SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐỀ TÀI: "NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC TỔ CHỨC TỌA ĐÀM ĐÁNH GIÁ VĂN HÓA GIAO TIẾP, ỨNG XỬ CỦA HỌC SINH THPT BẰNG HÌNH THỨC SÂN KHẤU HÓA"... Hành vi ứng xử văn hóa là những
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC TỔ CHỨC TỌA ĐÀM ĐÁNH GIÁ
VĂN HÓA GIAO TIẾP, ỨNG XỬ CỦA HỌC SINH THPT BẰNG
HÌNH THỨC SÂN KHẤU HÓA"
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa giao tiếp và ứng xử từ lâu đã trở thành một vấn đề được nhiều người quan tâm Trong thời đại hội nhập hiện nay, vấn đề giao tiếp và ứng xử lại trở nên quan trọng
và cần thiết hơn bao giờ hết Trong đó thanh niên đang đối mặt với nhiều khó khăn trong
việc lựa chọn những giá trị mới vừa phù hợp truyền thống của dân tộc vừa đáp ứng xu
hướng phát triển của xã hội hiện đại, nhất là việc lựa chọn hành vi ứng xử trong cuộc
sống, trong học tập, công tác và các mối quan hệ xã hội
Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản
thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày
Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó được hình thành qua
quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội
Bên cạnh những biểu hiện của hành vi ứng xử có văn hóa, hiện nay vẫn còn một bộ phận trong giới trẻ có những hành vi ứng xử thiếu văn hóa Ðối với bản thân họ không có
ý chí phấn đấu, sống buông thả, sa đà vào các tệ nạn xã hội: cờ bạc, ma túy, mại dâm
Ðây hoàn toàn là những biểu hiện của nếp sống xa lạ, sai trái, đi ngược với truyền thống
văn hóa dân tộc Hiện tượng các bạn trẻ là học sinh THPT văng tục, chửi thề; ngang
nhiên vi phạm luật lệ giao thông; có thái độ không đúng mực với người già; hành động
ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng còn khá phổ biến
Ứng xử như thế nào để được coi là người có văn hóa và làm thế nào để hướng giới trẻ tới ứng xử có văn hóa? Ðây là vấn đề cấp thiết đặt ra, đòi hỏi chúng ta cần có sự nhìn
nhận nghiêm túc và khách quan
Thực hiện công Chỉ thị số: 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 Về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; thực hiện Kế
hoạch năm học số 01/KH-HVM ngày 01/9/2012 của trường THPT Hà Văn Mao Sau khi
tổ chức Tọa đàm giao tiếp, ứng xử và thấy được hiệu quả giáo dục, tôi mạnh dạn đưa ra
suy nghĩ của mình trong giáo dục văn hóa giao tiếp, ứng xử cho học sinh hiện nay: “
Nâng cao hiệu quả việc tổ chức tọa đàm đánh giá văn hóa giao tiếp, ứng xử của sinh
Trung học phổ thông bằng hình thức sân khấu hóa”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đưa ra cách thức tổ chức một buổi tọa đàm giao tiếp, ứng xử trong trường THPT
- Làm rõ hiệu quả của việc sân khấu hóa tọa đàm về văn hóa giao tiếp, ứng xử trong thanh niên, học sinh tại trường THPT Hà Văn Mao
Trang 33 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Học sinh lớp 10, 11 trường THPT Hà Văn Mao
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nhiệm vụ 1: Cơ sở lý luận của giao tiếp, ứng xử và một số phương pháp tổ chức tọa đàm
giao tiếp, ứng xử trong trường THPT
Nhiệm vụ 2: Xây dựng và triển khai thực nghiệm tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử tại
trường THPT Hà Văn Mao
5 Giới hạn nghiên cứu của đề tài.
+ Giới hạn đối tượng: Học sinh THPT
+ Giới hạn nội dung: Những tình huống giao tiếp, ứng xử thường ngày của học sinh THPT và bài học rút ra
