cung cấp
bổ sung đáng kể khác gồm các nước vùng Ca-xpiên và Tây Phi Dự báo
tỷ trọng khí thiên nhiên trong các dạng năng lượng thế giới sẽ tăng lên so với mức hiện nay khoảng 23-28% và lượng khí thiên nhiên được tiêu thụ vào năm 2020 sẽ tăng lên 162 nghìn tỷ bộ khối khí so với mức 84 nghìn
tỷ bộ khối khí năm 1999
Hoà cùng không khí toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, quốc tế hoá hoạt động thăm dò khai tác dầu khí đang lan rộng trên toàn thế giới và đặc biệt là ở các nước đang phát triển với ngày càng nhiều các công ty dầu khí tham gia vào thị trường dầu khí thế giới Nhiều quốc gia và khu vực giàu tiềm năng dầu khí đã mở cửa cho các đối tác nước ngoài vào thăm dò khai thác dầu khí như I-rắc, Li-bi, Nga và các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ…
Công nghiệp dầu khí thế giới cũng được cơ cấu lại với việc sáp nhập giữa các công ty dầu khí quốc tế thành những tập đoàn dầu khí siêu lớn
Đồng thời, các công ty dầu khí quốc gia cũng đẩy mạnh hoạt động dầu khí ở nước ngoài
Tổ chức Các nước Xuất khẩu dầu lửa OPEC vẫn duy trì ảnh hưởng chi phối đến mức cung cầu dầu thô thế giới ở mức tương đối ổn định Sau cuộc khủng hoảng giá dầu hồ cuối thập kỷ 90, giá dầu thế giới nhìn chung
Trang 32được duy trì ở mức trên 20USD/thùng, nhờ đó các công ty dầu khí tăng chi tiêu vào công tác thăm dò
1.2 Sự điều chỉnh chiến lược của các công ty dầu khí quốc tế trên thế giới
Hiện nay, nhiều công ty dầu khí quốc gia đang tích cực triển khai hoạt động trên phạm vi quốc tế, trong đó một số công ty được coi là đã và đang triển khai quốc tế hoá một cách thành công như CNPC (Trung Quốc), Petrobras (Braxin), Petronas (Malaysia), Statoil (Na Uy), KNOC (Hàn Quốc) Các công ty mới bắt đầu triển khai hoạt động quốc tế như CNOOC, PTT (Thái Lan), Pertamina (Indonesia), Petrovietnam… cũng đang tích cực hoạt động để có chỗ đứng trên trị trường thế giới Để huy động vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động, nhiều công ty dầu khí quốc gia
đã tiến hành cổ phần hoá như CNPC, CNOOC, PTT… nhưng nhà nước vẫn nắm quyền kiểm soát qua việc sở hữu cổ phần chi phối Với sự điều chỉnh chiến lược phù hợp, các công ty dầu khí quốc gia đã tham gia với vai trò ngày càng to lớn vào thăm dò khai thác dầu khí thế giới
Bên cạnh đó, nhiều công ty dầu khí quốc tế lớn đã tiến hành sáp nhập như Exxon với Mobil, BP với Amoco, Total với Fina và Elf Động thái này nhằm thực hiện hiệu quả hơn chiến lựơc “chi phí thấp” và tăng cường sức mạnh tài chính, kỹ thuật và công nghệ, để từ đó tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường Sự điều chỉnh chiến lược mới nhất của các công ty dầu khí quốc tế lớn là thiết lập các liên minh/hợp tác chiến lược với các nước giàu tiềm năng dầu khí và chi phí/giá thành khai thác thấp (A-rập Xê-út, Cô-oét) Nhờ vậy, họ tiếp cận các cơ hội đầu tư khổng lồ và không có khả năng cạnh tranh lớn ở những nước hay khu vực khai thác then chốt
