Những đòi hỏi cần tái cấu trúc ở Việt Nam: Yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa đất nước – là quá trình chuyển hóa nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế dựa trên công nghiệp hiện đại để
Trang 1Họ và tên: Vũ Thị Thanh Thanh
Mã SV: CQ527343
BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ VIỆT NAM I/ Bối cảnh Việt Nam, đòi hỏi và căn cứ đối với tái cấu trúc ở Việt Nam hiện nay
1 Những đòi hỏi cần tái cấu trúc ở Việt Nam:
Yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa đất nước – là quá trình chuyển hóa nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế dựa trên công nghiệp hiện đại để cải tạo nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Tất cả các nước phát triển ngày nay đều đã trải qua lộ trình này Việt Nam đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa có nghĩa là phải thực hiện tái cấu trúc từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại Trong khi đó các nước kinh tế phát triển đang thực hiện cả cấu trúc kinh tế theo hướng kinh tế tri thức – nền kinh tế được điều hành bằng tri thức của con người và tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp mà trụ cột của nó là công nghệ thông tin
Trong bối cảnh đó tái cấu trúc kinh tế ở Việt Nam cần phải lồng ghép giữa công nghiệp hóa với các nhân tố của nền kinh tế tri thức thời mới có thể tránh tụt hậu bằng cách “đi tắt đón đầu”
Chuyển đổi thể chế kinh tế hoặc cải cách kinh tế : Kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, phát triển thành tựu nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn 25 năm đổi mới, Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: "Nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa (KTHH) nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường (CCTT) có sự quản lý của Nhà nước, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; vừa vận động theo những quy luật của KTTT, vừa được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH; trong đó CCTT được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ, có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và
Trang 2cạnh tranh lành mạnh; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực hiện chế
độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN bằng pháp luật, cơ chế chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế" Đồng nghĩa với sự thay thế độc quyền sở hữu nhà nước (sở hữu toàn dân) sang đa sở hữu và từ phủ định các quy luật kinh tế khách quan như : quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh sang thừa nhận sự tồn tại tất yếu của
nó Đồng hành là tái cấu trúc kinh tế một cách có hệ thống từ tái cấu trúc thể chế kinh
tế, cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế kinh tế thị trường… Phát triển KTTT định hướng XHCN theo đường lối đổi mới đó, trong 25 năm qua đã góp phần to lớn đưa đất nước
"vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình" "Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân"
Nhưng, "những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Kinh tế phát triển chưa bền vững Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, Công tác quy hoạch,
kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải; quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung còn nhiều yếu kém, việc thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn bất cập Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và
sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp Thể chế KTTT, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển"