6 Các phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu cơ sở lý luận của giao tiếp, ứng xử.
+ Phương pháp quan sát - phỏng vấn: Quan sát thực trạng các hoạt động giao tiếp,
ứng xử của học sinh, tìm hiểu nhận thức của HS về văn hóa giao tiếp, ứng xử và qui trình
tổ chức các buổi tọa đàm giao tiếp, ứng xử dành cho học sinh THPT để làm cơ sở thực
tiễn cho đề tài
+ Phương pháp thực tiễn: Qua thực tiễn tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử phân
tích các kết quả thực nghiệm để kiểm tra tính hiệu quả của hình thức sân khấu hóa trong
tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
A Giải quyết nhiệm vụ 1: Cơ sở lý luận của giao tiếp, ứng xử và một số phương pháp
tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử trong trường THPT
1 Cơ sở lý luận của giao tiếp, ứng xử
1.1 Khái niệm
Giao tiếp, ứng xử là một quá trình con người ý thức được mục đích, nội dung và những phương tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác Trong quá trình giao tiếp,
ứng xử thì cả đối tượng và chủ thể giao tiếp đều ý thức được những nội dung và diễn biến
tâm lý của mình trong giao tiếp, ứng xử Nhờ đặc trưng này, chúng ta dễ dàng nhận ra
được mục đích của quá trình giao tiếp, ứng xử để làm gì ? nhằm mục đích gì ?
Trang 4Giao tiếp, ứng xử diễn ra nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan, nhu cầu của những người tham gia vào quá trình giao tiếp, ứng
xử Đặc trưng này có vai trò rất lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách con
người
• Giúp cho mỗi người tự hoàn thiện mình theo yêu cầu đòi hỏi của nghề nghiệp, của các quan hệ xã hội mà họ là thành viên
• Nhờ giao tiếp, ứng xử mà quá trình xã hội hóa mới thực chất hòa nhập mỗi cá nhân vào các hoạt động của nhóm, cộng đồng, dân tộc, địa phương
Qua giao tiếp, ứng xử giúp con người nhận thức, hiểu biết lẫn nhau Sự nhận thức, hiểu biết lẫn nhau vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, phải nhận thức dù là ít ỏi về đối
tượng giao tiếp, ứng xử của mình Có như vậy kết quả giao tiếp, ứng xử mới thành công
Có nhận thức được nhau mới hiểu biết lẫn nhau Nếu thầy giáo không hiểu học sinh thì
việc xử lý học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện trong giao
tiếp, ứng xử giữa con người với con người Con người vừa là một thành viên tích cực của
các quan hệ xã hội với tư cách tạo lập nên các quan hệ xã hội như pháp quyền, kinh tế,
văn hóa với tư cách vừa là hoạt động tích cực cho nên tồn tại và phát triển của chính
các quan hệ xã hội đó
Giao tiếp, ứng xử được tiến hành trong một thời gian, không gian và các điều kiện
cụ thể Nói cách khác, giao tiếp, ứng xử cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển lịch sử
xã hội loài người
Cá nhân trong giao tiếp, ứng xử vừa là chủ thể vừa là khách thể của giao tiếp, ứng
xử Trong quá trình dạy học, học sinh vừa là khách thể, vừa là chủ thể Qua phân tích
trên, ta có thể hiểu : Giao tiếp, ứng xử là một quá trình tiếp xúc giữa con người với con
người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn kinh nghiệm sống, kỹ năng, kỹ
xảo nghề nghiệp
1.2 Chức năng
a Chức năng giao tiếp, ứng xử:
Có nhiều cách khác nhau để phân chia các chức năng của giao tiếp, ứng xử Ở góc
độ là một phạm trù của tâm lý học hiện đại thì giao tiếp, ứng xử có các chức năng như
sau :
b Chức năng định hướng hoạt động của con người
Người giáo viên trong quá trình giảng dạy có thể chỉ nhìn vào nét mặt của học sinh,