1.3 Những cơ hội và thách thức mới với ngành dầu khí thế giới
Trang 33 Các công ty dầu khí có nhiều cơ hội thâm nhập vàp các nước, các khu vực giàu tiềm năng dầu khí trên thế giới nhờ chính sách mở cửa của các nước, các khu vực này Hiện nay, khu vực được nhiều công ty quan tâm là Trung Đông, Bắc và Tây Phi, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ
Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hoạt động thăm dò khai thác dầu khí với các vùng nước sâu (ví dụ như ngoài khơi An-gô-la…)
và các mỏ cận biên đã trở thành những dự án khả thi cả về kỹ thuật
và kinh tế
Xu hướng tiêu dùng khí gia tăng nhanh, đặc biệt ở khu vực Châu á,
mở ra những cơ hội thăm dò khai thác khí mới
Các công ty dầu khí quan tâm nhiều hơn đến rủi ro chính trị, an ninh sau những biến động vừa qua của tình hình chính trị thế giới
Những biến động đó có thể đe doạ nguồn cung trong thời gian ngắn hoặc tương đối dài và do đó gây nên biến động giá dầu với biên độ lớn
Sở hữu và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật sẽ tạo thêm sự khác biệt về khả năng cạnh tranh giữa các công ty lớn/siêu lớn và các công ty trung bình/nhỏ và điều này thực sự trở thành một thách thức lớn đối với các công ty trung bình nhỏ
2 Đặc thù của công việc thăm dò và khai thác dầu khí
Trong ngành công nghiệp dầu khí, người ta phân chia ra hai nhánh hoạt động chính Đó là công việc “thượng nguồn” (Uptream) hay công nghiệp thăm dò và khai thác dầu khí và công việc “hạ nguồn” gồm lọc dầu, hoá dầu và phân phối các sản phẩm dầu khí Ngành công nghiệp dầu khí vốn là một ngành non trẻ nhưng lại có tác động rất lớn đến nền kinh
tế thế giới, nên việc thăm dò và khai thác dầu khí cũng có những đặc thù
Trang 34rất khác biệt so với bất kỳ ngành công nghiệp nào mà các nhà đầu tư nên nắm vững Đó là:
2.1 Rủi ro rất cao
Việc tìm kiếm một loại khoáng sản ở thể lỏng và khí nằm sâu trong lòng đất hàng ngàn mét, đã hình thành và tồn tại hàng trăm triệu năm, đồng thời lại luôn di dịch quả thực không dễ dàng gì Hơn nữa, hiện nay các mỏ dầu nằm trên đất liền hầu như đã được khám phá và khai thác, nên người ta phải tiến ra biển, thăm dò trên các vùng thềm lục địa mà mức nước biển giao động từ vài chục mét tới hàng kilômét Vậy nên rủi
ro luôn là bài toán đầu tiên cần xem xét đối với mọi nhà đầu tư trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí để đi đến quyết định có đầu tư hay không và đầu tư ở đâu? Đây quả là một bài toán hóc búa bởi vì có rất nhiều yếu tố rủi ro như sau:Rủi ro kỹ thuật: Mũi khoan có phát hiện mỏ dầu khí hay không? Mỏ phát hiện có kinh tế hay không? Kỹ thuật có đảm bảo để đạt hệ số thu hồi dầu khí hay không?
Rủi ro chính trị: Chế độ chính sách của quốc gia sở hữu mỏ có ổn định không? Các sắc thuế có đảm bảo việc khai thác mỏ đạt hiệu quả kinh tế không?