Trang 3Hậu quả của suy thoái hoặc hậu khủng hoảng kinh tế: Sau khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học công nghệ (KHCN) và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên Mặt khác, khủng hoảng còn để lại hậu quả nặng nề, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế Kinh tế thế giới tuy đã bắt đầu phục hồi nhưng còn nhiều khó khăn, bất
ổn, đặc biệt là nguy cơ tái khủng hoảng nợ công ở khu vực đồng Euro và giá dầu mỏ tăng cao; sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là những nước lớn sẽ tác động đến nước ta Sự ảnh hưởng của 2 yếu tố trên, luôn đòi hỏi tái lập mặt bằng kinh tế mới thích ứng với yêu cầu tăng trưởng và phát triển của chu kỳ kinh tế mới
Ở Việt Nam, sau suy thoái và hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đòi hỏi tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế thuộc mọi lĩnh vực: kinh tế, tài chính, thị trường và cơ cấu nguồn nhân lực…, vừa theo hướng hoàn thành cơ bản công nghiệp vào năm 2020 và vừa tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa kinh tế
Tác động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế: Sau gia nhập WTO, Việt Nam đã dấn sâu vào hội nhập kinh tế toàn cầu Để tránh tiếp tục tụt hậu và theo kịp trình độ quốc tế, không có con đường nào khác là phải tái cấu trúc kinh tế, tham gia vào “sân chơi” quốc tế bình đẳng, đồng thời tìm kiếm cơ hội tạo dựng mầm móng để hướng tới nền kinh tế tri thức
Trước bối cảnh nêu trên, một trong những yêu cầu bức bách đối với nước ta là phải tái cấu trúc hệ thống tài chính đáp ứng yêu cầu thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển KT-XH và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lược tới
2 Những căn cứ xuất phát:
2.1 Mục tiêu và những đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020:
- Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau
Trang 4- Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ đạt khoảng 85%
trong GDP Giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong GDP Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động; tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30-35% lao động
xã hội
- Thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, trọng tâm là tại cấu trúc các ngành sản xuất, dịch
vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn
3 Thời cơ và thách thức đối với tái cấu trúc kinh tế Việt Nam
Trang 5- Kinh tế nội lực tăng trưởng toàn diện: tính đến tháng 7/2010 so với cùng kỳ năm
2009 : giá trị sản lượng công nghiệp tăng 13.5%, dịch vụ tăng gần 17%, xuất khẩu tăng trên 16% và xuất khẩu gạo dự tính đạt đến 6.5 triệu tấn…
- GDP tăng nhanh – TP.HCM và Hà Nội có mức tăng trên 10%
- Thu ngân sách tăng, nợ công nằm trong vòng kiểm soát (chưa vượt quá 40% GDP…)
- Chỉ số giá CPI tăng chậm (bình quân 0.3% ) so với cùng kỳ năm 2009, sức mua dần vào thế ổn định
- Tỷ giá hối đoái chỉ dao động tăng từ 1,8 – 2%
3.2 Cơ hội và lợi thế:
Việt Nam đang dấn sâu vào hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt từ sự kiện gia nhập WTO – Sự kiện này đang tạo nhiều cơ hội thuận lợi để NN phát triển nhanh, phát triển đột phá theo mặt bằng của xu thế toàn cầu hóa kinh tế, nếu biết tận dụng đúng đắn các lợi thế này theo nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế
Kinh tế thế giới đang bước vào thời kỳ hồi phục, đang và sẽ mở ra nhiều cơ hội hơn để Việt Nam hồi phục và gia tăng xuất - nhập khẩu (XNK), cũng như tiếp nhận đầu tư nước ngoài Song cũng cần biết đón đầu và chọn lọc để làm thay đổi cơ cấu kinh tế Việt Nam bằng việc nâng cao các ngành có hàm lượng chất xám cao, giảm các ngành có trình độ công nghệ thấp và thay thế chúng bằng tiềm lực nội sinh