sự phản ứng của học sinh trước lời giảng của mình mà nhận ra được mức độ nắm tri thức
của học sinh Nhờ đó giáo viên điều chỉnh lại cách dạy của mình để quá trình dạy học đạt
Trang 5kết quả cao Hay một học sinh có nhiều lần đi học muộn, một học sinh nhiều lần không
thuộc bài, em khác đi học thất thường, buổi đi, buổi nghỉ đều gợi lên trong suy nghĩ của
thầy giáo một hướng giáo dục tìm kiếm những thông tin chính xác để có những biện pháp
giáo dục thích hợp Đứng về phía học sinh, qua lời giảng của thầy, cô giáo, các em ý thức
được trình độ chuyên môn, những nét tính cách cơ bản của giáo viên đó Nhờ đó, các em
có những phản ứng trả lời phù hợp với từng thầy, cô
Trong cuộc sống đời thường, nhất là đối với những người lạ chưa quen biết, lần tiếp xúc đầu tiên thường là vừa giao tiếp, ứng xử, vừa thăm dò để hiểu đối tượng tiếp xúc
của mình Mỗi lời nói, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười đều bao hàm những khía cạnh thông tin
quan trọng để giúp chúng ta giao tiếp, ứng xử có hiệu quả
Qua phân tích trên, chúng ta có thể rút ra kết luận : Quá trình giao tiếp, ứng xử giúp chúng ta khả năng xác định các mức độ nhu cầu,
tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm của đối tượng giao tiếp, ứng xử Nhờ đó,
chủ thể giao tiếp, ứng xử đáp ứng kịp thời, phù hợp với mục đích và nhiệm vụ giao tiếp,
ứng xử
c Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi
Giao tiếp, ứng xử là quá trình tiếp xúc có mục đích, nội dung và nhiệm vụ cụ thể
Nói một cách khác con người ý thức được cần phải làm gì ? Cần đạt được những gì ? Đó
là mặt nhận thức Trong thực tiễn khi tiến hành giao tiếp, ứng xử không ít trường hợp chủ
thể giao tiếp, ứng xử phải linh hoạt, tùy điều kiện, thời cơ mà thay đổi, lựa chọn phương
tiện ( kể cả ngôn ngữ, cách diễn đạt, giọng điệu ) tùy đối tượng giao tiếp, ứng xử mà
ứng xử
Phương pháp giáo dục cá biệt thể hiện rất rõ chức năng này của giao tiếp, ứng xử
Giáo dục phải phù hợp trong hoàn cảnh cụ thể, từng con người cụ thể, từng công việc,
từng loại tiết học mới có thể đạt được chất lượng, hiệu quả cao Phải qua giao tiếp, ứng
xử với học sinh, chúng ta mới điều chỉnh được các biện pháp giáo dục của mình phù hợp
với từng học sinh Trong đời sống sinh hoạt thường ngày, có biết bao nhiêu điều chúng ta
đã trãi qua, cảm nhận do không xem xét linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp, ứng xử mà
xảy ra những chuyện hiểu nhầm trong tình cảm thầy trò, đồng nghiệp thậm chí ngay cả
đối với vợ con, cha mẹ
1.3 Các kiểu loại giao tiếp, ứng xử
a Căn cứ vào sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể và đối tượng giao
tiếp, ứng xử, người ta chia làm hai loại :
- Giao tiếp, ứng xử trực tiếp
Trang 6Chẳng hạn, sự tiếp xúc của thầy giáo và học sinh trên lớp, sinh hoạt tổ chuyên môn,
sự gặp gỡ những người quen biết là giao tiếp, ứng xử trực tiếp Giao tiếp, ứng xử trực
tiếp là loại giao tiếp, ứng xử được tiến hành đồng thời một thời điểm có mặt cả đối tượng
và chủ thể giao tiếp, ứng xử Loại giao tiếp, ứng xử này có đặc điểm:
• Có thể sử dụng ngôn ngữ phụ (giọng điệu, nhịp điệu, cường độ lời nói) và những phương tiện ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ, ) để nhấn mạnh hoặc thể hiện thái độ
• Giao tiếp, ứng xử trực tiếp rất linh hoạt, mềm dẻo, tùy hoàn cảnh, tùy phản ứng của đối tượng giao tiếp, ứng xử mà ta ứng xử cho phù hợp
