1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) một số phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong phần kết thúc bài giảng môn giáo dục quốc phòng an ninh

16 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 379,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG PHẦN KẾT THÚC BÀI GIẢNG MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH”... Lý do chọn đề tài

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ

ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG PHẦN KẾT THÚC BÀI GIẢNG

MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH”

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Phần kết thúc bài giảng là một trong ba phần của bài giảng, phần kết thúc bài giảng

giúp cho học sinh hệ thống được kiến thức trọng tâm của bài, thiết lập mối liên quan về

nội dung kiến thức giữa các phần Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Một số phương pháp phát

huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong phần kết thúc bài giảng môn Giáo dục

quốc phòng-An ninh”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đưa ra một số phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong phần kết thúc bài giảng môn GDQP-AN, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn

GDQP-AN bậc THPT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Học sinh trường THPT Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên

3.2 Phạm vi

Sử dụng cho một số bài giảng trong chương trình GDQP-AN bậc THPT

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến các phương pháp kết thúc bài giảng

Đồng thời đề xuất một số phương pháp kết thúc bài giảng môn GDQP-AN theo hướng

phát huy tính chủ động, tích cực của HS

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

-Nghiên cứu phương pháp giảng dạy môn GDQP-AN -Nghiên cứu cấu trúc lên lớp của một bài giảng

-Nghiên cứu một số trò chơi và vận dụng một số trò chơi vào thực tiễn

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận cơ sở

- Phân tích thực trạng một số vấn đề nghiên cứu

- Lý luận thực tiễn của nội dung đề tài

- Áp dụng, thống kê, so sánh, tổng hợp và đánh giá

7 Thời gian thực hiện đề tài

Trang 3

Từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận của đề tài

Hiện nay ngành Giáo dục và đào tạo nói chung, cũng như đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn GDQP-AN nói riêng đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)

theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen thụ động của

HS trong hoạt động học tập Mục đích của việc đổi mới PPDH là thay đổi phương pháp

dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” nhằm

giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả

năng học tập, tinh thần hợp tác, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào những tình huống khác

nhau trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống; giúp cho học sinh có sự hứng thú, niềm

tin, niềm vui trong học tập; nâng cao chất lượng dạy và học

Trong dạy học môn GDQP-AN thì phần kết thúc bài giảng là một phần hết sức quan trọng không thể thiếu trong toàn bộ tiến trình bài giảng, là một yếu tố dẫn đến sự

thành công của bài giảng

Đối với HS: Phần kết thúc bài giảng giúp HS hệ thống lại kiến thức, kĩ năng trọng tâm của bài, nhớ lại và khắc sâu kiến thức, kĩ năng Ngoài việc xác định kiến thức, kĩ

năng trọng tâm, HS còn có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình Từ đó các em có thể

điều chỉnh lại phương pháp học sao cho phù hợp GV sẽ giúp học sinh phát huy tính tích

cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời mở rộng và phát triển tư duy

cho HS Kết thúc bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa HS và GV Điều đó tạo hứng

thú học tập cho học sinh, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo điều kiện để HS phát

biểu ý kiến

Đối với GV: Kết thúc bài giảng là một trong ba phần của quá trình lên lớp Qua đó,

GV nắm được khả năng tiếp thu bài của HS để có biện pháp sửa chữa, bổ sung kiến thức

kịp thời Từ đó GV sẽ điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp với nội dung Đồng thời

GV cũng đánh giá được thái độ, tinh thần, ý thức học tập của HS

Như vậy, trong dạy học nói chung và dạy học môn GDQP-AN nói riêng, GV sử dụng tốt phương pháp trong phần kết thúc sẽ góp phần rất lớn mang lại hiệu quả cho bài

giảng, phát huy tối đa tính chủ động, tích cực của HS, nâng cao chất lượng dạy và học