Chính trị ổn định là lợi thế kinh tế vô hình của Việt Nam và nếu biết tận dụng mọi cơ hội thì sẽ là nguồn lực và tiềm năng kinh tế quan trọng hậu thuẫn cho sự phát triển bền vững
Trang 63.3 Những thách thức của kinh tế Việt Nam sau khủng hoảng:
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu dần được phục hồi nhưng chậm và không đồng đều giữa các quốc gia cũng là trở ngại lớn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam; đặc biệt là XNK và tiếp nhận đầu tư nước ngoài Kim ngạch XNK của Việt Nam chiếm trên 60% GDP Trong bối cảnh đó, xuất khẩu của Việt Nam đang tăng chậm, nhập siêu tăng vượt trội, đầu tư nước ngoài giảm, ảnh hưởng đến lưu lượng ngoại hối, tỷ giá hối đoái và hoạt động của thị trường tài chính Điều này cần sớm có những biện pháp khắc phục và ứng phó hữu hiệu
Cơ cấu kinh tế Việt Nam còn mất cân đối, thiếu đồng bộ, thiếu “liều lượng” cần thiết của các ngành kinh tế mũi nhọn và chủ lực để làm động lực phát triển Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ công nghiệp hóa ở Việt Nam hướng vào mục tiêu hoàn thành cơ bản vào năm 2020
Thể chế kinh tế và cơ chế quản lý chưa cho phép khai thác đầy đủ tiềm năng và thế mạnh của kinh tế tư nhân đầu tư vào các ngành kinh tế chủ lực hoặc tham gia đầu
tư dưới hình thức PPP (đối tác công tư) nhằm tạo những bước phát triển đột phá kinh
tế bằng nội sinh trong điều kiện hội nhập kinh tế
Công cuộc cải cách hành chính tuy đã làm giảm bớt được một số cản trở của các thủ tục rườm rà bởi nhiều của nhiều dấu; song vẫn còn tồn tại không ít sự hoành hành của tệ quan liêu, cơ chế “xin – cho”thiếu công khai minh bạch (thể hiện rõ nét là đến nay vẫn chưa hình thành được chính quyền điện tử) Điều này làm cho nhiều cơ hội kinh tế bị bỏ lỡ và gây nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài tìm đến Việt Nam Sự trì trệ
đó gây tổn hại không ít đối với 1 đất nước đang cần tiếp nhận đầu tư để thực hiện quá trình biến ngoại sinh thành nội lực
Điều hành kinh tế vĩ mô đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là hậu gia nhập WTO và sự ứng phó có hiệu quả với cuộc khủng hoảng toàn cầu Tuy vậy cũng còn nhiều hạn chế bởi thể chế kinh tế và cơ chế quản lý trên nhiều phương diện vẫn chưa thực sự thích ứng với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu Vì thế cần tiếp tục đổi mới điều hành kinh tế vĩ mô, nhằm bảo đảm cho kinh tế phát triển phù hợp với quy luật
Trang 7khách quan; khai thác mọi thế mạnh và tiềm lực nội sinh đồng thời tận dụng mọi thời
cơ để phát triển đột phá theo trào lưu kinh tế quốc tế
II/ Quá trình tái cấu trúc đầu tư công tại Việt Nam hiện nay:
1 Thực trạng đầu tư công ở Việt Nam trong những năm qua:
Quan niệm khác cho rằng, đầu tư công là đầu tư do khu vực công thực hiện đầu
tư vào chương trình dự án phục vụ phát triển kinh tế Theo quan niệm này, nếu các dự
án được thực hiện bằng vốn ngân sách thì có thể được coi là đầu tư công, nhưng nếu thực hiện dự án bằng vốn xã hội hóa do tư nhân bỏ vốn, việc xác định đây là khoản đầu
tư công trở nên khó khăn Chính vì vậy, quan niệm về đầu tư công nên xuất phát từ tính chất sở hữu của nguồn vốn hơn là mục đích sử dụng khoản đầu tư công Do đó, đầu tư công là những khoản đầu tư vốn thuộc sở hữu của Nhà nước, có thể bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách hay từ các doanh nghiệp có vốn thuộc sỡ hữu Nhà nước Tại Việt Nam, trong thời kì kế hoạch hóa tập trung, chưa sử dụng thuật ngữ đầu tư công,