- Giao tiếp, ứng xử gián tiếp Giao tiếp, ứng xử gián tiếp là loại giao tiếp, ứng xử mà đối tượng giao tiếp, ứng xử không có mặt ở thời điểm cần tiếp xúc Loại giao tiếp, ứng xử không tận dụng được
những ưu điểm của giao tiếp, ứng xử trực tiếp nhất là qua ngôn ngữ viết Tuy nhiên, nếu
tiếp xúc qua điện thoại thì giọng điệu, cách phát âm giúp cho đối tượng giao tiếp, ứng
xử ở xa hiểu thêm thái độ của chủ thể giao tiếp, ứng xử
b Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ hoạt động của nhóm xã hội, cá nhân mà người ta chia giao tiếp, ứng xử ra làm hai loại :
- Giao tiếp, ứng xử chính thức Giao tiếp, ứng xử chính thức là sự giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong một nhóm xã hội hoặc các nhóm xã hội chính thức, nghi thức giao tiếp, ứng xử được dư luận
xã hội hoặc pháp luật, phong tục tập quán qui định
- Giao tiếp, ứng xử không chính thức Chẳng hạn, sự giao tiếp, ứng xử giữa các cá nhân trên một chuyến xe, tàu ; những người cùng xem phim, nghệ thuật, cùng mua hàng Giao tiếp, ứng xử không chính thức
là sự giao tiếp, ứng xử giữa các cá nhân trong nhóm không chính thức với nhau
1.4 Giao tiếp, ứng xử và sự phát triển nhân cách
- Giao tiếp, ứng xử giúp con người hình thành và phát triển ngôn ngữ:
- Trí tuệ của con người được hình thành và phát triển trong quá trình giao tiếp, ứng xử với những người xung quanh.
- Giao tiếp, ứng xử giúp cho lao động và các hoạt động của con người mang tính
xã hội, tính tập thể
Trên cơ sở khoa học về văn hóa giao tiếp, ứng xử tác giả nêu đặc điểm của học sinh THPT
Trang 71.5 Đặc điểm của học sinh THPT
Học sinh THPT ngày nay có những bước nhảy vọt về chất và hình thức tư duy trong quá trình học tập và rèn luyện Các em mạnh dạn hơn, suy nghĩ táo bạo hơn, có
những nhu cầu mới hơn, đặc biệt là nhu cầu về hoạt động Mặc dù học tập vẫn là hoạt
động chủ đạo, song nội dung và tính chất hoạt động học tập ở lứa tuổi này khác rất nhiều
so với các lứa tuổi trước Nói đòi hỏi ở các em tính năng động và độc lập cao hơn, tư duy
lôgíc nhiều hơn Những yêu cầu đó vừa phải được thể hiện trong hoạt động học tập, vừa
phải cụ thể hoá trong các hoạt động của tập thể Đây là một trong những đặc điểm rất rõ
nét của học sinh THPT Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động với những hình thức đa dạng
do học sinh quản lý và điều khiển đòi hỏi giáo viên phải đổi mới các phương pháp tổ
chức hoạt động tránh áp đặt một chiều hoặc chỉ cực đoan ở một vài hình thức hoạt động
quá quen thuộc, gây nhàm chán cho học sinh Yêu cầu của đổi mới phương pháp giáo dục
phổ thông là phải "khuyến khích, tự học", phải "bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề" Vì vậy, đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động
vừa là một tất yếu, vừa phải gắn với đặc điểm học sinh THPT hiện nay
1.6.Tình hình tổ chức các buổi tọa đàm giao tiếp, ứng xử ở trường THPT hiện nay
Trên thực tế, các trường THPT đã chú ý cải tiến về nội dung và hình thức hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và thu hút sự tham gia của học sinh Song những
cải tiến đó cũng chỉ là bộ phận thiếu tính hệ thống và nhất là chưa khai thác hết tiềm năng
của học sinh Do đó, vai trò chủ thể hoạt động của học sinh nhiều khi bị mờ nhạt, nhất là
trong các tiết sinh hoạt Đoàn trường thường lặp đi lặp lại một vài hình thức hoạt động
đơn giản như: sơ kết, vui văn nghệ, tuyên dương khen thưởng học sinh Nội dung hoạt
động ít thay đổi, hình thức hoạt động thiếu tính đa dạng Vì vậy dễ gây sự nhàm chán, tạo
