1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến – trường hợp tại trường cao đẳng FPT polytechnic

28 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Hài Lòng Của Người Học Đối Với Hình Thức Học Tập Trực Tuyến – Trường Hợp Tại Trường Cao Đẳng FPT Polytechnic
Tác giả Hoàng Nhật Linh
Người hướng dẫn TS. Phan Hoàng Long
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế, Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 604,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến – Trường hợp tại Trường Cao đẳng FPT Polyt

Trang 1

CAO ĐẲNG FPT POLYTECHNIC

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 834.01.01

Đà Nẵng - Năm 2022

Bảo mật

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Hoàng Long

Phản biện 1: TS Bùi Thị Minh Thu

Phản biện 2: PGS TS Lê Thái Phong

Luận văn đã được bảo vệ trước hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 27 tháng 8 năm 2022

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm thông tin – học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN

Bảo mật

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 2020, các trường học đã phải đóng cửa trong một thời gian dài do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, điều này đã làm gián đoạn các hoạt động dạy và học truyền thống Do đó, hình thức đào tạo trực tuyến được nhiều quốc gia và các tổ chức giáo dục lựa chọn

để thích ứng với điều kiện giãn cách xã hội mà vẫn có thể đảm bảo tiến độ của việc dạy và học Giống như các quốc gia khác, trong giai đoạn đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona bùng phát, thực hiện phương châm "tạm dừng đến trường, không dừng việc học", các trường học ở Việt Nam đã áp dụng việc dạy học bằng hình thức trực tuyến để thay thế cho hình thức giảng dạy truyền thống (Bùi Quang Dũng & cộng sự, 2021; Đặng Thị Thúy Hiền & cộng sự, 2020)

Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo đã nêu r : “Tiếp tục đổi mới mạnh m phu o ng pháp dạy và học theo hu ớng hiẹ n đại; phát huy t nh

t ch cực, chủ đọ ng, sáng tạo và vạ n dụng iến thức, na ng của ngu ời học; h c phục lối truyền thụ áp đạ t mọ t chiều, ghi nhớ máy móc Tạ p trung dạy cách học, cách nghĩ, huyến h ch tự học, tạo co

sở để ngu ời học tự cạ p nhạ t và đổi mới tri thức, na ng, phát triển

na ng lực Chuyển từ học chủ yếu tre n lớp sang tổ chức hình thức học

tạ p đa dạng, ch các hoạt đọ ng ã họ i, ngoại hóa, nghie n cứu hoa học Đ y mạnh ứng dụng co ng nghẹ tho ng tin và truyền tho ng

Do đó, việc triển khai hình thức học trực tuyến tại các ở các tổ chức giáo dục, trường học cũng được xem là hoạt động tất yếu trong thời đại công nghiệp 4.0 bởi cách học thuận tiện,

1 va-dt.aspx?ItemID=3928

https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/doi-moi-can-ban-toan-dien-gd-Bảo mật

Trang 4

2 linh hoạt về thời gian lẫn địa điểm (Đặng Thị Thúy Hiền & cộng sự, 2020; Phùng Xuân Nhạ, 2018)

Vì phải áp dụng phương pháp dạy học trực tuyến tại các cơ sở giáo dục một cách đột ngột nên cũng hông tránh hỏi phát sinh một

số hó hăn trong quá trình thực hiện Một trong những khuyết điểm lớn nhất là để đảm bảo việc học online, người học cần có máy tính hoặc các thiết bị thông minh có khả năng ết nối mạng internet, tuy nhiên nhiều học sinh, sinh viên vẫn còn hó hăn trong việc mua

s m trang thiết bị học hoặc hông đảm bảo được đường truyền (Bùi Quang Dũng & cộng sự, 2021; Trần Thị Ngọc Ny, 2022) Ngoài ra, trong lớp học trực tuyến, sự tương tác trực tiếp giữa sinh viên và giảng viên hoặc giữa sinh viên và sinh viên cũng gặp hó hăn (Trần Thị Ngọc Ny, 2022; Đặng Thị Thúy Hiền & cộng sự, 2020; Muilenburg & Berge, 2005) Điều này dẫn đến chất lượng của chương trình học hông được đảm bảo hay sinh viên không hứng thú, hài lòng với chương trình học (Bùi Quang Dũng & cộng sự, 2021)