mà chỉ coi đầu tư công là đầu tư của Nhà nước Khi chuyển sang cơ chế thị trường thuật ngữ đầu tư công hay đầu tư Chính phủ được bao gồm: Đầu tư từ ngân sách; đầu
tư các chương trình mục tiêu; tín dụng Nhà nước; đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Với quan niệm về đầu tư công như vậy, tình hình đầu tư công tại Việt Nam được tác giả tập trung phân tích theo bốn nội dung trên Trước khi khủng hoảng tài chính năm 2008 xảy ra, tổng vốn đầu tư trong xã hội đã liên tục tăng, trong đó đầu tư vốn thuộc khu vực Nhà nước chiếm tỷ lệ nhất và có xu hướng tăng lên qua các năm
Nếu năm 2002 mới chỉ trên 86 nghìn tỷ đồng, nhưng chỉ sau 5 năm đến năm 2007 tăng lên trên gần gấp 2 lần Trong khi đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cố xu hướng tăng nhanh, nhưng chiếm tỷ lệ thấp hơn, đối với khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng đầu tư xã hội (xem hình 1)
Trong giai đoạn này, có thể nhận thấy qui mô đầu tư công có xu hướng tăng và đóng vai trò chủ đạo trong tổng đầu tư xã hội trong khi đó cơ cấu đầu tư công vốn chủ yếu vẫn từ ngân sách chiếm 50%, còn lại vốn vay và vốn của DNNN Bên cạnh đó, phân bổ đầu tư công còn dàn trải và thiếu tập trung, phân bổ đầu tư công theo ngành
Trang 8chưa thể hiện rõ rệt, mang tính cào bằng, phân bổ theo địa phương vẫn tập trung cho các dự án trung ương, còn lại các dự án ở địa phương chiếm khoảng 40% tổng vốn đầu
tư công Chính vì vậy, giai đoạn trước khủng hoảng, đầu tư công tại Việt Nam, với qui
mô tăng nhanh, cơ cấu phân bổ dàn trải là một trong những nguyên nhân gây ra những bất ổn trong nền kinh tế đầu tư công tăng sẽ khiến mức bội chi ngân sách tăng, kéo theo tăng khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư, làm giã tăng nợ,
Hình 1: Vốn đầu tư toàn xã hội
Nhưng ngay sau khi khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ và tiếp sau đó là cuộc khủng hoảng nợ công tại các nước Châu Âu 2010, đã khiến cho nền kinh tế các nước trong đó Việt Nam chịu những ảnh hưởng đáng kể đặc biệt là cố sự giảm sút trong tổng đầu tư xã hội Mặc dù, Chính phủ Việt Nam vẫn nỗ lực tăng đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội nhưng vẫn có biểu hiện giảm sút đáng kể
về qui mô đầu tư công trong tổng vốn đầu tư của xã hội Năm 2008 đầu tư công có biểu hiện giảm hơn so với năm 2007, năm 2009-2010, với những gói kích thích kinh tế cũng như nhằm mục tiêu thức đẩy tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng, đầu tư công được coi như tình trạng “tháo khoán”
Năm 2011, tốc độ giải ngân của đầu tư công trong 6 tháng đầu chỉ đạt 13.000 tỉ đồng/tháng, không đạt mục tiêu đề ra nên Chính phủ quyết tâm đẩy mạnh giải ngân trong 6 tháng cuối năm, mỗi tháng khoảng 21.000 tỉ, cao hơn gấp rưỡi so với mức trung bình của 6 tháng đầu năm Điều này dẫn đến đầu tư ổ ạt vào tháng cuối năm gây
Trang 9ra những bất ổn trong kinh tế với lượng vốn đổ vào quá nhiều trong khỉ hiệu quả dự án không được theo dõi và giám sát, khiến tình trạng lãng phí và hiệu quả đầu tư không cao Đến năm 2012, tình trạng đấu tư công lại được siết chặt, chỉ ưu tiên cho các chương trình mục tiêu quốc gia, lĩnh vực quốc phòng an ninh, các dự án lớn thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Về cơ cấu đầu tư công, vốn ngân sách chiếm từ 40% đến 65% trong tổng vốn đầu tư trong khi đó vốn vay chỉ chiếm từ 15% đến 30%, còn đầu tư của các DNNN chiếm khoảng 20% đến 30% Cụ thể, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách có xu hướng tăng liên tục, nhưng đối với nguồn vốn này hướng vào thực hiện đầu tư các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội không có khả năng thu hồi vấn hoặc khả năng thu hồi vến chậm nên nguồn vấn này đống vai trò hỗ trợ cho đầu tư, nhưng lại cố ý nghĩa kinh tế lớn đối với nền kinh tế