2 Thực trạng của vấn đề

Trang 4

2.1 Những thuận lợi

Trong những năm qua, bộ môn GDQP-AN nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành Bộ GD&ĐT đã hoàn chỉnh và ban hành chương trình, SGK môn GDQP-AN theo

quyết định Số 79/2007/QĐ-BGDĐT Hàng năm Vụ GDQP-AN tổ chức các lớp tập huấn

cho cán bộ cốt cán về thực hiện chương trình, đổi mới PPDH, đổi mới phương pháp kiểm

tra đánh giá, ứng dụng CNTT vào dạy học, sử dụng đồ dùng, trang thiết bị dạy học, cập

nhật những sửa đổi bổ sung của Điều lệnh quản lí, Điều lệnh đội ngũ,…

Sở GD&ĐT Hưng Yên mở các lớp tập huấn, triển khai các nội dung tập huấn cấp

bộ cho GV GDQP-AN chuyên trách trong toàn tỉnh,…

Ban giám hiệu trường THPT Nam Phù Cừ luôn dành sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đối với tổ, nhóm chuyên môn và GV trong thực hiện chương trình, thực

hiện việc đổi mới PPDH, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, khuyến khích và tạo

mọi điều kiện thuận lợi cho GV tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn cấp Bộ và Sở

Nhà trường đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, chế độ trang phục, chế

độ bồi dưỡng giờ dạy,… giúp GV an tâm công tác, nâng cao hiệu quả giảng dạy

Bản thân tôi được Sở giáo dục và đào tạo Hưng Yên cử đi học lớp GV GDQP-AN

6 tháng tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Hà Nội 2, tham dự các lớp tập huấn do Bộ

Giáo dục và Đào tạo tổ chức để triển khai lại cho đội ngũ GV GDQP-AN tỉnh nhà Được

học hỏi kinh nghiệm qua dự giờ các đồng nghiệp giảng dạy bộ môn GDQP-AN tại các

trường THPT trong tỉnh Trong quá trình công tác luôn nhận được sự quan tâm của lãnh

đạo, tổ chuyên môn, sự giúp đỡ của đồng nghiệp, sự tin tưởng, hợp tác của HS Bản thân

tôi tâm huyết với bộ môn, luôn nỗ lực, tìm tòi, áp dụng những biện pháp, phương pháp

dạy học tích cực để nâng cao chất lượng bộ môn, góp phần giáo dục cho HS phát triển

toàn diện

2.2 Những hạn chế

Qua thực tế giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp ở trường sở tại và đồng nghiệp bộ môn GDQP-AN ở các trường THPT trong tỉnh, tôi nhận thấy bước đầu GV đã áp dụng một số

PPDH mang tính tích cực vào trong bài giảng nói chung và phần kết thúc bài giảng nói

riêng Đồng thời sử dụng các trò chơi vào phần kết thúc bài giảng làm tăng hiệu quả và

thành công cho tiết dạy Tuy nhiên, nhìn chung việc thực hiện đổi mới PPDH theo hướng

tích cực, chủ động còn chậm chuyển biến Việc sử dụng phương pháp dạy học trong phần

kết thúc bài giảng còn bị GV xem nhẹ, thực hiện qua loa đại khái, mang tính hình thức,

thậm chí bỏ qua Một bộ phận HS chưa mạnh dạn, chủ động tham gia vào các hoạt động

học tập ảnh hưởng đến việc tiếp thu, hệ thống và ghi nhớ các kiến thức của bài học, lâu

dần hình thành thói quen học tập thụ động,…

Trang 5

Nguyên nhân: Một bộ phận GV chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của phần kết thúc bài giảng, còn hạn chế về chuyên môn (chỉ qua lớp đào tạo ngắn

hạn 6 tháng), ngại áp dụng các PPDH tích cực vào trong tiết dạy, hiệu quả của các lớp tập

huấn đổi mới PPDH chưa cao, do áp lực thời gian… HS có tấm lí coi nhẹ môn học

GDQP-AN do phải tập trung cho các môn thi tốt nghiệp, các môn thi Đại học, Cao

Đẳng,… Trang thiết bị phục vụ cho dạy học chưa đáp ứng đủ số lượng, đảm bảo về chất

lượng

3 Một số phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong phần

kết thúc bài giảng môn GDQP-AN

Trong thực tế GV thường vận dụng các phương pháp sau vào phần bài giảng:

* Kết thúc bài giảng bằng phương pháp thiết kế và sử dụng các sơ đồ, bảng biểu,

tranh ảnh, phim tài liệu

Phương pháp này giúp HS hiểu được kiến thức thông qua khả năng phân tích, so sánh và móc nối, liên hệ các kiến thức

Thường áp dụng với những bài lý thuyết, mang tính so sánh hay tổng quát, có thể

sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, tranh ảnh, phim tài liệu,…

* Kết thúc bài giảng bằng phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập

Phương pháp này đánh giá việc học của HS, rèn cho học sinh khả năng diễn đạt

Nhưng sẽ tạo áp lực cho các HS tiếp thu chậm và không hiểu bài ngay tại lớp Phương

pháp này thường áp dụng đối với những bài học lý thuyết

* Kết thúc bài giảng bằng phương pháp cho học sinh tự tổng hợp kiến thức

Phương pháp củng cố này rèn cho học sinh kĩ năng trình bày vấn đề trước đám đông và kĩ năng tóm lược vấn đề Phương pháp này áp dụng với những bài nội dung đơn

giản, dễ tổng hợp lại kiến thức

Để khắc phục những hạn chế đã nêu ở trên tôi mạnh dạn đề xuất một số phương pháp kết thúc bài giảng mà bản thân tôi đã tìm tòi, vận dụng có hiệu quả như sau:

3.1 Kết thúc bài giảng bằng phương pháp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách

quan

Phương pháp này giúp kiểm tra đánh giá nhận thức của HS, khảo sát được số lượng lớn HS, kết quả khảo sát nhanh Qua đó cũng giúp HS nắm lại những nội dung kiến thức

trọng tâm của bài một cách cô đọng, tạo sự hứng thú cho HS và sự sinh động của tiết học

Phương pháp này cũng phù hợp với yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá hiện nay

Trang 6

Hạn chế của phương pháp này là đòi hỏi GV phải có sự chuẩn bị, tốn công sức HS

có thể đoán mò đáp án Hạn chế sự phát triển tư duy, khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ

của HS

* Công tác chuẩn bị: GV căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng để biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo các dạng: câu trắc nghiệm đúng-sai, câu trắc nghiệm

có nhiều lựa chọn, câu trắc nghiệm ghép hợp, điền vào chỗ trống,… GV có thể biên soạn

trên giấy khổ lớn A0 hoặc soạn trên Powerpiont để tăng tính sinh động

Thời gian cho phần củng cố thường từ 5 đến 7 phút vì vậy khi soạn câu hỏi trắc nghiệm, GV nên chọn những nội dung trọng tâm, có hệ thống, đầy đủ các dạng câu trắc

nghiệm, số lượng câu hỏi phù hợp từ 8 đến 10 câu Làm phiếu trả lời nếu muốn kiểm tra

nhận thức của cả lớp

* Công tác tổ chức: GV nêu hoặc trình chiếu trên màn hình hệ thống các câu hỏi, giành thời gian cho HS suy nghĩ, động viên khuyến khích HS xung phong trả lời Đối với

những HS thụ động, thiếu tích cực, GV có thể chỉ định HS trả lời bằng cách giơ tay hoặc

điền vào phiếu trả lời

Để tạo sự sinh động, thi đua và rèn luyện kĩ năng làm việc tập thể, GV nên tổ chức lớp thành các nhóm Thời gian suy nghĩ và trả lời cho mỗi câu khoảng 15 giây, các nhóm

trả lời bằng cách viết ra giấy A4, bảng, hoặc điền vào phiếu trả lời Cuối phần củng cố,

GV công bố đáp án, tổng kết, đánh giá, sửa sai (có thể đánh giá, sửa sai từng câu) và phát

thưởng động viên nếu có

Kinh nghiệm của bản thân tôi để tăng sự hứng khởi cho HS và dễ dàng tiến hành, tôi soạn các câu trắc nghiệm này trên Powerpiont, và chia lớp thành các nhóm