Theo chỉ đạo chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ tháng 3 năm

2020, trường Cao đẳng FPT Polytechnic Đà Nẵng đã triển khai hình thức giảng dạy và học tập trực tuyến ở tất các môn học chuyên ngành Chương trình học tập trực tuyến đã được triển khai qua ứng dụng Google Meet và nền tảng Learning Management System (LMS) Đến tháng 02/2022, sinh viên FPT Polytechnic Đà Nẵng được trở lại trường học trực tiếp Tuy nhiên, nhận thấy ưu điểm của hình thức đào tạo trực tuyến nên nhà trường s duy trì hình thức đào tạo này đối một số môn học trong các học kỳ s p tới Vì vậy, để đánh giá những hạn chế còn tồn tại, tìm kiếm những biện pháp để nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy và học tập trực tuyến góp phần gia tăng sự thỏa mãn của sinh viên thì việc đánh giá các nhân tố ảnh

Bảo mật

Trang 5

3 hưởng đến sự hài lòng của người học - những người trực tiếp sử dụng dịch vụ đào tạo là hết sức cần thiết

Xuất phát từ lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Các nhân tố

ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến – Trường hợp tại Trường Cao đẳng FPT Polytechnic”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

a Mục tiêu chung

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên về hình thức đào tạo trực tuyến của Nhà trường và đưa

ra những hàm ý chính sách kh c phục những hạn chế còn tồn tại, để hình thức đào tạo trực tuyến đạt hiệu quả tốt hơn

- Đo lường mức độ hài lòng của sinh viên về hình thức học tập trực tuyến tại Trường Cao đẳng FPT Polytechnic

- Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao mức độ hài lòng của sinh viên về hình thức học tập trực tuyến tại Trường Cao đẳng FPT Polytechnic

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng với hình thức đào tạo trực tuyến

- Phạm vi nghiên cứu:

Bảo mật

Trang 6

4

+ Không gian: Trường Cao đẳng FPT Polytechnic Đà Nẵng

+ Đối tượng khảo sát: Tất cả các sinh viên đã tham gia hình thức đào tạo trực tuyến tại trường Cao đẳng FPT Polytechnic Đà Nẵng

+ Thời gian: Tháng 06 năm 2022 đến tháng 07 năm 2022

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua hai phương pháp: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nghiên cứu được bố cục gồm 04 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Mô hình và thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Bảo mật

Trang 7

2.1.2 Khái niệm về dịch vụ đào tạo

Đào tạo được em như là một hoạt động dịch vụ Theo đó, cơ sở đào tạo s cung cấp cho người học những kiến thức, k năng để người học có thể sử dụng trong công việc, cuộc sống, góp phần phát triển cho cá nhân người học và phát triển chung của xã hội

2.1.3 Khái niệm về hình thức đào tạo trực tuyến

Theo Thông tư 12/2016/TT-BGĐT: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng là việc sử dụng các trang thiết bị điện tử, phần mềm, học liệu điện tử và mạng viễn thông (chủ yếu là mạng Internet) hỗ trợ các hoạt động dạy và học nhằm đổi mới phương pháp dạy - học, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo Một số một mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng phổ biến là: a) Đào tạo kết hợp (Blended learning) là việc kết hợp phương thức học tập điện tử (e-Learning) với phương thức dạy - học truyền thống (theo đó người dạy và người học cùng có mặt) nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và chất lượng giáo dục

b) Học tập điện tử (e-Learning) là hình thức học tập qua đó người học có thể tự học mọi lúc, học mọi nơi thông qua các học liệu điện tử

đa phương tiện (lời giảng, lời thuyết minh, âm thanh, hình ảnh, video, đồ họa ) Các hình thức học tập như m-Learning (học thông qua thiết bị di động: điện thoại thông minh, máy tính bảng, màn hình tương tác), u-Learning (học thông qua các phương thức tương tác

Bảo mật

Trang 8

6 thực tế ảo diễn ra bất kỳ nơi hào), hay smart-Learning (phương tiện học tập thông minh) đều là các hình thái của học tập điện tử e-Learning

Trong phạm vi của bài nghiên cứu này, đào tạo trực tuyến có thể được hiểu là hình thức đào tạo dựa trên các công cụ hiện đại như: điện thoại, máy t nh,… có ết nối mạng Internet để học tập, học viên

và giáo viên có thể tương tác 2 chiều với nhau thông qua các nền tảng web, ứng dụng phần mềm,…mà hông phải phụ thuộc vào vị trí địa lý của họ

2.2 SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG

2.2.1 Khái niệm sự hài lòng của khách hàng

Có thể hiểu được sự hài lòng của khách hàng là cảm giác dễ chịu hoặc có thể thất vọng phát sinh từ việc người mua so sánh giữa những lợi ích thực tế của sản ph m và những kỳ vọng của họ Sự hài lòng của khách hàng là việc hách hàng căn cứ vào những hiểu biết của mình đối với một sản ph m hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan

2.2.2 Khái niệm sự hài lòng của sinh viên đối với dịch vụ đào tạo

Sự hài lòng của sinh viên là cảm nhận mang tính chủ quan từ việc đánh giá giữa những giá trị đào tạo mà nhà trường cung cấp so với mong đợi của sinh viên khi sử dụng dịch vụ đào tạo của nhà trường

2.2.3 Vai trò sự hài lòng của sinh viên đối với cơ sở giáo dục

Do môi trường ngày càng cạnh tranh và năng động, cũng như nhiều thách thức, các trường đại học, cao đẳng ngày càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của sự hài lòng của sinh viên (Usman và cộng

sự, 2010; Altbach, 1998; Arambewela và Hall, 2009)

Như vậy, đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên được xem là một trong những cách đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục,

Bảo mật

Trang 9

7 giúp các nhà quản trị đưa ra các ch nh sách nhằm không ngừng nâng cao sự hứng thú trong học tập cho sinh viên, chất lượng dịch vụ đào tạo Từ đó, nhà trường s thu h t được sinh viên theo học, tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động cũng như ây dựng hình ảnh thương hiệu uy tín

2.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

2.3.1 Nghiên cứu quốc tế

Nghiên cứu của Hong (2002) cho thấy giới tính, tuổi tác, phong cách học tập và khả năng học tập hông liên quan đến sự hài lòng của sinh viên với khóa học dựa trên Web Những sinh viên có k năng sử dụng máy t nh ban đầu tốt hơn s hài lòng hơn với khóa học Sự tương tác giữa sinh viên với giảng viên và động lực của nhóm cũng ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên từ khóa học dựa trên Web

Shen và cộng sự (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ

tự tin vào năng lực bản thân khi học trực tuyến và sự hài lòng đối của sinh viên Nghiên cứu cho rằng yếu tố mức độ tự tin vào năng lực bản thân s chịu ảnh hưởng bởi giới tính, kinh nghiệm học trực tuyến

và trình độ học vấn và có năm yếu tố của mức độ tự tin vào năng lực bản thân s ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên, bao gồm: mức

độ tự tin vào năng lực bản thân để hoàn thành khóa học trực tuyến, mức độ tự tin vào năng lực bản thân để tương tác với bạn cùng lớp vì mục đ ch ã giao, mức độ tự tin vào năng lực bản thân để tương tác với người hướng dẫn trong khóa học trực tuyến và mức độ tự tin vào năng lực bản thân để tương tác với các bạn cùng lớp vì mục đ ch học tập có ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học

Kurucay và Inan (2017) không tìm thấy sự tác động của các tương tác giữa người học với người học đối sự hài lòng của người học trong một khóa học trực tuyến do trường đại học đào tạo

Bảo mật

Trang 10

8

2.3.2 Nghiên cứu trong nước

Trần Yến Nhi (2021) đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến (e-learning) Tác giả đề xuất tám nhân tố có thể tác động đến sự hài lòng của người học đối hình thức học trực tuyến bao gồm: (1) Nhận thức dễ

sử dụng, (2) Nhận thức sự hữu ích, (3) Chất lượng thông tin, (4) Chất lượng hệ thống, (5) Giảng viên hướng dẫn, (6) Dịch vụ hỗ trợ, (7) Chu n chủ quan, (8) Nhận thức kiểm soát hành vi Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các nhân tố đều có sự tác động tích cực và đáng

kể đến biến phụ thuộc là sự hài lòng

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo trực tuyến, tác giả Lưu Hớn Vũ (2022) đưa

ra mô hình nghiên cứu đề xuất gồm năm nhân tố: (1) Giảng viên, (2) Sinh viên, (3) Môi trường học tập, (4) Nền tảng học tập, (5) Tài nguyên học tập Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá các biến độc lập, nghiên cứu gộp 2 nhân tố sinh viên và mô trường học tập thành điều kiện học tập Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu cho thấy, ba nhân tố gồm: Giảng viên, điều kiện học tập và nền tảng học tập có ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng đào tạo trực tuyến Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức kết quả học tập và sự hài lòng của sinh viên trong dạy học trực tuyến của tác giả Nguyễn Văn Trượng (2021) cho thấy có ba yếu tố có tác động lên sự hài lòng của sinh viên gồm: sự tương tác, cấu trúc khóa học và phong cách học tập của sinh viên

Bảo mật

Trang 11

9

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương này trình bày tổng quát về khái niệm hình thức đào tạo trực tuyến, sự hài lòng của khách hàng, sự hài lòng của sinh viên và tóm t t các kết nghiên cứu về sự hài lòng của sinh viên khi học trực tuyến để làm cở sở xây dựng mô hình trong chương 2

Bảo mật

Trang 12

10

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ THIẾT KÊ NGHIÊN CỨU

3.1 XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

a Giảng viên

Nhóm tác giả Lee và cộng sự (2011) nghiên cứu thấy nếu sinh viên nhận được sự hỗ trợ tốt từ phía giảng viên, sinh viên s hài lòng hơn với khóa học Một số nghiên cứu cũng đưa ra ết luận tương tự như Cole và cộng sự (2014), Jiang và cộng sự (2017), Trần Yến Nhi (2021), Phạm Thị Mộng Hằng (2020)

viên đối với hình thức học tập trực tuyến

b Sinh viên

Các nghiên cứu của Sun và cộng sự (2008), Cole và cộng sự (2014), Jiang và cộng sự (2017), Phạm Thị Mộng Hằng (2020) cho thấy sự hài lòng của người học về chất lượng đào tạo trực tuyến chịu ảnh hưởng bởi nhân tố sinh viên

viên đối với hình thức học tập trực tuyến

c Nền tảng học tập trực tuyến

Một số nghiên cứu trong nước như Trần Yến Nhi (2021), Lưu Hớn Vũ (2022) cũng đồng quan điểm với ý kiến: “Đào tạo trực tuyến nếu được triển khai trên nền tảng học tập tốt s mang đến sự hài lòng cho sinh viên

hài lòng của sinh viên đối với học tập trực tuyến

d Tài nguyên học tập

Một số nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của tài liệu học tập đối với sự hài lòng của sinh viên khi trải nghiệm học tập trực

Bảo mật

Trang 13

11 tuyến như Sun và cộng sự (2008), Sharples và cộng sự (2014),

Arbaugh (2014), Ghaderizefreh và Hoover (2018)

của sinh viên đối với hình thức học tập trực tuyến

3.1.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu

Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự hài lòng của sinh viên đối với hình thức đào tạo trực tuyến gồm 4 nhân tố: (1) Giảng viên, (2) Sinh viên, (3) Nền tảng học tập trực tuyến và (4) Tài nguyên học tập

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.2.1 Quy trình nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết, tác giả xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị Sau khi xây dựng mô hình nghiên cứu đề nghị, tác giả thực hiện xây dựng thang đo sơ bộ Để kiểm định thang đo sơ

bộ nhằm loại bỏ các biến rác, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu sơ bộ

và phân tích dữ liệu bằng phương pháp iểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Sau đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân t ch hồi quy tuyến t nh để xác định các nhân tố tác động đến sự hài lòng của người học với hình thức học tập trực tuyến, từ đó đưa ra ết luận và hàm ý chính sách cho nhà quản trị

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu

a Nghiên cứu định tính

Tác giả thực hiện nghiên cứu định tính bằng phương pháp thảo luận nhóm để điều chỉnh, bổ sung các nhân tố tác động đến sự hài lòng của sinh viên đối với hình thức đào tạo trực tuyến tại Trường Cao đẳng FPT Polytechnic Đà Nẵng Nghiên cứu đã phỏng vấn 20 sinh viên đang học kỳ 5, kỳ 6 tại Trường Cao đẳng FPT Polytechnic

Đà Nẵng Kết quả của nghiên cứu định tính cho thấy tất các đáp viên

Bảo mật

Trang 14

12 đều đồng ý với các nhân tố mà tác giả đề nghị và không có nhân tố mới nào được bổ sung vào mô hình

Tác giả sử dụng bộ thang đo từ nghiên cứu của Lưu Hớn Vũ (2021) gồm 25 biến quan sát để đề xuất bộ thang đo cho nghiên cứu Sau đó, tác giả tiến hành lấy ý kiến từ các giảng viên, những người được em như là các chuyên gia trong công tác đào tạo để điều chỉnh lại thang đo và hoàn thiện bảng khảo sát sơ bộ gồm 4 nhân tố độc lập, 1 nhân tố phục thuộc được đo qua 22 biến quan sát Các biến quan sát được đo lường trên thang đo Li er 5 điểm với sử dụng dạng

Li ert 5 điểm được dung để s p xếp từ nhỏ đến lớn tương ứng hoàn toàn không đồng ý; 2- hông đồng ý; 3-trung lập; 4-đồng ý; 5-hoàn toàn đồng ý)

(1-b Nghiên cứu định lượng

- Kiểm định thang đo

Sau giai đoạn nghiên cứu định tính và thu thập dữ liệu sơ bộ, tác giả thực hiện xử lý dữ liệu để kiểm tra thang đo sơ bộ bằng phần mềm SPSS

+ Mẫu nghiên cứu

Ở bảng khảo sát sơ bộ, tác giả đề xuất 22 biến quan sát nên cỡ mẫu tối thiểu để phân tích nhân tố hám phá là n≥ 110 (22 5) Cách thức chọn mẫu theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu với Google Forms Số lượng mẫu thu thập được để kiểm định thang đo là 116 mẫu

+ Phương pháp phân t ch dữ liệu

*Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha

*Phân tích nhân tố khám phá EFA

- Kiểm định giả thuyết

+ Mẫu nghiên cứu

Ở nghiên cứu chính thức, thang đo gồm 22 biến quan sát nên cỡ mẫu tối thiểu để phân tích nhân tố hám phá là n≥ 110 (22 5)

Bảo mật

Ngày đăng: 10/10/2022, 15:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hình thức học tập trực tuyến giữa giới tính nam và nữ cũng như giữa các chuyên ngành và khóa nhập học - Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến – trường hợp tại trường cao đẳng FPT polytechnic
hình th ức học tập trực tuyến giữa giới tính nam và nữ cũng như giữa các chuyên ngành và khóa nhập học (Trang 23)
học tập, giảng viên cần công khai minh bạch các hình thức đánh giá, tiêu chí chấm điểm của mơn học ngay vào những buổi học đầu tiên  và cập nhật điểm theo đ ng tiến độ để sinh viên n m rõ - Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến – trường hợp tại trường cao đẳng FPT polytechnic
h ọc tập, giảng viên cần công khai minh bạch các hình thức đánh giá, tiêu chí chấm điểm của mơn học ngay vào những buổi học đầu tiên và cập nhật điểm theo đ ng tiến độ để sinh viên n m rõ (Trang 25)
Bảng thống kê phân tích các hệ số hồi quy cho thấy nhân tố “Giảng viên  với Beta = 0.480 có tác động thuận chiều và mạnh m   nhất đến sự hài lòng của người học khi học tập theo hình thức trực  tuyến so với 2 nhóm nhân tố cịn lại - Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến – trường hợp tại trường cao đẳng FPT polytechnic
Bảng th ống kê phân tích các hệ số hồi quy cho thấy nhân tố “Giảng viên với Beta = 0.480 có tác động thuận chiều và mạnh m nhất đến sự hài lòng của người học khi học tập theo hình thức trực tuyến so với 2 nhóm nhân tố cịn lại (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w