bầu không khí uể oải trong hoạt động của học sinh Nếu như có một chương trình hoạt
động phong phú, có sự định hướng tốt của tổ chức, với vai trò chủ động của học sinh thì
chắc chắn các hoạt động sẽ mang lại tác dụng giáo dục tốt cho các em Chính vì vậy, việc
nâng cao nhận thức về đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động cho học sinh và tiến hành
đổi mới thực sự là một yêu cầu quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông
1.7 Phương hướng đổi mới phương pháp tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử
- Đa dạng hoá các hình thức tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử khắc phục tính chất đơn điệu, lặp đi lặp lại một vài hình thức đã quá quen thuộc với học sinh và gây ra nhàm
chán, tẻ nhạt đối với các em Để thực hiện phương hướng này cần phải cụ thể hoá ở
những điểm sau:
+ Nắm chắc nội dung hoạt động của từng chủ đề ở từng tháng Mỗi chủ đề hoạt động có mục tiêu giáo dục riêng Từ nội dung hoạt động của chủ đề tháng, tổ chức Đoàn
Trang 8cụ thể hoá thành nội dung cho hoạt động của từng tuần, nhưng phải đảm bảo tính thống
nhất và mối liên quan chặt chẽ giữa các nội dung hoạt động của các tuần với nhau
+ Lựa chọn các hình thức hoạt động phù hợp với nội dung của tuần, của tháng
Những hình thức này có thể được thay đổi hoặc được nhắc lại ở mỗi chủ đề tháng Điều
đó sẽ có tác dụng trong việc giúp học sinh thực hiện một cách linh hoạt, chủ động hơn
+ Gắn đổi mới các hình thức hoạt động với đổi mới phương pháp tổ chức Điều này thể hiện ở chỗ tăng cường tính chất tương tác, tính sáng tạo của học sinh khi tham gia vào
hoạt động Tính sáng tạo của học sinh
+ Đổi mới phương pháp tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử cần định hướng vào việc phát triển tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, khả năng hoạt động độc lập, khả
năng tự đề xuất và giải quyết vấn đề trong hoạt động cũng như khả năng tự kiểm tra đánh
giá kết quả hoạt động của các em Nói cách khác đó là khả năng tự kiểm tra đánh giá kết
quả hoạt động của các em, tạo điều kiện cho học sinh phát huy tinh thần trách nhiệm
trong việc tham gia và điều khiển hoạt động của tập thể Cụ thể là:
- Phải đưa học sinh vào những tình huống cụ thể với những công việc được giao cụ thể nhằm tăng cường trải nghiệm và phát huy tư duy " quy nạp" Có như vậy mới giúp
các em có điều kiện để trưởng thành
- Phát huy cao độ khả năng của đội ngũ cán bộ lớp, đồng thời khéo léo lôi cuốn mọi thành viên trong lớp cùng tham gia vào các khâu của quá trình hoạt động
Trong điều kiện khó khăn hiện nay, việc sân khấu hóa nội dung tọa đàm giao tiếp, ứng xử là một cách làm thể hiện sự sáng tạo và linh hoạt Đồng thời đổi mới đánh giá kết
quả hoạt động cũng là một bước trong quá trình đổi mới phương pháp tổ chức tọa đàm
giao tiếp, ứng xử
Khi đánh giá phải bám sát vào mục tiêu, đối chiếu với mục tiêu để xem xét, mức độ thực hiện hoạt động của học sinh Bởi vì đánh giá là dịp giúp học sinh tự nhìn nhận được
những tiến bộ cũng như những tồn tại cần khắc phục trong quá trình tham gia và điều
khiển hoạt động
Đánh giá hoạt động cần nhấn mạnh kỹ năng và hành vi, coi đó là yêu cầu cơ bản cần đạt được sau mỗi hoạt động Học sinh được chủ động tự đánh giá và đánh giá lẫn
nhau
2 Một số phương pháp tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử
Trang 9Phương pháp tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử rất đa dạng và phong phú Có thể giới thiệu một vài phương pháp cơ bản sau đây