Rủi ro kinh tế: Vấn đề dao động giá dầu thô trong tương lai có thể làm cho đề án khai thác trở nên rất hiệu quả hoặc hoàn toàn sụp đổ
Đây là một yếu tố bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tình hình kinh tế chính trị có tính chất quốc tế Rất nhiều các tập đoàn dầu khí lớn và các tổ chức hiệp hội quốc tế tìm mọi biện pháp khống chế song vô cùng khó khăn và ít khi đạt được theo mong muốn
Ngoài ra còn có hàng loạt các rủi ro khác cần phải xem xét như: môi trường, công nghệ áp dụng, tài chính, tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ, thuê mướn nhân công … Tuy nhiên trong tất cả các yếu tố rủi ro có thể ảnh
Trang 35hưởng tới sự thành công của các nhà đầu tư thì trong thăm dò khai thác dầu khí rủi ro kỹ thuật vẫn là lớn nhất Mặc dù đã có sự hỗ trợ rất nhiều của công nghệ hiện đại, song khi chưa thực hiện khoan sâu vào lòng đất thì không thể khẳng định chắc chắn ở đó có dầu hay không Hơn nữa, hiện nay tỷ lệ giếng khoan thăm dò có phát hiện dầu khí ngày càng giảm
Tính trung bình trên thế giới phải khoan từ 7 đến 10 giếng mới có 1 giếng có phát hiện dầu khí Trong khi đó, chi phí cho một giếng khoan sâu 3000 m trung bình: 3-5 triệu USD (trên đất liền), 8-15 triệu USD (ngoài khơi) Điều này cũng cho thấy các quốc gia , đặc biệt là các nước đang phát triển khi thực hiện đầu tư thăm dò khai thác dầu khí phải có chiến lược đúng đắn, lộ trình hành động cụ thể
2.2 Đầu tư vốn lớn
Theo đánh giá của nhiều nhà kinh tế, ngành công nghiệp thăm dò khai thác dầu khí là một ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn hàng đầu trong các ngành công nghiệp nặng Một vài con số cụ thể sau đây cho phép ta hình dung thực tế:
1 giếng khoan thăm dò trên đát liền 3-5 triệu USD
1 giếng khoan thăm dò ngoài biển 8-15 triệu USD Thẩm lượng tính thương mại của mỏ Khoan 7-10 giếng Phát triển 1 mỏ dầu tầm trung (50 triệu tấn) 3 tỷ USD
Thu nổ, xử lý 1000 km địa chấn 4-5 triệu USD
Xử lý sự cố kẹt cần khoan, phun trào không khống chế được, mất dung dịch khoan
Hàng chục triệu USD Như vậy, nếu xét tới mức độ rủi ro cao của công tác thăm dò (1 thành công/ 9 thất bại) ta sẽ hiểu được tại sao chỉ các tập đoàn cực lớn mới có độ ổn định về tài chính trong hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí
Trang 36và tại sao có hàng trăm công ty dầu khí phá sản mỗi khi có sự giao động giá dầu thô
2.3 Công nghệ và kỹ thuật áp dụng rất hiện đại
Ba bộ môn cơ bản của khoa học áp dụng cho công tác thăm dò khai thác dầu khí là: địa chất, địa vật lý và khoan sâu Tuy nhiên để thực hiện toàn bộ công việc tìm ra dòng dầu thô và khí đốt đòi hỏi áp dụng hầu như những kỹ thuật tiên tiến nhất của các ngành như: thông tin học, phân tích hoá học, phóng xạ, vật lý, quang học, hàng không, cơ khí… Các thiết bị
sử dụng ở đây có quy mô rất lớn và đòi hỏi độ chính xác cao
2.4 Công tác điều hành quản lý đòi hỏi chặt chẽ và khẩn trương
Hoạt động thăm dò khai thác dầu khí đòi hỏ vốn đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, thực hiện ở những nơi rất nguy hiểm như ngoài khơi xa nên muốn đạt được thành công đòi hỏi một quy trình điều hành quản lý phải thật chặt chẽ, nhanh nhạy, và đặc biệt phải có kiến thức và kinh nghiệm cao Công tác điều hành quản lý ở đây phải rất khẩn trương vì chỉ cần một khâu chậm trễ có thể gây những thiệt hại trầm trọng cả về người
Còn theo dự báo của Viện chiến lược-Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì nhu cầu
về các sản phẩm xăng dầu ở Việt Nam được xác định vào khoản 12 triệu
Trang 37tấn vào năm 2005; 17 triệu tấn vào năm 2010 và 26 triệu tấn vào năm
2020 Tuy nhiên các dự báo trên chưa tính tới các yếu tố đột biến, và theo tính toán của các chuyên gia Ngân hàng thế giới thì con số dự báo sẽ thấp hơn nhu cầu thực tế của nền kinh tế Việt Nam Hơn nữa, hiện nay Đảng
và nhà nước ta đang quyết tâm phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, nhu cầu thực tế về năng lượng tính theo đầu người
ít nhất cũng xấp xỉ Thái Lan hiện nay Như vậy nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm xăng dầu ở Việt Nam vào năm 2020 có thể phải trên 30 triệu tấn/năm
Đối với các sản phẩm hoá dầu, con số dự báo nhu cầu cho giai đoạn 2001-2010 cũng tăng nhanh lên tới trên 10%/năm, giai đoạn 10 năm tiếp theo là khoảng trên 5%/năm Theo dự báo của Bộ Công nghiệp, nhu cầu với tổng sản phẩm hoá dầu các năm 2005, 2010, 2020 lần lượt là trên 5 triệu, 8 triệu và 17 triệu tấn
Nhu cầu tiêu thụ khí đang phát triển rất nhanh, đặc biệt là khu vực phía Nam, bao gồm các nhu cầu cho sản xuất điện, cho các ngành công nghiệp khác và cho dân sinh Cho đến năm 2010 nhu cầu tiêu thụ khí cho sản xuất điện vẫn là lớn nhất Theo “Tổng sơ đồ phát triển Điện lực V” đã được chính phủ phê duyệt trong giai đoạn từ 2001 đến 2010 có xét đến triển vọng cho 2020 là trên 7000 MW, chiếm khoảng 30-40% tổng công suất và năm 2020 là khoảng 10.000-14.000MƯ Vậy nên nhu cầu tiêu thụ khí cho sản xuất điện được dự báo cho năm 2010 là trên 8 tỷ m3
khí và cho năm 2020 là khoảng 14-19 tỷ m3
3.2 Dự báo trữ lượng và khai thác dầu khí trong nước
Theo những kết quả tìm kiếm thăm dò trong những năm vừa qua thì tổng trữ lượng dầu khí có thể thu hồi dự báo vào khoảng 5-6 tỷ m3
dầu quy đổi, tập trung chủ yếu ở thềm lục địa (tới 99%); (So với tiềm năng
Trang 38dầu khí của các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được xếp ở mức trung bình)
Đến nay đã có phát hiện dầu khí tại hơn 65 cấu tạo chủ yếu ở các vùng nước nông tới 200m, với trữ lượng phát hiện khoảng 1.530 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó có các mỏ dầu khí thương mại như Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bunga-Kekwa, Cái Nước, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Lan Tây, Lan Đỏ, Hải Thạch, Rồng Đôi Tây, Kim Long… đang khai thác hoặc chuẩn bị đi vào khai thác Phần lớn trữ lượng tiềm năng còn lại (trên 60% tổng tiềm năng) tập trung chủ yếu ở ngoài khơi vùng nước sâu, xa bờ và các vùng chồng lấn.Đánh giá hiện nay của Petrovietnam cho rằng tiềm năng và trữ lượng khí thiên nhiên lớn hơn dầu
Với nhịp độ phát triển thị trường tiêu thụ hiện nay, sản lượng khí có thể tăng dần, từ 1,9 tỷm3
năm 2002 lên tới gần 6 tỷ m3 năm 2005 và 12 tỷ
m3 năm 2010 với nguồn cung cấp chính ở phía Nam ở miền Bắc và miền Trung, ngoài mỏ Tiền Hải C, dự báo sẽ có một số mỏ cung cấp khí tiêu dùng tại chỗ
Trang 390 10 20 30 40 50 60 70
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Như vậy, các nguồn năng lượng trong nước có thể sẽ không đủ đáp ứng cho nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, đặc biệt là sau năm 2015
Để cân đối cung-cầu về năng lượng, Việt Nam cần bổ sung khoảng 5-6 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2020 và có thể nhiều hơn trong các năm tiếp theo
Đây là một vấn đề hết sức cấp bách của ngành năng lượng Việt Nam nói chung và của ngành dầu khí nói riêng Điều này cũng có nghĩa là chúng ta cần tích cực khẩn trương hơn nữa trong hoạt động thăm dò khai thác ở nước ngoài để đảm bảo vấn đề an ninh năng lượng quốc gia
Trang 404 Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài của Petrovietnam
Các dự án ở nước ngoài của Petrovietnam
4.1 Giới thiệu sơ lược về Công ty Đầu tư Phát triển Dầu khí (PIDC)
Công ty Đầu tư & Phát triển Dầu khí (PIDC) có tiền thân là Công ty Petrovietnam I (PVI) được thành lập ngày 17/11/1988 với nhiệm vụ ban đầu
là giám sát và hỗ trợ các Hợp đồng Dầu khí khu vực phía Bắc Do hoạt động