1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ảnh hưởng của việc lai cận huyết lên sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng Pacific White Shrimp, Penaeus (Litopenaeus) vannamei ở giai đoạn giống và nuôi thịt docx

2 544 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 169,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của việc lai cận huyết lên sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng Pacific White Shrimp, Penaeus Litopenaeus vannamei ở giai đoạn giống và nuôi thịt Trong các chương trình sinh sả

Trang 1

Ảnh hưởng của việc lai cận huyết lên sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng Pacific White Shrimp, Penaeus (Litopenaeus) vannamei ở

giai đoạn giống và nuôi thịt

Trong các chương trình sinh sản nhân tạo động vật, quá trình chọn giống với số lượng hạn chế về mặt di truyền có thể làm cho sự cận huyết xảy ra nhanh chóng (trong một hoặc hai thế hệ)

Mặc dù những ảnh hưởng của lai gần đã được nghiên cứu rộng rãi ở các động vật trên cạn và ở một số các loài thủy sản nhưng những hiểu biết về ảnh hưởng của nó trên tôm biển thì vẫn còn rất ít Mục tiêu của nghiên cứu này là tim hiểu các ảnh hưởng của việc lai gần lên sự sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng giai đọan nhỏ (trại giống) và khi nuôi thịt Thí nghiệm được tiến hành trong 2 năm và số liệu thu được từ hai thế hệ liên tiếp (G2 và G3) khi cho lai anh chị em với nhau (lai gần) và lai xa được đem phân tích Có tất cả 11 nhóm lai gần và 12 nhóm lai xa ở thế hệ G2, 9 lai gần và 10 lai xa ở G3 Hệ số cận huyết (F) cho nhóm lai xa là 0.00 và nhóm lai gần là 0.25 đối với thế hệ G2 và 0.00 và 0.375 cho thế hệ G3 theo thứ tự

Trang 2

tương ứng Tốc độ tăng trưởng đối với nhóm lai xa và lai gần hầu như tương

đương trong cả G2 và G3 Tỷ lệ nở đối với nhóm lai gần thấp hơn 33.1% so với lai

xa ở G2 và cũng thấp hơn 47.1% ở G3 và so với nhóm lai xa Sự suy giảm sức sống do cận huyết (IBD, sự thay đổi tương đối trong kiểu hình trên 0.1 tăng ở F) ± 95% CI (Confidant Interval: khoảng tin cậy trong phép thống kê) đối với tỷ lệ nở là -12.3± 10.1%

Tỷ lệ sống của ấu trùng đối với nhóm lai cận huyết thấp hơn 31.4% so với nhóm lai xa ở G2 và thấp hơn 33.8% ở G3 IBD đối với tỷ lệ sống của ấu trùng là -11.0± 5.7% Tỷ lệ sống ở giai đọan nuôi thịt ở lai gần thấp hơn 1.9% so với lai xa đối với G2 và thấp hơn 19.6% ở G3 IBD đối với tỷ lệ sống ở giai đọan nuôi thịt là -3.8± 2.9% Phân tích thống kê cho thấy có sự tương quan hồi quy có ý nghĩa giữa IBD của tính trạng tỷ lệ sống và tỷ lệ sống bình quân của nhóm lai xa Ở nhóm lai xa có

tỷ lệ sống cao thì IBD là thấp (thí dụ như tỷ lệ sống giai đoạn nuôi thịt ở G2), tuy nhiên IBD trở nên gay gắt hơn khi tỷ lệ sống của nhóm lai xa thấp đi Điều này đưa tới đề xuất rằng stress (liên quan đến môi trường sống và hoặc là giai đọan sống)

có thể làm IBD tệ thêm đối với tính trạng tỷ lệ sống

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ cận huyết từ trung bình cho tới cao (>10%) nên được tránh trong các trại sản xuất giống thương mại bởi vì các tác động tích tụ về IBD đối với tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của ấu trùng sẽ làm sụt giảm nghiêm trọng năng suất con giống Vì vậy IBD có thể đủ để được sử dụng trong việc điều chỉnh việc lai cận huyết như một chiến lược bảo vệ sức sống (trong một

số trường hợp) đối với các chương trình cải thiện di truyền

Người dịch: Ths Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ thủy sản, Khoa thủy sản, Đại học Cần Thơ

Nguồn tin: Dustin R Moss, Steve M Arce, Clete A Otoshi, And Shaun M Moss

2008 Inbreeding Effects on Hatchery and Growout Performance of Pacific White Shrimp, Penaeus (Litopenaeus) vannamei Journal of the World aquaculture

society, vol 39, no 4 August, 2008

Ngày đăng: 10/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w