2.1 Phương pháp thảo luận.
Thảo luận là một dạng tương tác nhóm đặc biệt mà trong đó các thành viên cùng giải quyết một vấn đề cùng quan tâm nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung Thảo luận tạo
ra một môi trường an toàn cho học sinh kiểm chứng ý kiến của mình, có cơ hội để làm
quen với nhau, để hiểu nhau hơn Khác với dạy học, thảo luận trong diễn đàn là dựa vào
trao đổi ý kiến giữa các em học sinh với nhau về một chủ đề, từ đó học sinh tự rút ra kết
luận theo chính kiến bản thân và theo số đông ý kiến
2.2 Phương pháp sân khấu hóa.
Đóng vai rất có tác dụng trong việc phát triển "kỹ năng giao tiếp" của học sinh
Đóng vai là phương pháp thực hành của học sinh trong một số tình huống ứng xử cụ thể
nào đó trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩa sáng tạo của các em Nó mang đến cho học
sinh cơ hội luyện tập kỹ năng trong một môi trường được đảm bảo Đóng vai thường
không có kịch bản cho trước, mà học sinh tự xây dựng trong quá trình hoạt động
2.3 Phương pháp phỏng vấn.
Phỏng vấn có tác dụng gợi mở trong học sinh những ý tưởng sáng tạo, táo bạo mà qua đó các em có thể trao đổi đầy đủ chính kiến của mình về nội dung thảo luận
2.4 Quá trình tiến hành một buổi tọa đàm giao tiếp, ứng xử:
Bao gồm các bước:
Bước1: Nêu chủ trương tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử gồm:
+ Quyết định tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử + Quyết định chủ đề của tọa đàm giao tiếp, ứng xử + Lập bộ phận dự thảo kế hoạch
Bước 2: Dự thảo kế hoạch tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử bao gồm:
+ Những căn cứ để tổ chức tọa đàm + Mục tiêu
+ Nội dung tọa đàm + Đối tượng tham gia + Ban chỉ đạo tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử
Trang 10+ Ban tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử + Ban giám khảo
+ Qui chế và thang điểm tọa đàm + Chỉ tiêu khen thưởng
+ Thời gian, địa điểm tổ chức và tổng kết buổi tọa đàm + Kinh phí cho buổi tọa đàm
Bước 3: Thông qua kế hoạch tọa đàm giao tiếp, ứng xử và triển khai thực hiện kế hoạch tọa đàm giao tiếp, ứng xử Ban tổ chức, ban giám khảo họp triển khai và thực hiện
các nhiệm vụ của mình
Bước 4: Tổ chức và công bố kết quả (Do ban tổ chức và ban giám khảo thực hiện) Bước 5: Tổng kết buổi tọa đàm giao tiếp, ứng xử ( Đánh giá toàn bộ các hoạt động của tọa đàm giao tiếp, ứng xử, rút kinh nghiệm đề ra phương hướng mới)
Đây là các bước tổ chức một tọa đàm giao tiếp, ứng xử Kết quả của buổi tọa đàm phụ thuộc vào chất lượng của việc thực hiện các bước tiến hành của tọa đàm giao tiếp,
ứng xử, để đạt được điều đó trong quá trình tổ chức cần lưu ý:
- Xin ý kiến của BGH nhà trường và các tổ chức trong nhà trường để có thể phối hợp thực hiện, họp tổ chuyên môn bàn kế hoạch tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử
- Lập kế hoạch chi tiết cho tọa đàm giao tiếp, ứng xử, bao gồm nội dung các công việc, phân công phụ trách, người thực hiện, địa điểm cụ thể, nguồn kinh phí
- Công bố chủ đề, nội dung tọa đàm giao tiếp, ứng xử, hình thức tọa đàm thời gian cho đối tượng tham gia
2.5 Tổ chức tọa đàm giao tiếp, ứng xử
- Khai mạc
- Thể hiện từng tiết mục theo sự điều khiển của người dẫn chương trình Sau mỗi phần tọa đàm ban cố vấn đánh giá và cho điểm công khai, ban thư kí cộng điểm cho từng
đội
- Giữa các tình huống có thể chuẩn bị các tiết mục văn nghệ xen kẽ
- Công bố kết quả, trao giải hoặc quà lưu niệm
2.6 Một số yêu cầu
* Trong việc thành lập ban tổ chức, ban giám khảo và thư ký tọa đàm