Đối với khoản đầu tư của DNNN vẫn đang là vấn đề tranh cãi trong khoản đầu
tư công bởi hiện tượng lãng phí, thất thoát các dự án đầu tư của các DNNN, đầu tư ra ngoài lĩnh vực hoạt động chính khiến cho các khoản nợ tăng lên nhanh chóng, đặc biệt
là tập đoàn kinh tế, tổng công ty chưa tập trung vào lĩnh vực đầu tư chính tạo động lực cho nền kinh tế, đôi khi đầu tư phân tán khiến hiệu quả đầu tư không cao
Về phân bổ đầu tư công, sau khủng hoảng đầu tư công chủ yếu được tập trung vào thức đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đố nâng cấp cơ sở hạ tầng và cải thiện điều kiện xã hội Tuy nhiên, đầu tư cho các ngành thuộc lĩnh vực kinh tế có xu hướng tăng mạnh, đầu tư công có lĩnh vực quản lý hành chính tăng không đáng kể, còn đầu tư vào lĩnh vực xã hội liên quan đến phát triển con người như khoa học, giáo dục, y tế,… có
xu hướng giảm Phân bổ đầu tư công theo cấp ngân sách, đã có sự chuyển biến tích cực, nếu như trước đây, vốn phân bổ cho ngân sách trung ương chiếm khoảng 60%
trong khi phân bổ cho các địa phương chỉ chiếm 40%, sau khủng khoảng, cơ cấu này
đã có sự chuyển biến đáng kể khoảng 50% vốn phân bổ cho địa phương và tập trung vào giao thông, thủy lợi, trường học, y tế
Về hiệu quả đầu tư công, đối với các dự án đầu tư công còn dàn trải, phân tán khiến đầu tư chậm, thiếu đồng bộ, gây lãng phí và kém hiệu quả Cụ thể, trong năm
Trang 102010 có 25.000 nghìn dự án với 180 nghìn tỉ đồng, nhưng trung bình mỗi dự án chỉ khoảng 7 tỷ và kéo dài khoảng 3 năm, hơn nữa nhiều dự án sau khi hoàn thành không
đi vào sử dụng Qua đó, có thể nhận thấy hiệu quả đầu tư công còn thấp; hệ số ICOR của khu vực kinh tế Nhà nước thường cao hơn gấp 2-3 lần so với các thành phần kinh
tế khác Hệ số suất đầu tư ICOR (Incremental Capital Output Ratio) Theo số liệu thống kê, hệ số ICOR thời kỳ 2001-2005 trung bình khoảng 4,39 (nghĩa là để tăng một đồng GDP cần bỏ ra 4,39 đồng vốn) Trong khi đó, hệ số ICOR của Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc chỉ khoảng từ 1-2; Từ 2006 đến nay, ICOR tăng khá nhanh, trung bình khoảng 7,34 (xem Bảng 2)
Nguyên nhân của đầu tư công kém hiệu quả trong thời gian qua xuất phát từ sự yếu kém trong quản lý đầu tư, đó là cơ chế “xin cho” Các dự án không dựa theo tiêu chí hiệu quả, phân bổ vốn không đồng đều khiến sai lệch phá vỡ qui hoạch đầu tư…
2 Quá trình tái cấu trúc đầu tư công:
Trong điều kiện kinh tế khó khăn, với mục tiêu đảm bảo tăng trưởng kinh tế trong khi việc kích thích đầu tư và tiêu dùng đang gặp nhiều khó khăn do có sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng khiến việc tăng trưởng tín dụng thấp, lãi suất thị trường cao Kích thích đầu tư công tại thời điểm hiện nay là một trong những giải pháp khả thi Tuy nhiên, với nguồn vốn có hạn, kích thích đầu tư công không có nghĩa đơn giản tăng về qui mô đầu tư công mà đòi hỏi phải tái cơ cấu đầu tư công với mục tiêu trọng tâm là tập trung phân bổ vốn đầu tư cho các ngành nghề, lĩnh vực trọng điểm, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công tránh tình trạng thất thoát lãng phí và tham nhũng trong đầu tư công Để đạt được mục tiêu này trong thời gian tới cần tập trung một số vấn đề sau: