1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

PHÁT HUY QUAN HỆ XÃ HỘI Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ pptx

272 718 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Quan Hệ Xã Hội Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ
Tác giả Nguyễn Văn Thành, Khúa Đào
Trường học Trường Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ
Thể loại Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2007
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 272
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mạnh, hay là tàn lụi ung thối, vì không hội tụ đầy đủ điều kiện dưỡng sinh thuận lợi.Cuốn sách thứ hai, xuất bản vào năm 2006, với tựa đề « Nguy Cơ Tự Kỷ , từ 0 đến 7 tuổi », đề xuất hai

Trang 1

PHÁT HUY QUAN HỆ XÃ HỘI Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ

NGUYỄN Văn Thành

Khóa Đào Tạo Năm III Mùa Hè 2007

Lời Mở Đường :

Ưu Tiên Số Một của chúng ta là gì ?

Nhằm trình bày và khảo sát về Hội Chứng Tự Kỷ, tôi đã được lần lượt xuất bản ba tác phẩm khác nhau :

Cuốn sách thứ nhất mang tựa đề « Trẻ Em Tự Kỷ », có mặt lần đầu tiên vào năm 2005, trên các tờ báo thông tin vi tính, ở trong và ngoài Nước Một cách đặc biệt trong tác phẩm nầy, tôi

đã khảo sát 5 triệu chứng, nhằm giúp đỡ cha mẹ và những những người có liên hệ xa gần, trong vai trò phát hiện những trẻ em mang hội chứng tự kỷ, từ những giây phút đầu tiên, khimột vài rối loạn vừa mới thoáng lộ diện

Càng phát hiện sớm, như tôi đã nhấn mạnh, chúng ta càng hội tụ nhiều cơ may, khả dĩ giúp đỡ những trẻ em nầy mau chóng thích nghi với đời sống và môi trường xã hội

Hẳn thực, từ 0 đến 6 tuổi, trẻ em đang còn ở trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển, trên mọi bình diện, thuộc đời sống cơ thể cũng như trong đời sống xã hội, từ những sinh hoạt vui đùa với bạn bè cùng trang lứa, đến những qui luật cầntuân hành ở môi trường học đường…Cũng trong thời gian và lứa tuổi nầy, hệ thần kinh trung ương hay là não bộ, với ba giai tầng khác nhau là Thân Não, Hệ Viền và Tân Vỏ Não, còn

ở trong tình trạng mềm dẽo, dễ uốn nắn, chuyển hóa và điều chỉnh Thậm chí những chương trình mang tên là bẩm sinh hay

di truyền còn tùy thuộc vào khả năng tác động của môi trường giáo dục gia đình Những quan hệ của cha mẹ, giống như nướctưới, đất màu hay là ánh sáng mặt trời, có thể mở ra hai con đường : làm cho hạt giống bẩm sinh phát triển thành cây lớn

Trang 2

mạnh, hay là tàn lụi ung thối, vì không hội tụ đầy đủ điều kiện dưỡng sinh thuận lợi.

Cuốn sách thứ hai, xuất bản vào năm 2006, với tựa

đề « Nguy Cơ Tự Kỷ , từ 0 đến 7 tuổi », đề xuất hai mục tiêu

rõ rệt :

Thứ nhất, để can thiệp một cách khoa học và hữu hiệu, nghĩa là có khả năng mang lại những thành quả cụ thể và khách quan, cho trẻ em đang có những rối loạn thuộc hội chứng tự kỷ, chúng ta cần cưu mang trong nội tâm, thái độ sáng suốt và tỉnh thức Người làm cha mẹ, các giáo viên cũng như chuyên viên thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, không thể « chầm chày may rủi », nhắm mắt đưa chân, áp dụng một cách máy móc tự động những chương trình có sẵn trong tầm tay, hay là những phương pháp trừng trị và ức chế theo kiểu

« xưa bày nay làm »

Tư duy cấu trúc, trái lại, đề nghị chúng ta hãy ý thức một cách sáng suốt : Tôi đang ở đâu ? Bắt đầu từ khởi điểm nào ?

Đi đến đâu ? Đi con đường nào ? Vì lý do gì ? Đi với phương tiện nào ? Đi theo những bước tiến lên từ dễ đến khó như thế nào ? Sau một thời gian tác động hay là can thiệp, chúng ta cần làm gì, nhằm đánh giá công việc và kết quả ? Khi nhận thấy mình đã đi sai đường, chúng ta sẽ vận dụng những biện pháp chuyển hóa như thế nào ?

Một câu hỏi cuối cùng, nhưng rất quan trọng mà chúng ta thường bỏ quên, nằm trong lãnh vực xúc động : chúng ta thực hiện bao nhiêu động tác đi lên ấy, với một thái độ và tâm trạng như thế nào ? Hạnh phúc và thoải mái, an lạc và tự tin ? Hay là xao xuyến, căng thẳng và loạn động, nhất là với một ý

đồ toàn năng, siêu ý định và siêu ý chí ?

Với những điều kiện nội tâm như vậy, chúng ta dễ có xu thế

áp đặt từ ngoài và từ trên, những chương trình phản ảnh thamvọng của chúng ta, thay vì lắng nghe, tìm hiểu nhu cầu chính đáng của trẻ em

Ngoài ra – đây là mục tiêu thứ hai của tác phẩm – mỗi trẻ

em tự kỷ là một thế giới đặc thù và riêng biệt Vừa khi ra khỏi lòng mẹ, và thậm chí trong lúc còn ở trong tử cung, bất kỳ trẻ

em nào không phải là một loại « vườn không nhà trống » Chúng ta muốn trồng gì vào đó, thì trồng Xây gì lên trên ấy,

Trang 3

thì xây Trái lại, trong mỗi tế bào thần kinh của não bộ, thể theo lối nhìn và kết quả nghiên cứu công phu của tác giả

Douglas M ARONE, bao nhiêu chương trình đã được cài đặt và khắc sâu đậm nét

Trong tầm tay và điều kiện cụ thể của mình, môi trường có trách nhiệm làm những gì, từ khi trẻ em vừa ra chào đời ?

- Trước hết, vun tưới và củng cố những chương trình cần củng cố và vun tưới ?

- Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi, để chuyển hoá, uốn nắn lại hay là điều chỉnh những gì đã bắt đầu có hướng đi lệch lạc ?

- Sau cùng, khi mầm mống tự kỷ đã có mặt, môi trường giáo dục có trách nhiệm làm những gì, không chần chờ, hẹn rày hẹn mai, để cản trở mầm mống ấy ngày ngày trở nên một cây cổ thụ, « một sự đã rồi », lúc trẻ em lên 7 tuổi ?

Môi trường là ai, nếu không phải là chính chúng ta tất cả, không trừ sót một ai ?

Thay vì xuyên qua liếc nhìn lẫn tránh hay là lời nói xiên xẹo,nhằm đổ lỗi, tố cáo cho các bậc làm cha mẹ … ai trong chúng

ta cảm thấy mình có vai trò nâng đỡ các bà mẹ trẻ đang khổ đau, tê liệt ? Phải chăng chúng ta hãy bước lại gần, giải thoát những mặc cảm tội lỗi vô căn cứ, đang đè nặng lên tâm tư của

họ ?

Ngoài ra, nhằm chu toàn ba trách vụ vừa được nói tới, là : Vun tưới, Chuyển hóa và Cản trở, chúng ta không thể không học

- Học nhìn đứa con, với một lối nhìn trinh nguyên, trong trắng, chưa có vết tích của khổ đau bóp méo và xuyên tạc

- Học nghe đứa con, với vành tai xôn xao, chưa vướng mắc vào một nỗi lo sợ đang trấn áp mọi sức sống vươn lên

- Học tiếp xúc và trao đổi, thậm chí với đứa con đang gặp những khó khăn lớn lao, trong lãnh vực quan hệ xã hội thông thường, hằng ngày

Trang 4

Hẳn thực, trước khi có khả năng phát huy ngôn ngữ đang được sử dụng trong môi trường gia đình, phải chăng đứa bé sơ sinh đã « chuyện trò » với người mẹ bằng cách nầy hay cách khác, bắt đầu với « tiếng khóc chào đời » Trong câu chuyện đầu tiên ấy, phải chăng đứa con đã được đón nhận và chấp nhận vô điều kiện, với tư cách là một con nguời toàn bích và toàn diện, đang từ từ mở ra cánh cửa nội tâm, để thu hóa những đóng góp của môi trường và thế giới bên ngoài ? Mỗi đứa con có một tốc độ nhanh hay chậm khác nhau Một gốc tre, chẳng hạn, từ ngày được trồng xuống lòng đất, phải đợi chờ chung quanh 3 năm, mới có thể nảy ra một chồi măng đầutiên Một người tự kỷ cũng vậy, như trường hợp của Sean BARRON, phải đợi chờ 25 năm, mới bắt đầu trao đổi chuyện trò qua lại với người mẹ sinh ra mình.

Chính vì bao nhiêu lý do vừa được giới thiệu một cách sơ phác, cuốn sách thứ ba nầy về Hội Chứng Tự Kỷ, mang tựa

đề : « Phát huy những quan hệ xã hội, trong vấn đề giáo dục trẻ em tự kỷ »

Lý do đầu tiên thúc giục tôi xếp đặt quan hệ xã hội, lên hàng ưu tiên số một, vì tất cả trẻ em tự kỷ đang gặp những khó khăn trầm trọng và chủ yếu, trong lãnh vực nầy

Lý do thứ hai phản ảnh những thành quả mới nhất, trong các công trình nghiên cứu về Hội Chứng Tự Kỷ, ở Âu Tây cũng như ở Bắc Mỹ Hẵn thực, đầu năm 2006, trong một tác phẩm

có tầm cỡ quốc tế, tác giả Daniel GOLEMAN đã nhấn mạnh vai trò của Trí Thông Minh Xã Hội, trong mọi lãnh vực sinh hoạt thuộc đời sống làm người

Trí thông minh xã hội bắt đầu chớm nở, khi trẻ sơ sinh nhìn thẳng vào hai mắt của người mẹ

Trí thông minh xã hội đã có mặt, nảy mầm đâm mộng, vào những lúc hai mẹ con sung sướng trao đổi nụ cười với nhau, nhất là sau khi trẻ sơ sinh đi vào lứa tuổi 2-3 tháng

Trí thông minh xã hội đã có mặt, khi đứa bé biết ngoảnh mặt nhìn nơi khác, trong một vài giây đồng hồ, nhằm giải tỏa những căng thẳng đang leo thang trong nội tâm của mình Chính lúc ấy, nếu ý thức được rằng những kích thích hiện tại của mình đang vượt quá ngưỡng chịu đựng của đứa con, bà

mẹ sẽ biết dừng lại, hay là sáng tạo những loại kích thích khác

Trang 5

Làm được như vậy, bà đang giúp đứa con phát huy trí thôngminh xã hội của mình, xuyên qua cách chọn lựa và quyết định

« khi nào mở ra, khi nào đóng lại » khả năng tiếp thu và hội nhập của mình

Bài học đầu tiên và lớn lao nhất, trong đời sống của mỗi conngười, phải chăng là ý thức được rằng : tôi được thương yêu vôđiều kiện và tôi được kính trọng, vì tôi là một con nguời có giá trị tuyệt đối ?

Ngoài ra, khi trí thông minh xã hội được ngày ngày phát triển như vậy, một đường giây thần kinh sẽ xuất hiện trong não bộ, nhằm nối kết các trung tâm khác nhau của Hệ Viền và Tân Vỏ Não Nhờ vào đó, những sức ép hay là xung năng tự nhiên và bồng bột của Hạnh Nhân sẽ từ từ nhận được ánh sángđiều hướng và điều hợp của Thùy Trán thuộc Tân Vỏ Não đưa xuống Ngược lại, Hạnh Nhân thuộc Hệ Viền gửi lên những tin tức, sau khi tham cứu Kho tàng hoài niệm là Hải Mã Dựa vào

đó, Thùy Trán có thể đề xuất những chương trình hành động vừa có tình vừa có lý, vừa phản ảnh những giá trị và ý nghĩa làm người, vừa thích ứng với những nhu cầu của thực tế và thực tại

Khi hiểu rõ những cơ chế sinh hoạt của Trí thông minh xã hội, được thể hiện một cách cụ thể trong những đường dây thần kinh đi lên và đi xuống như vậy, cha mẹ, người giáo viên

và các chuyên viên có thể hợp tác với nhau Cùng nhau, họ sẽ sáng tạo những dụng cụ, những phương tiện, những cách làm, nhằm bổ túc những gì đang còn thiếu vắng, điều chỉnh lại những gì đang sai lệch và kiện toàn những gì chưa hoàn chỉnh,trong bản thân và đời sống của chính mình Nhờ vào đó, một trẻ em tự kỷ sẽ thừa hưởng nhiều cơ may và điều kiện thuận lợi, khả dĩ chuyển hóa bản thân và cuộc đời có nguy cơ của mình

Trong tinh thần và ý hướng giáo dục như vậy, cuốn sách thứ ba nầy sẽ lần lượt trình bày và giới thiệu trong những chương kế tiếp, những trọng điểm chính yếu như sau :

- Trong chương Một, tôi sẽ trùng tuyên, một cách đầy đủ

và tổng hợp về 3 Triệu Chứng chính qui và đặc hiệu thuộc hội chứng Tự Kỷ Cầu Vồng Thay vì chỉ mô tả những hiện tượng bên ngoài, tôi sẽ nhấn mạnh một sự kiện có tầm mức quan trọng, trong lãnh vực quan hệ tiếp xúc và trao đổi Hẳn thực,

Trang 6

khi từ giả cung lòng ấm cúng của người mẹ, đứa bé sơ sinh cần một cung lòng ấm cúng khác, để lớn lên và phát triển, trong môi trường xã hội Cung lòng ấm cúng nầy không còn là

Tử Cung của bà mẹ Cung lòng nầy được kết dệt bằng những

nụ hôn, bằng những bàn tay xoa bóp Bằng những giọng hò ru con, người mẹ và những ai « đại diện mẹ », gọi về trong giấc

mơ và tâm tuởng của con, cả một giang sơn đất nước, bao nhiêu tầng tầng lớp lớp anh chị em đồng bào Trong khung cảnh hồn thiêng sông núi ấy, khi nằm một mình trong nôi đứa

bé đã biết nhếch miệng mỉm cười – một nụ cười sinh lý - « với

Bà Mụ, Bà Tiên, Bà Âu Cơ » Nụ cười vô thức ấy sẽ từ từ

chuyển qua nụ cười xã hội có ý thức, nếu có người đang có mặt với con, chớp thời cơ, để nhìn con, khen con, chuyện trò với con Bắc lên cho con những nhịp cầu, với người có mặt, cũng như với người không có mặt, nhưng đang hiện diện tràn đầy, để kiến tạo một « cái KHUNG » bao bọc chiếc nôi của con

và tạo an toàn cho con

- Chương Hai sẽ liệt kê và trình bày 5 loại sinh hoạt khác nhau, nhưng bổ túc và kiện toàn cho nhau, nhằm xây dựng và không ngừng tô điểm nội tâm của con người Tôi đồng ý một phần nào với Simon BARON-COHEN, khi tác giả nầy khẳng định rằng trẻ em tự kỷ không có NỘI TÂM Nhưng Nội Tâm, trong tầm nhìn của tác giả, không phải chỉ là Thinking hay là Thinking Mind, nghĩa là Tư Duy mà thôi Thêm vào đó, tư duy chỉ là một công đoạn duy nhất, thuộc về một quá trình gồm cónhiều thành tố giao thoa và kết hợp với nhau, như : Năm giác quan, Xúc động, Ngôn ngữ và Quan hệ qua lại giữa người với người

Vì lý do sư phạm và vấn đề trình bày, tôi không thể KHÔNG phân biệt trong và ngoài, truớc và sau, giữa 5 thành tố ấy Tuynhiên, trong thực tế sinh hoạt, năm thành tố mà tôi vừa liệt

kê, tác động qua lại hai chiều, giao thoa chằng chịt với nhau, cưu mang và phát huy, nhưng cũng có thể cản trở và hạn chế lẫn nhau

Bao nhiêu nhận xét ấy nhằm nhấn mạnh một sự kiện chất chứa nhiều ý nghĩa : khi trẻ em không có hay là từ chối quan

hệ, phải chăng đó là một cách khẳng định rằng : Tôi muốn, tôi cần một loại quan hệ hoàn toàn khác Thay vì những loại quan

hệ độc chiều, như tố cáo, trừng phạt, áp đặt…để làm người và thành người, tôi cần nhất là những quan hệ đồng cảm và lắng nghe Khi tôi không nói, không nhìn, chính khi ấy, tôi đang

Trang 7

diễn tả mình, với một loại « ngôn ngữ không lời » Sở dĩ tôi rútlui, thu mình trong vỏ ốc tự kỷ, phải chăng vì tôi đang cần mộtquan hệ an toàn.

Và loại quan hệ an toàn ấy đang còn vắng mặt, một cách trầm trọng, trong môi trường giáo dục ngày hôm nay Ai trong chúng ta có khả năng nhạy bén, để lắng nghe, ghi nhận và tôntrọng ý nghĩa của « câu chuyện không lời » ấy ?

- Chương Ba phản ảnh công trình nghiên cứu và tổng hợpcủa Daniel GOLEMAN Toàn bộ tác phẩm của tác giả nầy, nhằmtrả lời một cách rốt ráo cho vấn nạn : Trí Thông Minh Xã Hội là

gì ? Trong hiện tại, quan niệm về Trí Thông Minh Tổng quát, đang được dạy dỗ trong môi trường học đường, đã đẩy đưa toàn thể nhân loại khắp đó đây, từ đông qua tây, từ bắc xuốngnam, vào vòng sản xuất, tiêu thụ, làm ô nhiễm môi trường, chế tạo vũ khí và bốc lột con người Cho nên đã đến lúc, vấn

đề cần được đặt ra và khảo sát về Trí Thông Minh Xã Hội, nhằm lột trần và phơi bày một cách can đảm, trước mắt mọi người, hai câu hỏi cơ bản

Câu hỏi thứ nhất : Mục đích của con người sinh ra trong trờiđất, phải chăng là SỐNG HẠNH PHÚC ?

Câu hỏi thứ hai : Khi hai con người lại gần, trao đổi và tiếp xúc với nhau, phải chăng họ tìm cách tạo ra cho nhau mọi điềukiện thuận lợi, để giúp nhau thành người ? Trong thực tế của

xã hội ngày nay, con người khắp nơi, trên mặt địa cầu, có xu thế tranh chấp, tàn sát, hoại diệt lẫn nhau, trên mọi bình diện,thậm chí trong những cộng đoàn và cộng đồng mang tính cáchtôn giáo, với chí hướng phục vụ nhân loại Còn có chăng một loại người vẫn ngày ngày thắp sáng lý tưởng làm người và cố quyết sống tình người với nhau ?

- Trong Chương Bốn, một câu hỏi quan trọng được nêu lên : Trí Thông Minh Xã Hội có những cơ sở và tổ chức

thần kinh như thế nào ?

Các nhà khoa học về Thần Kinh Não Bộ đã khẳng định : Không có ba loại cấu trúc thần kinh đặc thù và chuyên môn, dành cho ba loại Trí Thông Minh khác nhau như Tổng Quát, Xúc Động và Quan Hệ Xã Hội Trái lại, khi hoạt động và phát triển, mỗi loại trí thông minh từ từ sáng tạo và củng cố những đường dây chuyên biệt cho mình Nhằm gửi tin đi, hay là nhận

Trang 8

tin đến, những đường dây thần kinh nầy nối kết lại với nhau các trung tâm đã có sẵn thuộc 3 giai tầng cấu trúc là : Thân Não, Hệ Viền và Tân Vỏ Não Một cách đặc biệt, Trí Thông Minh

Xã Hội hoạt động với hai đường dây chính yếu Đường thứ nhấtmang tên là Đai lộ phía trên (High Road), nối kết Thùy Trán vàcác Thùy khác thuộc Tân Vỏ Não với Cấu Trúc Hạnh Nhận thuộc Hệ Viền Đường thứ hai mang tên là Đại lộ phía dưới (Low Road), phát xuất từ Hạnh Nhân và có liên hệ với những

cơ quan thuộc Giai tầng Thân Não và Tiểu Não

Điều đáng chúng ta quan tâm một cách đặc biệt là càng hoạt động một cách tích cực, Trí Thông Minh Xã Hội càng củng

cố và tăng cường những đường dây thần kinh não bộ của mình, về mặt lượng cũng như về mặt phẩm

Thêm vào đó, bao lâu trí thông minh xã hội càng được chúng ta vận dụng và kích hoạt, ngược lại với những tin tưởng

và thành kiến trước đây, những tế bào thần kinh vẫn luôn luônđược tái sinh và đổi mới…

Ngoài ra, các điểm giao liên giữa các tế bào, còn mang tên chuyên môn là khớp xi-nắp, càng ngày càng nhân ra thêm nhiều, nếu có nhu cầu đổi mới hay là thay thế Nói một cách vắn gọn, càng vận dụng một cách tích cực Trí Thông Minh Xã Hội, để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống, chúng ta càng tái tạo và đổi mới Hệ Thần Kinh Não Bộ

Chương Năm sẽ bàn thêm về quan hệ tác động qua lại giữa Bẩm sinh và Môi trường, hay là giữa Gên và ảnh hưởng của giáo dục

Hẳn thực, nếu giả thuyết về « nguồn gốc hay là nguyên nhân của hội chứng tự kỷ là Gen hay là Bẩm Sinh » được

chứng minh, một cách khoa học và khách quan, chúng ta cũngchưa thể nào khẳng định rằng : Một trẻ em mang Gen tự kỷ,

sẽ suốt đời là người tự kỷ Trường hợp Gen không được kích hoạt, để có thể nẩy mầm đâm mộng, nhờ vào ảnh hưởng giáo dục có khả năng tạo ra cho trẻ em những quan hệ xã hội tích cực, xây dựng, an toàn và vui tươi, sung sướng, làm sao một trẻ em có thể trở nên người tự kỷ ?

Nếu trong vòng 3 năm đầu tiên, chương trình tự kỷ có sẵn trong tế bào thần kinh, không được môi trường kích động, khởiđộng, nghĩa là được chuyển biến thành hiện thực, chương trình

Trang 9

ấy sẽ bị vô hiệu hóa và tạn lụi vĩnh viễn Tin tức nầy mở ra trước mặt chúng ta một Đại Lộ thênh thang đầy lạc quan và hứa hẹn Nhưng đồng thời, tin tức khoa học ấy đang gây ý thức về một trách nhiệm lớn lao : Số phận và ngày mai của trẻ

tự kỷ nằm trọn trong lòng bàn tay và quyết định của chính chúng ta

Trong tinh thần phục vụ trẻ em tự kỷ, tiếp theo những nhậnxét vừa được trình bày, tôi sẽ đề nghị một số sinh hoạt như sau :

Mục tiêu cần nhắm tới, và ngày ngày chuyển biến thành hiện thực, bằng những động tác cụ thể, là tạo cho trẻ em những quan hệ hài hòa, có mặt, lắng nghe, tôn trọng, đồng cảm và vui tươi

Về mặt kỹ thuật, chúng ta sử dụng những hình ảnh của trẻ

em và những người thân như cha, mẹ, anh, chị em…, những cuốn phim ghi hình trực tiếp, khi trẻ em buồn, sợ, giận, vui sướng

Tất cả những phương tiện nầy, cọng với ngôn ngữ hồn nhiên và sống động của chúng ta, nhằm phản ảnh cho trẻ em thấy mình, nghe mình, nhìn vào khuôn mặt của mẹ và của cha, trên các tấm hình

Mục dích cuối cùng mà chúng ta luôn luôn nhắm tới, trong những sinh hoạt vui chơi và phản ảnh, như vừa được trình bày,

là kích thích những tế bào hình suốt (spindle cells), cũng như những tế bào phản ảnh (mirror neurons), có mặt trong các đường dây thần kinh sau đây :

- Đường dây nối kết Hạnh Nhân với Thùy OFC Frontal Cortex, Thùy Trán-Ô mắt),

(Orbito Đường dây nối kết Hạnh nhân với Thùy ACC (Anterior Cingulae Cortex, Thùy Đai Phía Trước)

Khi hai đại lộ thần kinh não bộ « phía trên nầy » hoạt động mạnh, trẻ em tự kỷ sẽ từ từ tiến lên khả năng thiết lập những quan hệ xây dựng và hài hòa với người khác, trong bất cứ môi trường xã hội nào

Trang 10

Chương Sáu mang tựa đề « Hai bộ mặt : Bóng Tối và Ánh Sáng… » Chương cuối cùng nầy đặc biệt dành cho những người có trách vụ giáo dục và phục vụ trẻ em có nguy cơ tự

kỷ Nhằm giúp đỡ một cách hữu hiệu con em và học sinh của mình, phải chăng cha mẹ và các giáo viên, hơn ai hết, cần hiểu

rõ mình là ai, đang mang những bộ mặt nào, khi thiết lập quan

hệ với trẻ em, cũng như khi phản ảnh những xúc động của các

em

Trong chương Sáu với tựa đề Hai Bộ Mặt « Bóng Tối và Ánh Sáng » trong mỗi quan hệ đối tác xã hội, tôi sẽ bàn đến ảnh hưởng của Xúc Động, trong đời sống của con người

Trong lời Nói Cuối, tôi sẽ nhắc lại ba nhiệm vụ giáo dục :

- Thiết lập những quan hệ đồng cảm với trẻ em,

- Giúp trẻ em diễn tả những xúc động,

- Phát huy tư duy cấu trúc, khi giải quyết vấn đề

Trong toàn bộ cuốn sách, khi bàn về vấn đề thiết lập và phát huy những quan hệ với trẻ em, phải chăng chúng ta cần lắng nghe lại những lời nhắn nhủ của Tổ Tiên và Cha Ông :

- Có công mài sắt ắt ngày thành kim

- Kiến tha lâu đầy tổ

- Nước chảy đá mòn.

- Mẹ già như chuối ba hương,

Như xôi nếp một, như đường mía lau

- Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Nhờ những bài học nầy làm điểm tựa, chắc chắn chúng ta tất cả có thể « dời núi, lấp sông », cho trẻ em, vì trẻ em và vớitrẻ em

Trang 11

Sách tham khảo trong Lời Mở Đường:

1) Daniel GOLEMAN – Social Intelligence - Hutchinson, London 2006

2) Judy & Sean BARRON – Moi, l’enfant autiste – Plon 1933

- There’s a boy in here – Simon&Schuster,N.Y

Hướng đến một lối nhìn khoa học và toàn diện

1.-Năm dấu hiệu cổ điển của Hội Chứng Tự Kỷ

Trong 2 cuốn sách, được xuất bản ở Việt Nam, vào những năm 2005 và 2006 (1), tôi đã nói đến 5 triệu chứng hay là dấuhiệu chính qui và cổ điển, cần được phát hiện và xác định, mộtcách cụ thể và khách quan, khi chúng ta cưu mang trong tâm tưởng, những « nghi vấn » về Hội chứng Tự Kỷ đang thành hình và xuất diện, nơi một trẻ em, trong khoảng thời gian từ 0 đến 7 tuổi

Trang 12

- Dấu hiệu thứ nhất là đời sống bít kín : Trẻ em không có những quan hệ tác động qua lại với những người khác, cùng cómặt trong môi trường sinh sống, thậm chí với bà mẹ đã sinh ramình,

- Dấu hiệu thứ hai nằm trong lãnh vực ngôn ngữ : Ngôn ngữ thiếu vắng hoàn toàn, từ những giai đoạn bi bô, bập bẹ, hay là có những rối lọan trong thể thức sử dụng các loại đại danh từ khác nhau như mày và tôi…

- Dấu hiệu thứ ba là những phản ứng « bùng nổ », trong lãnh vực xúc động, kèm theo những hành vi tự hủy, làm hại chính mình, hay là những tác phong bạo động đối với kẻ khác,

- Dấu hiệu thứ bốn là những hành vi « lặp đi lặp lại », mộtcách tự động, cơ hồ một chiếc máy ghi và phát âm,

- Dấu hiệu thứ năm là những sở thích kỳ dị, lạ thường, như nhún nhảy, quay tròn, đưa 5 ngón tay ve vẫy trước mắt, say mê nhìn ngắm những hạt bụi, những tia nắng xuyên qua một kẻ hở, hay là sắp xếp đồ chơi thành hàng…Thêm vào đó, vài trẻ em có những cơn động kinh nhẹ hay nặng, với những hiện tượng như sùi bọt mép, mất ý thức, tiểu tiện trong quần

và cắn răng vào luỡi

b) Bao lâu tất cả 5 dấu hiệu chưa được hội tụ một cách đầy

đủ, khách quan và chính xác, cũng như khi trẻ em còn ở trong lứa tuổi tăng trưởng và phát triển - từ 0 đến 7 năm - thái

độ « khoa học » của chúng ta là khiêm cung và dè dặt Chúng

ta không sử dụng một cách vội vàng nhãn hiệu « Hội Chứng Tự

Kỷ », bao lâu hệ thần kinh trung ương chưa hoàn tất tiến trình myêlin-hóa các đường dây liên lạc của mình Thay vào đó, lối nói « có nguy cơ Tự Kỷ » được đề nghị và cần được trở nên

Trang 13

thông dụng, trong những trao đổi thông tin giữa các bác sĩ và chuyên viên, cũng như giữa giáo viên và phụ huynh của học sinh.

c) Ngoài ra, đối với cha mẹ đến tham vấn, những nhận địnhcủa chúng ta về nguy cơ Tự Kỷ nơi đứa con của họ, có thể gây

ra nhiều ấn tượng hoang mang, khắc khoải, lo sợ và mặc cảm tội lỗi… nếu chúng ta không trình bày những tin tức khoa học đơn sơ và cụ thể, cũng như đề nghị thêm những lời hướng dẫn, hay là những cách làm thuộc khả năng và ở trong tầm hoạt động thường ngày của họ

d) Một cách đặc biệt, khi câu hỏi về Nguyên Nhân của Hội Chứng Tự Kỷ được nêu lên, chúng ta cần khẳng định, một cách

rõ ràng và dứt khoát là vấn đề đang ở trong vòng nghiên cứu khoa học Một trong những yếu tố càng ngày càng được đề xuất, trong lãnh vực y khoa, là những rối loạn, trắc trở, trong tiến trình tăng trưởng và phát triển của Hệ Thần Kinh Trung Ương, còn mang tên là Não Bộ Ngoài ra, một số tác giả đã nhấn mạnh giả thuyết về những quan hệ lạnh nhạt, vô cảm của cha mẹ Lối giải thích nầy, thường được nêu lên vào nhữngnăm 1950, đã gây tổn thương một cách trầm trọng cho bao nhiêu tầng lớp cha mẹ May thay, đường hướng tiếp cận vấn

đề như vậy, dần dần có xu thế mất hiệu năng và tàn lụi, trongcác công trình nghiên cứu ngày nay

Nhằm phát huy tinh thần và lối nhìn Khoa Học vừa được đề xuất, chương nầy sẽ lần lượt giới thiệu những tin tức bổ sung, đổi mới và có khả năng soi sáng, cho những ai luôn luôn ở trênđường tìm kiếm, học hỏi

3.-Những Rối loạn Tự Kỷ Cầu Vồng muôn Sắc (Spectrum Disorders)

Khi nói đến Hội Chứng Tự Kỷ, chúng ta cần lưu tâm đến nhiều đặc điểm quan trọng đang có mặt với nhau, cùng một lúc :

- Thứ nhất, Hội Chứng Tự Kỷ bao gồm nhiều triệu chứng khác nhau Trên đây, tôi đã liệt kê 5 triệu chứng, thường được nhắc lui nhắc tới, trong các tác phẩm chuyên môn

- Thứ hai, Tự Kỷ không phải là một Hội chứng đơn thuần

và duy nhất Thể theo tác phẩm DMS-4 (2), được giới Y Khoa

Trang 14

Hoa Kỳ chọn làm tài liệu qui chiếu, Tự Kỷ còn được gọi là « RốiLoạn Phát Triển Lan Tỏa » (Pervasive Developmental

Disorders, PDD) Hay là rối loạn nan quạt, rối loạn cầu vồng (spectrum disorders Nói cách khác, đó là một Rối loạn quần thể hay là hợp thể, bao gồm 5 thể loại khác nhau, tùy theo giaiđoạn xuất hiện, cũng như tùy vào mức độ trầm trọng khác nhau, được nhiều bác sĩ chuyên môn phát hiện, ở nhiều thời điểm khác nhau, nơi trẻ em từ 0 đến 8 tuổi

- Thứ ba, cũng trong tác phẩm DMS-4, năm triệu chứng

cổ điển, như tôi đã trình bày trên đây, được gom góp lại thành

3 triệu chứng đặc hiệu và chính qui :

 Triệu chứng thứ nhất nằm trong lãnh vực Quan Hệ Xã Hội,

 Triệu chứng thứ hai nằm trong lãnh vực Ngôn Ngữ Phải chăng ngôn ngữ của người tự kỷ là một phương tiện Thông Đạt, có mục đích và ý nghĩa là Diễn Tả Chính Mình và đồng thời lắng nghe, tìm hiểu quan điểm của kẻ khác ?

 Triệu chứng thứ ba nằm trong lãnh vực Hành vi và Sở Thích Xuyên qua những xu thế « lặp đi lặp lại, hay là sắp thành hàng dài những đồ chơi… », phải chăng trẻ em muốn bộc lộ nhu cầu sống trong những cơ cấu tổ chức xã hội đã được ổn định, khả dĩ tạo nên một cảm nghiệm an toàn, không

bị ai trừng phạt, đe dọa ?

- Thứ bốn, Hội Chứng Tự Kỷ, còn mang tên là Tự Kỷ CầuVồng (Spectrum autism), trong DMS-4, bao gồm 5 thể loại

« Rối Lọan Phát Triển » khác nhau :

 Rối loạn Tự Kỷ đặc hiệu và chính qui (Autistic Disorder),

 Rối loạn Asperger, còn được gọi là Tự Kỷ với trí thông minh trên trung bình (Asperger’s Disorder),

 Rối loạn Rett (Rett’s Disorder),

 Rối loạn thoái hóa thuộc thời thơ ấu (Childhood

Disentegrative Disorder, CDD),

 Rối loạn phát triển lan tỏa: Không đặc hiệu (Pervasive Developmental Disorder: Not otherwise Specified, PDD:NOS)

Trang 15

- Thứ năm, Hội chứng Tự Kỷ là một loại Rối Loạn Phát Triển, ở vào nhiều giai đoạn thuộc cùng một tiến trình lan tỏa,

từ lãnh vực sinh hoạt nầy sang qua những lãnh vực khác, trong đời sống của con người Do đó, khi mô tả các dấu hiệu cơbản, cũng như khi đề nghị những thể thức can thiệp nơi trẻ

em, chúng ta không thể không đề cập, một cách đồng đều, tất

cả 5 loại sinh hoạt cơ bản khác nhau, nhưng có ảnh hưởng tác động qua lại hai chiều trên nhau (3) :

 1) Loại sinh hoạt thứ nhất là: Nhận thức giác quan và Tâm Vận Động, còn gọi là Cửa Vào của Nội Tâm (Input),

 2) Loại sinh hoạt thứ hai là: Tư duy,

 3) Loại sinh hoạt thứ ba là : Xúc động,

 4) Loại sinh hoạt thứ bốn là : Ngôn ngữ trao đổi và giao tiếp,

 5) Loại sinh hoạt thư năm là : Quan hệ tác động qua lại trong đời sống xã hội, còn gọi là Cửa Ra (Output)

 Cả 3 sinh hoạt ở giữa – Tư duy, Xúc động và Ngôn ngữ - thuộc về Tiến trình biến chế, chuyển hóa (Processing) của Nội tâm Theo lối giải thích bình dân, Processing trong tiếng Anh

có nghĩa là “kho nấu”, chuyển biến những vật liệu góp nhặt từ môi trường bên ngoài, thành của ăn nuôi sống con người, trên bình diện Tư Duy hay là Tâm Linh

 Tôi đã định vị trí loại sinh hoạt « Quan Hệ tác động qua lại », ở Cửa Ra Tuy nhiên, ở tại Cửa Vào, Quan Hệ cũng phải

có mặt và đảm nhiệm một vai trò rất quan trọng, khả dĩ nâng cao phẩm chất của Nhận thức Giác Quan Nói khác đi, Quan Hệcũng là một loại kích thích có khả năng tăng cường hay là giảm

hạ giá trị của các loại kích thích khác Chẳng hạn, khi có

những cảm tình đặc biệt với một vị thầy, phải chăng tôi sẵn sàng thu hóa những bài dạy của vị ấy một cách dễ dàng và mau chóng hơn ?

Thay vi triển khai một lối nhìn bao quát và toàn diện như vậy, nhiều tác giả hay là giáo viên, chỉ tập trung khả năng chú

ý và thể thức tác động vào 1 hoặc 2 lãnh vực chủ yếu mà thôi,

ví dụ như quá đề cao lãnh vực ngôn ngữ và không đánh giá đúng tầm những lãnh vực khác như Xúc động và Giác quan

Trang 16

Vì lý do « siêu ý định và siêu chú ý » như vậy, khi tìm cách hóa giải một triệu chứng, chúng ta vô tình tạo ra điều kiện thuận lợi, cho một triệu chứng phó sản khác xuất hiện và khó khắc phục hơn Cho nên, ích lợi gì, khi trẻ em suốt ngày phải học lặp đi lặp lại một đôi từ hay là một đôi câu, một cách máy móc tự động, như keo vẹt, để rồi sau đó trở nên bị động và ù

lì hoàn toàn trong các tác phong hằng ngày, xuyên qua mọi quan hệ với người lớn thuộc môi trường gia đình ? Ích lợi gì, khi chúng ta tìm cách ức chế hoặc trừng phạt một hành vi kỳ

dị và lạ thường, nếu sau đó, trẻ em càng ngày càng cố thủ trong một nếp sống bít kín và cắt đứt mọi quan hệ xã hội với mọi người ?

Trong khuôn khổ của Chương MỘT nầy, nhằm bổ túc những

gì còn thiếu sót, trong 2 tác phẩm đã được xuất bản, tôi sẽ lần lượt trình bày những nét đặc trưng, thuộc mỗi Hội Chứng của

« Tự Kỷ Cầu Vồng » Những chương kế tiếp sẽ từ từ bàn đến những điều kiện thiết yếu, khi chúng ta xây dựng những kế hoạch tác động, trong những chương trình can thiệp, giáo dục Một cách đặc biệt, tôi sẽ chú trọng vào hai lãnh vực xúc động và quan hệ xã hội, nhất là khi trẻ em còn ở trong giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi

4.- Rối loạn Tự Kỷ Chính Qui và Đặc Hiệu (Autistic Disorder)

Danh xưng « Tự Kỷ » (Autism) đã được Bác Sĩ Eugen

BLEULER, người Thụy Sĩ (1857-1939) sử dụng lần đầu tiên, để

mô tả triệu chứng nỗi bật nhất của chứng bệnh Tâm Thần Phân Liệt, nơi người lớn (Schizophrenia)

Vào năm 1943, Bác Sĩ Leo KANNER, người Mỹ gốc Áo, đã mượn lại danh xưng nầy, để mô tả Hội Chứng Tự Kỷ, được quan sát và phát hiện nơi 11 trẻ em, giữa 2 đến 8 tuổi, trong suốt thời gian từ 1938 đến 1943 (4) Trong những năm kế tiếp, nhiều bác sĩ khác đã phát hiện nhiều hội chứng mới, có liên hệ ít nhiều với Hội Chứng Tự Kỷ nơi trẻ em, do Leo Kanner

Trang 17

Những dấu hiệu khác còn lại, ngoại trừ 3 Triệu Chứng Đặc Hiệu và Chính Qui, chỉ tạo nên những nét khác biệt giữa 5 Hội Chứng với nhau Nhằm xác định những yếu tố phụ thuộc nầy, chúng ta cần khảo sát và khám phá thời điểm xuất hiện, mức

độ trầm trọng, cũng như vai trò nhận thức bị hạn chế và quá thu hẹp của các giác quan khác nhau, có mặt trong các Rối Loạn nầy

Triệu Chứng thứ nhất : Những rối loạn trong quan hệ tương tác giữa trẻ em và các thành viên khác thuộc môi trường gia đình và xã hội, gồm có những người lớn và các trẻ em cùng lứatuổi

 Các em thu hẹp hay là đóng kín mình, trong vũ trụ hoàn toàn riêng tư của mình,

 Các em không tìm cách tạo quan hệ gắn bó, hay là tác động qua lại hai chiều, với người lớn chung quanh, hoặc với trẻ

em khác cùng lứa tuổi Thậm chí với người mẹ sinh ra mình, hoặc với anh chị em sinh đôi, các em cũng không tham gia hoặc khởi động các trò chơi đơn giản như : « cúc cù, trốn tìm »…

 Người khác không được nhìn nhận và đón nhận như mộtchủ thể giống như mình, có khả năng chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, cùng bao nhiêu kinh nghiệm và cảm nghiệm, trong đời sống thường ngày Trái lại, họ chỉ được đối xử như là một dụng

cụ hoặc phương tiện, được các em dùng, để thâu đạt một mục đích Ví dụ trẻ em chỉ cầm tay mẹ, dẫn mẹ đi lấy nước uống cho mình, thay vì dùng lời nói hay cử chỉ, để diễn tả nhu cầu

và nguyện vọng Sự kiện nầy có thể được chấp nhận một phầnnào, khi trẻ em không biết nói Trong thực tế, với những trẻ

em có khả năng nói, phát âm và đọc chữ…ngôn ngữ vẫn khôngphải là một dụng cụ để tạo quan hệ trao đổi qua lại, diễn tả ý định của mình và tìm hiểu nhu cầu của người đối diện

 Một cách vắn gọn, tôi xin liệt kê một số dấu hiệu quan trọng khác như : - không có lối nhìn trực diện mắt nhìn mắt,

- không phân biệt người lạ và quen, mặc dù tuổi đời đã vượt quá một năm,

- chung quanh 3-4 tháng, không biết mỉm cười vớingười thân, như bà mẹ của mình,

Trang 18

- không tìm cách bắt chước bạn bè, để làm như, làm cho, làm với…

Chính vì những lý do vừa được liệt kê, bốn động tác « Xin, Cho, Nhận và Từ chối », một cách thanh thản, hài hòa, trong lãnh vực quan hệ giữa người với người, là bốn bài học rất cơ bản, nhưng rất khó học và khó làm, đối với tất cả mọi người, không trừ sót một ai Cho nên 4 bài học nầy phải bắt đầu đượcdạy, với mỗi trẻ em, Tự Kỷ hay Không Tự Kỷ, từ khi vừa lọt lòng mẹ

Triệu chứng thứ hai : Những rối loạn trong lãnh vực diễn tả

và thông đạt sở thích, ý định và nhu cầu của mình

 Mặc dù có khả năng phát âm, lặp lại các từ, đọc nhiều chữ hoặc nhiều câu, trẻ em không biết trao đổi, chuyện trò qua lại với một người thứ hai,

 Khi phát biểu, trẻ em thường hay lẫn lộn hai đại danh từ ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai, tôi và mầy…

 Lặp lại như một chiếc máy phát âm, thậm chí những câu khá dài Trẻ em hoặc lặp lại tức khắc, sau khi ghi nhận, hay là sau một thời gian cách khoảng,

 Không có khả năng hình dung hoặc giả bộ, như trong cáctrò chơi nấu ăn và mời nhau ăn…

 Không dùng những cử điệu « hình tượng », như vẫy tay chào tạm biệt, lúc ra đi,

 Không dùng ngôn ngữ có lời, hay là không lời như cử điệu, nét mặt… để diển tả, thông đạt, trao đổi với người khác

về ý định của mình, hay là tìm hiểu nhu cầu của kẻ khác

 Không nhìn theo hướng ngón tay, khi mẹ đưa tay chỉ một vật dụng Trẻ em cũng không biết đứng từ xa đưa tay chỉ một đồ chơi mong muốn

 Nói cách chung, ngôn ngữ, mặc dù có mặt, không phải làmột dụng cụ, một phương tiện nhằm tạo ra nhịp cầu trao đổi, nối kết và đồng cảm với kẻ khác

Trang 19

Triệu chứng thứ ba : Những rối loạn trong thể thức tiếp cận các sự vật và các sự cố, có mặt trong cuộc sống thường ngày.

Nhằm minh họa triệu chứng nầy, tôi bắt đầu nêu lên những

sự kiện cụ thể và khách quan, được diễn đi diễn lại, trong cuộcsống thường ngày của trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ :

 Thay vì tiếp cận từng đồ chơi, theo chức năng tự nhiên của mình, ví dụ như ngòi bút chì dùng để vẽ, trái banh dùng

để ném ra xa hay là đưa chân đẩy mạnh tới đằng trước…trẻ emchỉ xếp thành hàng với nhau, kề sát nhau, những đồ chơi của mình Trẻ em có thể làm như vậy, một cách say mê suốt ngày.Thoảng hoạt, trẻ em dừng lại, đi quanh đó đây hay là làm một động tác khác… Nhưng sau đó, trẻ em lại trở lui với « công trình sắp xếp thành hàng » những đồ vật và đồ chơi của mình Trẻ em sẽ bùng nổ, la hét, tức giận, bực bội, khi có người cất lấy đi, dời chỗ, hay là thay đổi thứ tự

 Trẻ em cũng khư khư bám sát, bám chặt vào những chương trình, thứ tự, nghi thức, cách tổ chức, trong các sinh hoạt hằng ngày Những chương trình và thứ tự nầy… hoặc là

đã có sẵn trong cuộc sống, hoặc là do chính trẻ em áp đặt và

ấn định một cách đơn phương Một vài thay đổi nho nhỏ khôngđược báo trước hay là không được chuẩn bị, trong các nề nếp

và qui luật bất di bất dịch ấy, sẽ tạo nên nơi trẻ em, những cơn khủng hoảng trầm trọng, những cuộc bùng nổ rộn ràng, những phản ứng chống đối gay gắt

 Hình dung một cảnh tượng sắp xãy ra hoặc đang có mặt

ở một nơi khác, thao tác những trò chơi giả bộ, hay là tìm hiểu

ý nghĩa trừu tượng và hình tượng của một bức tranh, một câu chuyện, cũng như nhìn vào nét mặt để khám phá ý định và tâm tình của một người khác… tất cả những sinh hoạt ấy hoàntoàn vượt ra ngoài khả năng tiếp thu và hiểu biết của một trẻ

em có nguy cơ Tự Kỷ

Tất cả ba loại sự kiện ấy cho chúng ta thấy rõ : Trẻ em có Hội Chứng Tự Kỷ, có xu thế hạn chế và khoanh vùng cuộc sốngcủa mình, vào những thứ tự ổn định Trái lại, những sự cố sắp xãy ra trong tương lai gần và xa, đối với các em, là những gì không hiện hữu, là số không

Cho nên, đặt mình vào vị trí của kẻ khác, đồng cảm với họ, tìm hiểu ý định và nhu cầu của họ, là những khả năng mà các

Trang 20

em khó tiếp thu và hội nhập Sở dĩ như vậy, vì các em từ

những giây phút đầu tiên của cuộc đời, đã gặp những trắc trở tày đình: không THẤY như kẻ khác thấy, không NGHE như kẻ khác nghe, không CẢM XÚC và TIẾP CẬN với LÀN DA, như kẻ khác, với kẻ khác và nhờ kẻ khác

Nói cách khác một cách đơn sơ và vắn gọn, nếu trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ không học sử dụng CỬA VÀO làm bằng mắt, tai

và làn da, làm sao các em có thể mở đường đi vào Nội Tâm, đểphát huy Nội Tâm ?

Trong lăng kính ấy, Can Thiệp Sớm, như sau này tôi sẽ nhấn mạnh, là can thiệp ở Cửa Vào, từ những ngày đầu tiên của cuộc đời Phải chăng đó là bài học mà thú vật đang đề nghịcho loài người : Chẳng hạn con mèo mẹ, tức khắc sau khi sinh con, đã liếm da của con, liếm mắt của con, liếm tai của con…Nhờ đó, con mèo con từ từ có khả năng thấy, nghe và cảm xúc, giống như con mèo mẹ (4)

5.- Hội Chứng hay là Rối Loạn ASPERGER (Asperger’s

 Gần như mọi trẻ em mang Hội Chứng Asperger đều biết nói Sống giữa các trẻ em khác, các em loại nầy cũng học nói

 Hội Chứng Tự Kỷ đặc hiệu được phát hiện rất sớm, khi trẻ em lên 2-3 tuổi hay là sớm hơn Ngày nay, các nhà chuyên môn về loại trẻ em nầy, đã có khả năng phát hiện một vài dấu hiệu báo động, vào những tuần lễ đầu tiên, sau ngày sinh Tráilại với những trẻ em mang Hội Chứng Asperger, công việc pháthiện chỉ có thể bắt đầu, sau khi trẻ em lên 2 tuổi Trong rất nhiều trường hợp, kết quả chỉ được xác định một cách dứt điểm và rõ ràng, giữa 7 và 8 tuổi

 Một số lớn trẻ em mang Hội Chứng Tự Kỷ đặc hiệu cũng thuộc diện trẻ em chậm phát triển trí tuệ Thương số Trí tuệ -

Trang 21

Intellectual quotient, viết tắt là IQ - thường ở dưới 50-60 Tráilại, với trẻ em mang Hội Chứng Asperger, trí thông minh thuộcloại trung bình và trên trung bình IQ của một vài trẻ em vượt chỉ số 120-130

Nhằm giúp độc giả có một ý niệm về IQ, tôi xin nêu ra phương trình :

Tuổi thực sự (bằng tháng)

- IQ = - x (nhân) 100

Tuổi Thông Minh

- Tuổi Thông Minh được đo lường bằng những bản lượng giáhay là những trắc nghiệm Tâm lý

- Tuổi Thực sự = Ngày làm trắc nghiệm – (trừ) ngày sinh ra(tính bằng tháng)

- Những loại phát triển trí tuệ :

IQ dưới 25 : loại chậm nặng,

IQ từ 25 đến 50 : loại chậm vừa,

IQ từ 50 đến 70 : loại chậm nhẹ,

IQ từ 70 đến 100 : loại trung bình,

IQ từ 100 đến 125: loại trên trung bình,

IQ trên 125: loại xuất sắc

 Với Rối Loạn Asperger, trẻ em vẫn có ngôn ngữ và có khả năng trao đổi, tiếp xúc Tuy nhiên lý luận của các trẻ em thuộc loại nầy có những hình thức rườm rà, vòng vo và khó hiểu Trẻ em có thể dùng ngôn ngữ, để trao đổi với người khác, xuyên qua những hình thức đơn sơ, vắn gọn Trái lại, trẻ

em không có khả năng chủ động và điều động một cách thích

Trang 22

hợp, những quan hệ tác động qua lại, với nhiều công đoạn tiếntới và đòi hỏi nhiều lý luận sáng tạo…

 Xét về số lượng, trong 4 trẻ em mang Hội Chứng

Asperger, trung bình có 3 trai và 1 gái

6.- Rối Lọan RETT

Vào năm 1960, một bác sĩ, người Áo, có tên là Andreas RETT, và ít lâu sau đó, một bác sĩ người Thụy điển có tên là Bengt HAGBERG, đã phát hiện, nơi những trẻ em thuộc phái

nữ mà thôi, những triệu chứng như sau :

 Thiếu phối hợp và hòa nhịp, trong những vận động và cửđộng, tay chân co quắp, cong quẹo, cho nên trẻ em khi đi đứng, di chuyển, dễ té ngã, vấp váp, mất quân bình

 Trí thông minh hạn hẹp,

 Ngôn ngữ nghèo nàn và thoái hóa dần dần,

 Từ 0 đến 6 tháng đầu tiên, trẻ em phát triển bình

thường Sau đó, một vài triệu chứng tư từ xuất hiện, trong vấn

đề phối hợp tay chân

 Lên tới lứa tuổi 48 tháng, những rối loạn của Hệ Thần Kinh Trung Ương trở nên rõ ràng và càng ngày càng trầm trọng

Trong cách xác định và phát hiện, vì sự có mặt của ba triệu chứng cơ bản có liên hệ đến những vấn đề quan hệ xã hội, ngôn ngữ thông đạt và hành vi, Rối Loạn RETT được xếp lọai vào trong Hội Chứng Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa

7.- Rối Loạn Thoái Hóa thuộc thời thơ ấu (CDD)

 Xét về mặt thời gian, Hội Chứng CDD xuất hiện chậm hơn, so với hai Hội Chứng Tự Kỷ Đặc Hiệu và RETT

 Khác với Rối Loạn RETT, Hội Chứng CDD xuất hiện nơi trẻ em thuộc cả 2 phái nam và nữ, sau 8-9 tuổi

 Hội Chứng nầy xuất hiện với tỷ lệ rất nhỏ: 1 trên tổng số

100 000 (một trăm ngàn) trẻ em

Trang 23

 Trẻ em, sau khi mắc hội chứng nầy, có cả 3 triệu chứng, giống như trong Hội Chứng PDD đặc hiệu.

 Trước khi mắc hội chứng nầy, trẻ em đã phát triển một cách hoàn toàn bình thường, thậm chí trong lãnh vực vận động Trái lại trong Hội Chứng RETT, các trẻ em đã có những rối loạn nho nhỏ trên bình diện phối hợp tay chân và các giác quan với nhau, khi vận động và di chuyển Chính yếu tố quan trọng nầy, cùng với phái tính, xác định sự khác biệt giữa RETT

và CDD

 Với 2 Hội Chứng RETT và CDD, vì nguyên nhân là những hiện tượng thoái hóa của Não Bộ, trong những điều kiện hiện tại của y khoa, chưa có một trường hợp nào được phục hồi, saukhi các hội chứng đã xuất hiện và được phát hiện

8.- Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa: Không Đặc Hiệu (PDD: NOS)

Trên đây, khi bàn đến Hội Chứng Tự Kỷ hay là Rối Lọan Phát Triển Lan Tỏa (PDD), tôi đã nhấn mạnh lui tới:

 Khi tất cả triệu chứng chính qui chưa được hội tụ, một cách đầy đủ, chính xác và khách quan,

 Khi trẻ em chưa lên 7 tuổi,

 Cũng như khi chúng ta đang còn áp dụng Chương Trình Can Thiệp Sớm, vừa khi trẻ em có một thoáng dấu hiệu báo động, chung quanh lứa tuổi 1 năm,

 Khi dấu hiệu báo động có thể chỉ là hành vi hơi lăng xăng, ngôn ngữ chậm trể, thiếu chú ý, tính tình nhút nhát…Lúc bấy giờ chúng ta chỉ dùng lối nói “Nguy Cơ Tự Kỷ”

Thay vào danh xưng ấy, DMS-4 đã dùng nhãn hiệu PDD: NOS có nghĩa là Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa: Không Đặc Hiệu.Cụm từ “Không Đặc Hiệu”, ở đây có nghĩa là CHƯA và KHÔNG trầm trọng, vì không rõ ràng và chính xác Tuy nhiên, trong lốinhìn của tôi, không phải vì chưa trầm trọng mà chúng ta

không cần can thiệp lập tức và một cách đứng đắn, thích hợp Hẳn thực, một que diêm nho nhỏ, nếu không được dập tắt, có

Trang 24

thể gây ra một đám cháy lan tràn, cho cả một khu rừng lớn lao.

Tự Kỷ là gì, nếu Hội Chứng nầy không phải là vấn đề của một trẻ em, trong những điều kiện hiện thời thuộc hệ thần kinh và sinh lý hóa (biochemistry), ĐANG thiếu khả năng tạo quan hệ tiếp xúc và giao tiếp, với những người chung quanh, bắt đầu từ mẹ, cha và anh chị em trong gia đình?

Thế nhưng, để học và dạy bài học tạo quan hệ có chất lượng xây dựng và đóng góp, một cách năng động, với những người đang chung sống, chính chúng ta đang có những hành trang thiết yếu nào, trong cuộc sống làm người?

Trong xã hội và thế giới văn minh, thuộc thời đại Nghìn Năm Thứ Ba, con người giải quyết thế nào những vấn đề xung đột đang xãy ra đó đây ?

Hiện tại người Mỹ đang lên kế hoạch xây cất một bức vạn lýtrường thành, giữa hai nước Mexique và Hoa Kỳ, dài 2 200 cây

số và tốn kém ước chừng 1 tỷ 200 triệu đô la

Một bức vạn lý trường thành khác đang có mặt, tại biên giớigiữa Israel và Palestine, từ bao nhiêu năm nay

Khi con người khắp đó đây, đang xây lên những bức vạn lý trường thành giữa mình với người khác…làm sao một trẻ em

Tự Kỷ có khả năng và điều kiện thuận lợi, để bắc lại những nhịp cầu bị gãy đổ, trong cuộc đời làm người của mình?

Tôi thắp lên một nén hương, khấn vái những vị Bồ Tát hãy can trường xuất hiện, đi ra cùng với tôi, nối lại những con

Trang 25

đường đang bị đứt đoạn, trong cõi lòng người và trong cõi lòngcủa Quê Hương.

- Diagnostic Criteria for 299.00 Autistic Disorder,

- Diagnostic Criteria for 299.80 Rett’s Disorder,

- Diagnostic Criteria for 299.10 Childhood Disintegrative Disorder,

- Diagnostic Criteria for 299.80 Asperger’s Disorder,

- Diagnostic Criteria for 299.80 Pervasive Developmental Disorder: Not Otherwise Specified (Including Atypical Autism)

POWERS M.D – Children with Autism – Woodbine House,

Sách Tham Khảo trong Chương Một:

5) BELHASSEN M – L’Enfant Autiste – Audibert, Paris 2006

Trang 26

6) DONVILLE B – Vaincre L’Autisme – Odile Jacob, Paris 2006.

7) MORAR T – Ma Victoire sur l’Autisme – Odile Jacob, Paris

2004

Chương HAI :

Những sinh hoạt chính yếu của con người

Chương Hai nầy sẽ lần lượt khảo sát những sinh hoạt «làmngười», trong năm lãnh vực chính yếu sau đây:

Vấn đề trở nên phức tạp và phiền toái hơn nữa, khi mỗingười dựa vào những kinh nghiệm quá khứ hay là những dựphóng tương lai, để trình bày về những thực tế có liên hệ gầnhoặc xa với mình Ví dụ: Thực tế của Đất Nước Việt Nam, là gìmột cách thực sự và khách quan, một đàng đối với một người

ở lại trong Nước Đàng khác, cũng một thực tế ấy là gì, đối với

Trang 27

một người đã ra đi và đang sống ở Nước Ngoài? Nếu hai người

có hai chính kiến hay là ở vào hai thế hệ, hoặc lớp tuổi khácnhau, sự cách biệt giữa hai loại thực tế của hai người ấy càngtrở nên lớn lao hơn, có khi còn khai trừ và loại thải lẫn nhau

Sau cùng, chúng ta dùng ngôn ngữ, để diễn tả thực tế đượccưu mang trong nội tâm của mình Khi bộc lộ nội tâm nhưvậy, chúng ta không thể không sử dụng ba cơ chế hay là xuthế cần thiết và tất yếu, có mặt trong mọi ngôn ngữ, như:tổng quát hóa, gạn lọc và chủ quan hóa:

Tổng quát hóa có nghĩa là khởi phát từ hai hoặc ba nhận xét

cụ thể, chúng ta nhảy vọt lên và đề xuất một kết luận có tínhqui luật và thường hằng: Thực tế luôn luôn là như vậy, và phảitiếp tục như vậy, trong mọi trường hợp, đối với mọi người

Gạn lọc là xu thế chỉ chọn lựa những sự kiện cụ thể, thíchhợp với hoàn cảnh và kinh nghiệm của bản thân tôi, và từ đótôi cố tình loại trừ và kết án những gì đi ngược lại với những tintưởng hoặc định kiến đã có mặt trong nội tâm của tôi

Chủ quan hóa là xu thế gán ghép hoặc áp đặt cho kẻ khácmột ý nghĩa do tôi khám phá và đề xuất Thực tế đối với tôi lànhư vậy, cho nên mọi người phải chấp nhận thực tế ấy, như làmột hiển nhiên, không cần khảo sát thêm và kiểm chứng mộtcách dài dòng, phức tạp

Khi ý thức một cách sáng suốt, đến ba cơ chế tâm lý nầy,luôn luôn có mặt trong ngôn ngữ và tác phong trao đổi hằngngày, chúng ta sẽ cố quyết học tập hai thái độ, nhằm thăngtiến bản thân và tôn trọng tính người của mọi anh chị em đang

có quan hệ với chúng ta

- Thái độ thứ nhất là LẮNG NGHE chính mình, để đề phòngbao nhiêu cạm bẫy, do chúng ta tạo nên, khi phê phán, đánhgiá, tố cáo và kết án kẻ khác Tổ tiên và cha ông chúng ta đã

đề nghị «hãy đánh lưỡi bảy lần trước khi nói», có nghĩa là

«hãy thức tỉnh», không mê muội, trầm mình trong những địnhkiến hoàn toàn vô thức Nói cách khác, khi đi, tôi biết tôi đang

đi Khi nói, tôi biết tôi đang nói…

- Thái độ thứ hai là Lắng Nghe và Tôn Trọng kẻ khác, tạomọi điều kiện thuận lợi và tốt hảo, nhằm giúp họ diễn tả vàtrình bày thực tế, do chính họ ghi nhận Khi chúng ta lắng

Trang 28

nghe như vậy, chúng ta đã cho phép người ấy «trở thànhngười».

***

2.- Tư Duy

Sau khi ghi nhận thực tế với năm giác quan, chúng ta sửdụng TƯ DUY, để tổ chức, khẳng định và trình bày LỐI NHÌNcủa mình Lối nhìn, tùy theo cách dùng ngôn ngữ của mỗi tácgiả, còn mang những tên gọi khác nhau như: ý kiến, quanđiểm, lập trường hay là vũ trụ quan

Nhằm phát huy và thao tác con đường tư duy một cáchsáng suốt, có hệ thống và khoa học, chúng ta cần từ từ đi lêntừng bước, theo năm cấp thang suy luận sau đây:

- Cấp thứ nhất là thâu lượm, khảo sát và kiểm chứng các dữkiện cụ thể và khách quan có liên hệ đến một vấn đề màchúng ta muốn giải quyết

- Cấp thứ hai là đề xuất một hay nhiều giả thuyết, nhằmkhám phá ý nghĩa của thực tế hay là vấn đề mà chúng ta đangnhận diện và đối diện

- Cấp thứ ba là chọn lựa một hướng đi, hay là mục đích tốihậu Từ đó, chúng ta xác định đâu là ưu tiên số một - hay làmục tiêu quan trọng nhất - trong bao nhiêu dự phóng củachúng ta

- Cấp thứ tư là chuyển biến mục đích tối hậu thành nhữnghiện thực hay là những tác động cụ thể hằng ngày

- Cấp thứ năm là đánh giá kết quả cuối cùng, sau một thờigian thực hiện, bằng cách trở về đối chiếu với thực tế lúc banđầu, để xác định đâu là thành quả khả quan và đâu là nhữngtồn tại chưa được khắc phục Nói cách khác, chúng ta thất bại,

vì những cản trở nào? Hay là chúng ta đã thành tựu, nhờ vàonhững năng động nào? Dựa vào cách đánh giá ấy, chúng ta sẽthêm, bớt hay là chuyển hướng thế nào, trong bao nhiêu dự ánsắp tới?

Trang 29

Trong cách dùng từ, để tránh những ngộ nhận đáng tiếc cóthể xảy ra, chúng ta cần phân biệt hai động tác có ý nghĩa vàphần vụ hoàn toàn khác nhau:

Một bên là nhận định, đánh giá tác phong hay là hành vicủa chúng ta và của người khác

Bên kia là phê phán, xét đoán giá trị của con người, với mộtđoàn tùy tùng dài thòng lòng như tố cáo, loại trừ, chửi bới vàtấn công

Trong cuộc sống làm người, chúng ta không thể không nhậnđịnh và đánh giá công việc cũng như hành vi của mình và củangười khác

Một cách đặc biệt, khi có nhiệm vụ giáo dục và hướng dẫn

ai, phải chăng công việc quan trọng bậc nhất của chúng ta làgiúp cho người ấy càng ngày càng phát huy khả năng đánh giátất cả những gì xảy ra trong cuộc đời, bắt đầu từ những gì họnói và làm?

Đánh giá như vậy có nghĩa là xác định và phân biệt, theonhững tiêu chuẩn đang được thịnh hành trong môi trường xãhội, văn hóa và giáo dục: cái gì đúng và cái gì sai, cái gì thíchhợp và cái gì không thích hợp với đời sống và quan hệ xã hội…

Tuy nhiên, khi làm công việc ấy, chúng ta cần ý thức mộtcách rõ ràng và sáng suốt: trong mọi hoàn cảnh, đánh giácông việc hay là tác phong của một người không phải là phêphán giá trị và bản sắc làm người của người ấy

Cho nên, trên con đường đi tới của tư duy, một đàng với sứđiệp «TÔI», chúng ta khẳng định quan điểm và xác tín củamình Đàng khác, chúng ta lắng nghe và tôn trọng người khác,cho phép họ diễn tả và trình bày ý kiến của mình, mặc dù đó

là một trẻ em, đang ở vào lứa tuổi «học làm người» Trái lại,khi «nói THAY nói THẾ», hay là «cố tình áp đặt từ trên và từngoài» cho kẻ khác, một lối nhìn, một cách đơn phương và độctài, chúng ta chưa thực sự làm người Đồng thời, chúng tađang làm tổn thương giá trị làm người, hay là xói mòn lòng tựtin và khả năng học tập của người ấy

Trang 30

***

3.- Xúc Động

Tư duy, như vừa được nói tới, có phần vụ sáng soi và điềuhướng chúng ta, trong mọi chương trình và kế hoạch hànhđộng XÚC ĐỘNG, trái lại, là động cơ thúc đẩy chúng ta thựchiện và hoàn thành công việc, nhằm thỏa mãn mọi nhu cầuchính đáng và cơ bản trong cuộc sống làm người Chính vì lý

do đó, khi các nhu cầu làm người được đáp ứng và toạinguyện, chúng ta vui sướng, hạnh phúc và an bình Trongtrường hợp ngược lại, những xúc động như sợ hãi, lo buồn vàtức giận sẽ xuất hiện trong nội tâm, như một tiếng còi báođộng nhằm đánh thức và thúc giục chúng ta «hãy diễn tả, chia

sẻ và chuyển hóa tình huống hiện tại» Không được hóa giảinhư vậy, xúc động sẽ tràn ngập và khống chế tư duy, như mộtdòng thác lũ phá vỡ bờ đê và làm băng hoại mọi mùa màngtrong những cánh đồng hai bên

Thêm vào đó, ở bên dưới mỗi xúc động đang làm cho nộitâm và nhất là các sinh hoạt bình thường của tư duy bị tê liệt,chúng ta hãy lắng nghe và khám phá một hay nhiều NHU CẦUcủa cuộc sống làm người Hãy lắng nghe và nhìn nhận, mộtcách chân thành và cẩn trọng, những nhu cầu cơ bản ấy Phảichăng đó là cách hóa giải hữu hiệu và cũng là con đường làmngười cần được mỗi người học tập, tôi luyện trong suốt cuộcđời

Nếu chúng ta không đáp ứng, với những phương thức vừađược trình bày, xúc động sẽ trở thành BẠO ĐỘNG trong ngônngữ và hành vi Ở cuối chặng đường thoái hóa, xúc động sẽ trởthành hận thù và chiến tranh Và con người lúc bấy giờ, sẽbiến thân thành muông thú đối với nhau, trong mọi quan hệqua lại hai chiều, như “Tao hơn – mày thua, Tao tốt – màyxấu, Tao có lý – mày phi lý…” Tắt một lời, “Mors tua, vitamea”, có nghĩa là “Mày phải chết, để cho tao sống, chúng takhông thể đội trời chung”

Trong khuôn khổ của bài chia sẻ nầy, tôi chỉ đề cập đến baxúc động chính yếu sau đây mà thôi:

- Thứ nhất là TỨC GIẬN Xúc động nầy có phần vụ nhấnmạnh rằng: «Tôi đang cần TỰ DO và tôi cần khẳng quyết

Trang 31

quyền KHÁC BIỆT, đối với những người đang chung sống haibên cạnh.

- Thứ hai là BUỒN PHIỀN Sứ điệp của xúc động nầy là:

«Tôi đang cần tạo lập những QUAN HỆ hài hòa và mới mẻ, vớicon người và sự vật đang bao quanh tôi»

- Thứ ba là LO SỢ Xúc động nầy đang dùng ngôn ngữkhông lời, để nhắn nhủ cho chính chúng ta rằng: «Tôi đangcần được sống trong bầu khí AN TOÀN Xin đừng có ai đe dọa,

tố cáo và kết án tôi»

Khi cả ba nhu cầu cơ bản ấy được lắng nghe, trân trọng,đáp ứng và toại nguyện, ai ai trong chúng ta cũng sẽ tựnguyện thi thố tài năng của mình một cách tối đa và tốt hảo,trên con đường làm người Đồng thời, một cách hăng say vànhiệt tình, chúng ta sẽ vận dụng mọi cơ may, để đóng góp vàxây dựng cho kẻ khác, để họ cũng có những điều kiện làmngười như chúng ta, với chúng ta và nhờ chúng ta

***

4.- Quan Hệ Xã Hội

Sinh hoạt thứ bốn, trên tiến trình làm người của chúng ta,

là kết dệt những quan hệ ĐỒNG CẢM và ĐỒNG HÀNH, với anhchị em đồng bào và đồng loại Theo lối nhìn của tác giảStephen COVEY, đây là loại quan hệ «Người Thắng-Tôi Thắng-Chúng ta cùng Thắng» Không có kẻ hơn, người thua Không

có người tự tấn phong là hạng «siêu nhân», và những thànhviên còn lại được cư xử và đãi ngộ như là «công cụ», «đồ vật»,

«bệ gác chân», hay là «một loại người phó sản»

Trong hiện tình thoái hóa của đời sống làm người, vì những

lý do thực tiển, quan hệ XIN CHO đã bị đầu độc và ô nhiễmtrầm trọng Xin có nghĩa là quị lụy, sụp lạy trước một « phúông » Cho có nghĩa là ban phát một cách nhỏ giọt, từ trên và

từ ngoài, một cách tùy nghi và tùy tiện

Trong khi đó, quan hệ bình thường và lành mạnh giữa người

và người, nhất là trong địa hạt Tình Yêu dâng hiến, bao gồmbốn động tác cơ bản: XIN và CHO, NHẬN và TỪ CHỐI

Trang 32

Hẳn thực, chính lúc tôi cho, tôi đang nhận lại bao nhiêuhồng ân, bằng cách nầy hoặc cách khác Khi xin ai một điều gì,tôi đang nhìn nhận tính chủ thể của người ấy Cho nên, tôikhông có thái độ cướp giật, ép buộc, đòi hỏi, đấu tranh, giốngnhư hùm beo muông sói.

Cũng trong tinh thần và lăng kính ấy, khi ai xin tôi một điều

gì, tôi cần khảo sát điều kiện thực tế của mình, để có thể chọnlựa một trong hai con đường: Một là CHO một cách bình tâm

và thanh thản Hai là từ chối, trả lời «KHÔNG», một cách nhãnhặn và khiêm tốn Xin như vậy không phải là nài nỉ, ép buộcngười kia phải cho Và khi cho trong tinh thần ấy, tôi khôngphải là người ở trên, ban phát xuống một cái gì dư thừa, vô ích

và vô dụng Trong cách cho như vậy, tôi không cưu mang mộthậu ý là «thả tép câu tôm» Hẳn thực, khi cho bất kỳ một điều

gì, một cách thực sự và trọn vẹn, tôi CHO chính CON NGƯỜIcủa tôi Tôi CHO cả MỘT TẤM LÒNG làm người, khả dĩ kêu mờingười khác cũng làm người với tôi va giống như tôi

Chính vì bao nhiêu lý do vừa được đề xuất như vậy, trongmọi quan hệ bao gồm tình yêu, tình bạn, tình anh chị em đồngbào, đồng loại…tôi dùng sứ điệp «NGÔI THỨ NHẤT, TÔI», đểdiễn tả vả khẳng định con người của mình, thay vì lạm dụngngôi thứ hai, để nói thay, nói thế cho kẻ khác, theo kiểu «cả

vú lấp miệng em», hay là áp đặt từ trên và từ ngoài những

« qui luật » như : Phải, Cần, Nên, Không được

Trong tinh thần và lăng kính ấy, khi biết lắng nghe và tôntrong con người đang có mặt và chung sống, chúng ta sẽ cókhả năng sáng tạo và thiết lập với mọi người, những quan hệxây dựng và hài hòa, còn mang tên là « tương sinh, tươngthành » Hẳn thực, khi chúng ta cố quyết « làm người », chúng

ta sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ khác « thành người, vóichúng ta, nhờ chúng ta và như chúng ta »

Bốn bước đi tới trong mỗi quan hệ tiếp xúc và trao đổi

Nhằm cụ thể hóa những ý kiến vừa được quảng khai, sau đây là bốn bước cần thực hiện, mỗi lần chúng ta thiết lập

những quan hệ xây dựng và hài hòa với người khác, nhất là khiđối diện những phản ứng xúc động đang leo thang, tràn ngập

và sắp bùng nổ:

Trang 33

Kêu ra ngoài, gọi tên xúc động đang ẩn núp ở dưới sự kiện.

Ví dụ : Em/chị nói như vậy có nghĩa là em/chị đang BUỒN,GIẬN, hay là SỢ phải không ? Khi tiếp xúc với trẻ em, chúng tachỉ cần xoay lui xoay tới với 3 xúc động chính yếu nầy mà thôi.Bước thứ ba :

Sau khi lắng nghe và ghi nhận xúc động , chúng ta tìm hiểuthêm: Chị/em đang CẦN gì? NHU CẦU quan trọng bậc nhấtcủa chị/em có phải là - ?

Bước thứ tư : Vậy theo em/chị, trong hoàn cảnh và vị trícủa tôi, tôi có thể làm gì cụ thể, để đáp ứng nhu cầu củaem/chị ? Chị/em yêu cầu tôi LÀM gì?

Sau khi lắng nghe, ghi nhận, tôi xin trả lời :

- Về yêu cầu thứ nhất mà chị vừa trình bày, tôi có thể làmđược

- Về yêu cầu thứ hai tôi không có khả năng và điều kiện

Trang 34

- 2) PHẢN ẢNH, nghĩa là nói lại với ngôn ngữ của mình,những gì chúng ta đã ghi nhận và đón nhận, khi lắng nghe vàđặt trọng tâm vào con người của kẻ khác.

- 3) KIỂM CHỨNG bằng cách yêu cầu kẻ khác nói rõ :những điều tôi hiểu về họ, có hoàn toàn ăn khớp với quanđiểm của họ hay không ?

- 4) KHÔNG KHUYÊN BẢO, nghĩa là đề nghị cho kẻ khácnhững lối nhìn và cách làm của chính chúng ta

- 5) Thay vì bói đoán hay là tưởng tượng, tôi GHI NHẬNmột cách khách quan, những gì mắt thấy, tai nghe, phát xuất

từ người đang trao đổi với tôi

- 6) Thay vì ÁP ĐẶT một cách vu vơ, nghĩa là đề xuất mộtlối nhìn hoàn toàn chủ quan, do chính tôi khám phá xây dựng

và tưởng tượng, tôi chỉ cố gắng TRUNG THỰC NÓI VỀ MÌNH vàLẮNG NGHE cũng như TÌM HIỂU ý kiến của người khác, khi họphát biểu

- 7) Khi thiết lập những quan hệ ĐỒNG CẢM như vậy,chúng ta tạm thời đóng vào ngoặc, không đề cập vấn đề đồng

ý hay bất đồng, về mặt tư tưởng và quan điểm Chúng ta chỉlàm công việc nhìn nhận con người và tôn trọng giá trị làmngười của họ mà thôi

Thể theo lối nhìn và kinh nghiệm hòa giải của tác giảMarshal B ROSENBERG, chúng ta chỉ cần tôn trọng một cáchnghiêm chỉnh và chính xác, bốn bước từ từ đi lên, như được đềnghị, chúng ta sẽ có khả năng đề phòng và ngăn chận hiệntượng xúc động biến thành bạo động, trong hành vi của chínhchúng ta, cũng như trong hành vi của kẻ khác

Chính vì lý do nầy, mỗi lần có hiện tượng xúc động « bùng

nổ » nơi trẻ em, tôi đề nghị những cách hành xử sau đây :

- Thứ nhất, người lớn hãy có mặt với trẻ em, đừng bỏ đinơi khác,

- Thứ hai, thay vì ngăn chận, ức chế, bằng ngôn ngữ hoặchành vi, chúng ta chỉ bình tĩnh phản ảnh : Mẹ thấy con bùng

nổ Con có thể nói lên cơn tức giận của con Mẹ cho phép condiễn tả, nói ra, bộc lộ ra ngoài Nếu tức quá, con hãy tức với

Trang 35

cái gối nầy đây Trường hợp trẻ em đánh đập kẻ khác, chúng

ta chỉ cầm tay, giữ chặt trẻ em lại và nói : Con tôi tức quá,giận quá Con có thể giận cái ghế, cái gối Nhưng không baogiờ đánh em, đánh mẹ Điều cốt yếu trong lúc nầy là chúng tagiữ nét mặt và thái độ bình tĩnh, không ức chế và trừng phạt

- Thứ ba, sau khi trẻ em đã trở về tình trạng ổn định,chúng ta tìm hiểu nhu cầu của trẻ em : Con cần gì, hãy nói racho mẹ biết Trường hợp trẻ em không nói, chúng ta có thểthuyên giải, đưa ra một lý do hay là đặt câu hỏi Động cơ chínhtrong cách làm và cách nói của chúng ta, vào lúc nầy là có mặt

và trao đổi, phản ảnh, hơn là khám phá sự thật hay là nguyênnhân đích thực của hành vi bùng nổ

- Thứ bốn, để kết thúc, chúng ta đề nghị một trò chơi Hai

mẹ con có thể cầm tay nhau, đi quanh một vòng…Nếu ngườilớn đã có thói quen tiếp xúc, trao đổi như vậy… dần dần họ sẽtìm ra những cách làm và lời nói thích hợp Tuy nhiên, tôimuốn nhấn mạnh lại, điều quan trọng ở đây là có mặt và traođổi Nội dung không thiết yếu bao nhiêu

Và khi người mẹ biết tạo quan hệ Đồng Cảm như vậy, bà làcái KHUNG bao bọc, che chỡ, tạo an toàn tình cảm cho đứa con,trong mọi tình huống thuận lợi cũng như bất lợi

Trong tinh thần và lăng kính nầy, Lắng Nghe, Có Mặt vàĐồng Cảm, là những quà tặng lớn lao, cho những người đangtiếp xúc với chúng ta, bất kể người ấy đang còn là một trẻ em,hay đã trưởng thành và có những trách nhiệm, trong lòng xãhội

***

5.- Ngôn Ngữ

Trang 36

Như đã được trình bày từ đầu, trong Lời Mở Đường vàchương Hai nầy, Nội Tâm bao gồm năm thành tố khác nhau,nhưng bổ túc và kiện toàn cho nhau :

- Cửa Vào làm bằng năm giác quan (Input),

- Tư Duy và Xúc Động là hai Thành Tố thuộc Tiến TrìnhBiến Chế và Chuyển Hóa (Processing),

- Hai Thành Tố thứ tư và thứ năm là Cửa Ra bao gồm Ngôn Ngữ và những Quan Hệ xã hội giữa người với người(Output)

Vì lý do sư phạm, tôi đã chọn lựa thứ tự trước-sau, ngoài Trong thực tế, năm thành tố ấy giao thoa chằng chịt,tác động qua lại, kết dệt với nhau những quan hệ nhân quả haichiều Hẳn thực, một trong năm thành tố có thể là nhân, cókhả năng phát sinh, điều hướng hoặc điều động bốn yếu tố cònlại Khi khác, chính yếu tố ấy lại là thành quả chịu ảnh hưởnglớn lao của một thành tố khác

trong-Tư duy chẳng hạn, mang lại cho đời sống của con người mộthướng đi, một ý nghĩa, một mục đích Tuy nhiên, không có xúcđộng làm động cơ thúc đẩy, làm sao con người có thể có khảnăng chuyển biến một chương trình, một kế hoạch thành hoaquả cụ thể trong lòng cuộc đời Nhưng khi không có ánh sángcủa tư duy soi sáng và hướng dẫn, xúc động sẽ tức khắc bịtràn ngập và gây ra nhiều đổ vỡ trong đời sống xã hội…

Nói khác đi, xúc động cần được gọi ra ngoài, đem ra vùngánh sáng của ý thức và ngôn ngữ Lúc bấy giờ, xúc độngkhông còn là một «Xung Năng » hoàn toàn vô thức, một sứcthúc đẩy, dồn ép, tạo căng thẳng Trong tiếng Anh, sức mạnh

ấy mang những tên chuyên môn như Drive, Urge hay làPulsion

Trong lăng kính vừa được trình bày, ngôn ngữ là mộtphương tiện được dùng , để GỌI RA NGOÀI, hay là MANG RAVÙNG ÁNH SÁNG, những gì được cưu mang trong nội tâm Đốivới bốn thành tố khác - là giác quan, tư duy, xúc động vàquan hệ xã hội - ngôn ngữ đóng vai trò tổ chức, xếp đặt, diễn

tả, phản ảnh hay là giải tỏa Nhờ ngôn ngữ, chúng ta đặt tênhay là gọi tên, cho những gì chúng ta thấy, nghe, cảm Tuynhiên, ngôn ngữ không phải là sở hữu riêng tư của một cánhân Đó là phương tiện của cả một tập thể, một cộng đồng,một nền văn hóa, có khả năng mở ra cho chúng ta những cánh

Trang 37

cửa bao la, diệu vợi, một bầu trời tự do và sáng tạo Đồng thời,ngôn ngữ cũng là một cạm bẫy đầy hiểm nguy và tai họa.Chẳng hạn, chúng ta dùng ngôn ngữ, để tìm hiểu, khám phálối nhìn và quan điểm của kẻ khác Nhưng chúng ta cũng cóthể dựa vào ngôn ngữ, để áp đặt cho kẻ khác những cách làm,những lối suy tư mà chúng ta lầm tưởng đó là chân lý ngànđời, là qui luật bất di bất dịch, phổ cập bất kỳ ở đâu.

Bao nhiêu nhận xét ấy cho phép chúng ta ý thức đến ít nhất

ba phần vụ khác nhau của ngôn ngữ :

- Thứ nhất, đó là một phương tiện cần được đặt dướiquyền sử dụng của tư duy, nhằm tổ chức và định hướng cuộcđời

- Thứ hai, đó cũng là một dụng cụ hữu ích và hữu hiệu, đểchúng ta thiết lập quan hệ tiếp xúc và trao đổi, chia sẻ vàđồng cảm với những người cùng chung sống trong môi trường

xã hội

- Thứ ba, xuyên qua con đường ngôn ngữ, chúng ta thựcthi công việc phản ảnh, có nghĩa là từ từ gọi ra vùng ánh sángcủa ý thức, bao nhiêu động lực đen tối, mập mờ, bao nhiêuxung năng vô tổ chức, cũng như bao nhiêu tiếng nói còn đang

bị ức chế, trấn áp, chưa được coi trọng và lắng nghe

Không nhìn nhận và coi trọng đúng tầm ba vai trò và ba giátrị ấy của ngôn ngữ, trong các phương pháp tiếp cận và giáodục, chúng ta sẽ lập tức biến ngôn ngữ thành một dụng cụnhồi nhét, nhồi sọ Một cách vô tình và vô thức, chúng ta biếntrẻ em thành một con sáo, con cưởng học nói, hay là một chiếcmáy vô hồn ghi âm và phát âm

Nói cách khác, bao lâu trẻ em tự kỷ còn có những vấn đề

« xúc động tràn ngập hay là bùng nổ », điều quan trọng bậcnhất là tạo ra những điều kiện, những bầu khí, những khungcảnh an toàn thể lý và tâm linh Tôi gọi đó là « cái KHUNG bềnvững », bao bọc và che chỡ trẻ em, đối với mọi va chạm trongcuộc đời

Bao lâu trẻ em còn sống bít kín, đóng khung trong những hành vi lặp đi lặplại, ưu tiên số một hay là nhu cầu cơ bản nhất, cần khám phá, để chuyển hóatình trạng hiện tại của trẻ em, là thiết lập với trẻ em - một cách vô điều kiện vàđơn phương về phía chúng ta - những quan hệ xã hội

Trang 38

Quan hệ xã hội nầy làm bằng những động tác cụ thể như :

có mặt, lắng nghe, nhìn ngắm, sung sướng, hạnh phúc, sẵnsàng đồng cảm và đồng hành với trẻ em

Phải chăng toàn bộ cuốn sách nầy, từ chương đầu đếnchương cuối, chỉ muốn xoay vần, xoáy lui xoáy tới chungquanh chủ đề duy nhất nầy ?

Chương BA :

Trí Thông Minh Xã Hội

Nhằm đảm trách công việc giáo dục và gặt hái nhiều thànhquả cụ thể, với mỗi trẻ em tự kỷ, trong nhiều cuốn sách, tôi đã

đề nghị một sơ đồ « Thiết Lập Dự Án », gồm có 7 giai đoạn, như sau :

Giai đọan MỘT: Khảo sát thực tế cụ thể và khách quan do chính trẻ em trình bày, xuyên qua tác phong hay là hành vi hằng ngày của mình

- Tôi thấy tận mắt trẻ em làm những gì ?

- Tôi nghe trẻ em nói những gì, với ngôn ngữ có lời cũng như với ngôn ngữ không lời như điệu bộ, nét mặt, liếc nhìn… ?

- Môi trường hóa những dữ kiện hoặc tin tức bằng

cách tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi sau đây: Ở đâu, khi nào, bao lâu, với ai, thế nào ?

- Đề phòng một cách rất nghiêm chỉnh, 3 xu thế :

1.-Tổng quát hóa hay là « vơ đũa cả nắm » : chỉ thấy một lần, đã vội vàng khẳng quyết một qui luật bất di bất dịch « khi nào cũng vậy »… « bao giờ cũng vậy »

2.-Thanh lọc, nghĩa là chỉ giữ lại những sự kiện thích hợp với cách nhìn quen thuộc của mình, đồng thời bỏ qua một cách

cố tình, những gì đi ngược lại với ý kiến của chúng ta Với cách

Trang 39

làm nầy, chúng ta « bóp méo hay là xuyên tạc » thực tế kháchquan

3.-Chủ quan hóa nghĩa là đề cao, biện minh lối nhìn của mình và không coi trọng quan điểm của nhiều người khác

- Kỹ thuật mà chúng ta cần sử dụng : « Chiếc mũ màuTRẮNG » của Ed De BONO

Giai đoạn HAI: Khám phá những yếu tố NĂNG ĐỘNG, những sự kiện tích cực, nhằm củng cố và tăng cường, bằng lời nói và thái độ « khích lệ và khen thưởng một cách khoa học » của chúng ta

- Kỹ thuật môi trường hóa cần được sử dụng để khảo sát những điều kiện thuận lợi làm phát sinh yếu tố năng động ấy

- Kỹ thuật « Mũ màu VÀNG Mặt Trời »

Giai đoạn BA: Liệt kê đầy đủ tối đa năm vấn đề chủ yếu cầngiải quyết Đó là những yếu tố hay là sự kiện tiêu cực, tê liệt,

ù lì và bị động, cần được chuyển hóa, xuyên qua lề lối dạy dỗ của chúng ta

- Với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ, chúng ta tìm cách khảosát 5 Triệu Chứng (hay là Dấu Hiệu) chính yếu :sống bít kín, rối loạn về ngôn ngữ, phản ứng bùng nổ, hành vi lặp đi lặp lại như một chiếc máy, hành vi dị thường và những cơn động kinhlớn hay nhỏ

- Môi trường hóa mỗi vấn đề, với nhiều chi tiết quan trọng,

- Kỹ thuật « Mũ ĐEN »

Giai đoạn BỐN: Liệt kê tối đa 3 xúc động đang tạo những cản trở quan trọng, trong việc thiết lập những quan hệ với người lớn, cũng như với những trẻ em cùng lứa tuổi

- Gọi tên xúc động,

- Môi trường hóa,

Trang 40

- Khám phá NHU CẦU cơ bản của trẻ em, ẩn núp ở đằng sau mỗi xúc động,

- Cần khảo sát thể thức sáng tạo những loại quan hệ nào, như thế nào, với ai… để hóa giải những tình huống xúc động ấy ?

- Kỹ thuật « Mũ ĐỎ »

Giai đoạn NĂM: Xác định Phương Hướng Hành Động :

- Mục đích tối hậu bao gồm những giá trị sáng soi va hướng dẫn một cách toàn diện,

- Kế Hoạch với những mục tiêu dài và ngắn hạn,

- Phương tiện và học cụ cần sáng tạo để sử dụng trong những bài học hằng ngày,

- Thời hạn cần thiết để thực hiện dự án,

- Người thực hiện dự án là ai ? Giáo viên chính, giáo viên phụ tá, cha mẹ, chuyên viên ngôn ngữ hay là tâm vận động, tâm lý gia, bác sĩ…

- Kỹ thuật « Mũ màu XANH DA TRỜI »

Giai đoạn SÁU: Sáng tạo những BÀI HỌC cụ thể hằng ngày,nhằm chuyển biến Mục đích và Mục tiêu đã được đề xuất tronggiai đoạn NĂM trên đây, thành hiện thực cụ thể và khách quan,trong cuộc sống hằng ngày của trẻ em

- Bài học về THỰC TẾ (Cửa Vào) : nhằm giúp trẻ em khám phá và hiểu biết về những gì có mặt trong môi trường quen thuộc sinh sống hằng ngày Những bài học này vận dụng CỬA VÀO bao gồm Mắt, TAI và TAY CHÂN, cũng như LÀN DA

- Bài học về TƯ DUY : trong-ngoài, trên-dưới, xếp loại,

đi tìm một dụng cụ, lấy tay chỉ một đối tượng mong muốn, cùng làm với bạn bè…

- Bài học về XÚC ĐỘNG (xem giai đoạn BỐN trên đây

Ngày đăng: 10/03/2014, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 10 : Những TM sắp theo thứ tự từ dưới đi lên, - PHÁT HUY QUAN HỆ XÃ HỘI Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ pptx
Bảng s ố 10 : Những TM sắp theo thứ tự từ dưới đi lên, (Trang 106)
Bảng lắp ráp khung lõm - PHÁT HUY QUAN HỆ XÃ HỘI Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ pptx
Bảng l ắp ráp khung lõm (Trang 203)
Hình con Thỏ – 4 hình cơ bản: - PHÁT HUY QUAN HỆ XÃ HỘI Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ pptx
Hình con Thỏ – 4 hình cơ bản: (Trang 204)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w