3.2 Kết thúc bài giảng bằng phương pháp trò chơi tổ chức trong phòng học

Phương pháp này tạo sự hứng thú, huy động sự tham gia của nhiều HS, tạo bầu không khí tích cực, tươi vui, đoàn kết cho lớp học, giải tỏa áp lực của tiết học, giúp HS

khắc sâu kiến thức theo phương châm “Chơi mà học, học mà chơi” Qua đó GV cũng có

thể kiểm tra được mức độ nhận thức của HS để bổ sung những khiếm khuyết, hệ thống

được nội dung trọng tâm của bài, góp phần hình thành, rèn luyện, bồi dưỡng kĩ năng cho

HS

Hạn chế của phương pháp: Công tác chuẩn bị của GV đòi hỏi nhiều trí tuệ, thời gian, mất nhiều công sức Mất nhiều thời gian khi tổ chức cho HS tham gia trò chơi Do

vậy khi thiết kế các trò chơi GV cần đảm bảo được sự cô đọng, đơn giản, dễ chơi nhưng

vẫn đảm bảo nội dung trọng tâm của tiết học Chủ yếu tiến hành trong các kiểu bài lý

thuyết

Trang 7

Dưới đây là là một số kiểu trò chơi mà bản thân tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng:

3.2.1 Trò chơi ô chữ

Áp dụng cho các bài lý thuyết

* Công tác chuẩn bị: GV căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài để biên soạn các câu hỏi trong trò chơi ô chữ GV thiết kế ô chữ trên giấy khổ A0 hoặc thiết kế trên

Powerpiont (có thể tham khảo tài liệu về cách thiết kế ô chữ trên Internet) Do thời gian

củng cố có hạn nên ô chữ chỉ nên có từ 7-9 hàng ngang Mỗi hàng ngang sẽ có một từ

khóa hoặc là một gợi ý để tìm ra ô chữ đặc biệt Ô chữ đặc biệt sẽ là một nội dung trọng

tâm nhất, kiến thức căn bản nhất của bài Biên soạn luật chơi, chuẩn bị các phần thưởng,

mẫu ô chữ và các công tác chuẩn bị khác HS chuẩn bị giấy trắng, bút hoặc bảng đen,

phấn để trả lời Để tăng thêm tính sinh động GV nên thiết kế ô chữ trên Powerpiont kết

hợp âm thanh, hình ảnh, video, flash…

* Công tác tổ chức:

Đối với GV: Chia lớp từ 4 đến 6 nhóm (đội) tùy vào số lượng HS từng lớp GV nêu ngắn gọn luật chơi, phần thưởng cho đội thắng cuộc nếu có (đối với tiết đầu tiên áp

dụng trò chơi này) Chọn một số thành viên ban cán sự lớp để hỗ trợ cho GV Cho đại

diện các nhóm lựa chọn các ô hàng ngang Đọc câu hỏi, nêu gợi ý nếu cần Công bố đáp

án sau khi hết thời gian qui định Tổng kết, đánh giá, phát thưởng

Đối với HS: HS các nhóm cử ra nhóm trưởng (đội trưởng) để đại diện nhóm (đội) lựa chọn câu hỏi và công bố câu trả lời bằng lời hoặc viết vào mẫu ô chữ Tích cực thảo

luận đóng góp, tìm đáp án

3.2.2 Thi hát ca khúc

Thường áp dụng cho một số bài lý thuyết mang tính giáo dục cho về lịch sử, truyền thống, trách nhiệm của HS như: Lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam; Lịch

sử, truyền thống của Quân đội và CAND Việt Nam; Thường thức phòng tránh một số

loại bom đạn, thiên tai; Luật nghĩa vụ quân sự và trách nhiệm của HS; Bảo vệ chủ quyền

lãnh thổ và biên giới quốc gia; Một số hiểu biết về nền QPTD, ANND; Tổ chức QĐ và

CAND Việt Nam, Luật sĩ quan QĐ và Luật CADN; Công tác phòng không nhân dân;

Trách nhiệm của HS với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia,…

* Công tác chuẩn bị:

Đối với GV: GV căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng, nội dung trọng tâm của tiết học hoặc của toàn bài để lựa chọn chủ đề và các bài hát có liên quan đến chủ đề Hướng

dẫn HS sưu tầm, tập dượt các bài hát Chuẩn bị âm thanh và các công tác chuẩn bị khác

Trang 8

Đối với HS: Sưu tầm, tìm hiểu, tập dượt các bài hát theo chủ đề đã được GV định hướng

* Công tác tổ chức:

Đối với GV: GV nêu chủ đề, khuyến khích, động viên HS trình bày các ca khúc phù hợp với chủ đề hoặc chính GV sẽ là người trình bày bài hát Yêu cầu HS nêu ý nghĩa

của bài hát GV bổ sung, phân tích các ca từ có ý nghĩa, có liên quan đến chủ đề

Đối với học sinh: Mạnh dạn, tự tin trình bày ca khúc theo chủ đề đã chuẩn bị Nêu

ý nghĩa của bài hát, tự liên hệ đến nội dung bài

3.3.3 Kết thúc bài giảng bằng phương pháp trò chơi quân sự

Đây là phương pháp đặc thù của bộ môn Áp dụng cho các nội dung thực hành như:

Đội ngũ từng người không có súng; Đội ngũ đơn vị; Cấp cứu ban đầu tai nạn thông

thường và băng bó vết thương; Kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK và súng trường CKC; Kỹ

thuật sử dụng lựu đạn; Kỹ thuật cấp cứu và chuyển thương; Các tư thế, động tác cơ bản

vận động trên chiến trường; Lợi dụng địa hình, địa vật Thường dùng để củng cố kĩ năng

cho từng tiết nhưng chủ yếu là cho toàn bài

Phương pháp này đặc biệt tạo ra sự hứng thú, phấn khích của HS trong tiết học, là một phương pháp củng cố bài nhẹ nhàng nhưng hiệu quả, rèn luyện cho HS các kĩ năng

quân sự và kĩ năng sinh hoạt tập thể

Tuy nhiên để thực hiện được phương pháp này đòi hỏi GV phải nắm vững mục tiêu, kiến thức trọng tâm của bài GV cũng cần có một số kĩ năng như: Kĩ năng thiết kế

trò chơi, kĩ năng quản trò, kĩ năng sinh hoạt tập thể,… GV phải mất thời gian, công sức

để thiết kế, tổ chức

* Công tác chuẩn bị:

Đối với GV: GV căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài để thiết kế trò chơi

Đảm bảo nguyên tắc đơn giản, dễ chơi, phù hợp với thời gian, đúng trọng tâm của bài (có

thể liên hệ với các kĩ năng quân sự HS đã được trang bị ở các tiết trước, bài trước, lớp

trước), phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của HS Biên soạn luật chơi, chuẩn bị vật chất,

thiết kế sân chơi, bãi tập, tập huấn đội mẫu (nếu cần), chuẩn bị phần thưởng (nếu có) và

các công tác chuẩn bị khác

Đối với HS: Nghiên cứu trước nội dung, tự rèn luyện các kĩ năng đã được GV hướng dẫn, chuẩn bị những vật chất do GV qui định Tham gia thảo luận đóng góp ý

kiến

Trang 9

* Công tác tổ chức: Thường củng cố vào cuối tiết học hoặc cuối bài GV phổ biến ngắn gọn luật chơi, giới thiệu điều kiện sân chơi bãi tập Chọn một số thành viên ban cán

sự lớp để hỗ trợ GV Sử dụng đội mẫu nếu cần Tiến hành theo kế hoạch Cuối trò chơi

GV đánh giá, sửa sai, tổng kết, phát thưởng

4 Áp dụng một số phương pháp cụ thể vào bài giảng

Ví dụ 1: Bài 3 - Bảo vệ chủ quyền và biên giới quốc gia

Để củng cố nội dung trọng tâm của bài “Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ biên giới quốc gia”, Tôi sử dụng

phương pháp củng cố bài bằng “Trò chơi ô chữ” Cách thức tiến hành cụ thể như sau:

* Công tác chuẩn bị: Dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của toàn bài và nội dung trọng tâm của bài học, tôi thiết kế bài giảng trên Powerpiont Phần củng cố bài tôi thiết kế

Trò chơi ô chữ với 7 ô hàng ngang, ô chữ đặc biệt có 7 chữ cái (Mẫu 1b) Biên soạn câu

hỏi, gợi ý cho mỗi ô hàng ngang Chuẩn bị khung Trò chơi ô chữ biên soạn trên Word, in

thành một số bảng (Mẫu 1a) để phát cho HS

* Công tác tổ chức: Tôi chia lớp thành 4 đội, chọn đội trưởng Chọn lớp trưởng, Bí thư chi đoàn trợ giúp Phát mẫu ô chữ cho các đội Phổ biến luật chơi: Mỗi đội được

quyền lựa chọn một ô chữ bất kì GV đọc câu hỏi và gợi ý, trong thời gian 15 giây toàn

đội suy nghĩ HS trả lời bằng giấy hoặc giành quyền trả lời bằng cách giơ tay (có thể sử

dùng cờ), mỗi câu trả lời đúng sẽ có một từ khóa in đậm xuất hiện Các từ khóa xuất hiện

không theo thứ tự Đội trả lời đúng được 10 điểm Trả lời sai mất quyền ưu tiên cho các

đội còn lại Trả lời xong 7 ô hàng ngang mới được giải ô chữ đặc biệt Ô chữ đặc biệt có

7 chữ cái (viết hoa không dấu) Phần thưởng có giá trị về tinh thần

* Tiến hành trò chơi trong 5-7 phút Kết thúc trò chơi GV tổng kết, nhận xét, qua

đó hệ thống lại các nội dung trọng tâm

Mẫu 1a Khung Trò chơi ô chữ

Trang 10

Câu hỏi gợi ý cho các ô hàng ngang như sau:

1 Hàng ngang số 1 có 7 chữ cái : Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện biện pháp

này trong giải quyết phân định biên giới?

2 Hàng ngang số 2 có 5 chữ cái: “……xây Trường Sa” là tên một phong trào do Báo

Tuổi trẻ và Trung ương Đoàn phát động”

3 Hàng ngang số 3 có 9 chữ cái: “Bộ đội ……là lực lượng nòng cốt trong quản lí, bảo vệ

biên giới quốc gia”

4 Hàng ngang số 4 có 8 chữ cái: “Sẵn sàng……” là yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang

chuyên trách trong quản lí bảo vệ biên giới quốc gia Đây còn là biện pháp bất khả

kháng để bảo vệ biên giới quốc gia

5 Hàng ngang số 5 có 7 chữ cái : Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta: “ Xây dựng,

quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia là trách nhiệm của…”

6 Hàng ngang số 6 có 7 chữ cái : Đây là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ biển đảo của

Tổ quốc

7 Hàng ngang số 7 có 7 chữ cái: Đây là quan điểm của Đảng, Nhà nước và là mong

muốn của nhân dân ta trong xây dựng biên giới với các nước láng giềng? Cũng là tên

của một của khẩu Quốc tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, trước đây còn có tên gọi là Ải

Nam Quan?

Ngày đăng: 10/10/2022, 15:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

NĂM HỌC KẾT QUẢ - (SKKN HAY NHẤT) một số phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong phần kết thúc bài giảng môn giáo dục quốc phòng   an ninh
NĂM HỌC KẾT QUẢ (Trang 13)
BẢNG 2: So sánh kết quả áp dụng SKKN - (SKKN HAY NHẤT) một số phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong phần kết thúc bài giảng môn giáo dục quốc phòng   an ninh
BẢNG 2 So sánh kết quả áp dụng SKKN (Trang 13)
Kết thúc bài bằng bảng so sánh  - (SKKN HAY NHẤT) một số phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong phần kết thúc bài giảng môn giáo dục quốc phòng   an ninh
t thúc bài bằng bảng so sánh (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w