1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp

215 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Mức Độ Ảnh Hưởng Của Các Yếu Tố Cấu Thành Trình Độ Tập Luyện Đối Với Thành Tích Thi Đấu Của Vận Động Viên Đội Tuyển Đá Cầu Tỉnh Đồng Tháp
Tác giả Phạm Việt Thanh
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Vinh, GS.TS Lê Nguyệt Nga
Trường học Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 5,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bàn luận về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thể lực, kỹ thuật, hình thái, tâm lý, chức năng đối với TTTĐ của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 119 3.3.. 3.14 Hệ số tương quan giữa các

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM VIỆT THANH

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN ĐỐI VỚI THÀNH TÍCH THI ĐẤU CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN ĐỘI TUYỂN ĐÁ CẦU TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM VIỆT THANH

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN ĐỐI VỚI THÀNH TÍCH THI ĐẤU CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN ĐỘI TUYỂN ĐÁ CẦU TỈNH ĐỒNG THÁP

Ngành: Giáo dục học

Mã số: 9140101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Quang Vinh

2 GS.TS Lê Nguyệt Nga

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Phạm Việt Thanh

Trang 4

MỤC LỤC Trang

1.1.1 Sự hình thành và phát triển môn đá cầu ở Việt Nam 4 1.1.2 Thành tích đã đạt được của đá cầu Việt Nam 6 1.2 Đặc điểm môn Đá cầu

1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật Đá cầu 1.2.2 Đặc điểm thể lực môn Đá cầu 1.2.3 Đặc điểm thi đấu môn Đá cầu 1.3 Các yếu tố cấu thành thành tích thi đấu môn Đá cầu 1.3.1 Yếu tố thể lực

1.3.2 Yếu tố kỹ thuật 1.3.3 Yếu tố chiến thuật 1.3.4 Yếu tố hình thái 1.3.5 Yếu tố tâm lý 1.3.6 Yếu tố chức năng 1.4 Cơ sở lý luận về đánh giá TĐTL của VĐV đá cầu 1.4.1 Tầm quan trọng việc đánh giá TĐTL của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

1.4.2 Quan điểm của các nhà khoa học về đánh giá TĐTL 1.4.3 Phương pháp kiểm tra, đánh giá TĐTL của VĐV đá cầu 1.5 Vài nét về đá cầu Đồng Tháp

1.6 Các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

53

Trang 5

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu liên quan 53

3.1 Xác định các tiêu chí về thể lực, kỹ thuật, hình thái, tâm lý, chức năng đánh giá TĐTL của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

thái, tâm lý, chưc năng đối với TTTĐ của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh

94

Trang 6

104

3.2.3 Bàn luận về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thể lực, kỹ thuật, hình thái, tâm lý, chức năng đối với TTTĐ của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

119

3.3 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá TĐTL cho VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

126

3.3.2 Xây dựng tiêu chuẩn phân loại các tiêu chí đánh giá TĐTL của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

HLTT Huấn luyện thể thao

Trang 8

DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG TRONG LUẬN ÁN

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các tiêu chí đánh giá TĐTL của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp Sau 73

3.2 Hệ số tin cậy các tiêu chí đánh giá TĐTL của nam VĐV đội

3.3 Hệ số tin cậy các tiêu chí đánh giá TĐTL của nữ VĐV đội tuyển

3.4

Hệ số tương quan giữa thành tích các tiêu chí đánh giá TĐTL với thành tích thi đấu của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Sau 75

3.5 Tổng hợp thành tích các tiêu chí đánh giá thực trạng TĐTL

3.6 Thành tích của nam VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 98 3.7 Thành tích của nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 99

3.8

Kiểm định phân phối chuẩn Shapyro – Winki các tiêu chí dùng

để đánh giá TĐTL của nam VĐV đội tuyển đá cầu Đồng Tháp (n=10)

Sau

102

3.9

Kiểm định phân phối chuẩn Shapyro – Winki các chỉ tiêu dùng

để đánh giá TĐTL của nữ VĐV đội tuyển đá cầu Đồng Tháp (n=9)

Sau

102 3.10 Bảng điểm thành tích các tiêu chí đánh giá TĐTL của nam vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Sau

102 3.11 Bảng điểm thành tích các tiêu chí đánh giá TĐTL của nữ vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 102 Sau

3.12 Bảng điểm trung bình các yếu tố đánh giá TĐTL của nam vận

động viên đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Sau

102

3.13 Bảng điểm trung bình các yếu tố đánh giá TĐTL của nữ vận

động viên đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Sau

102

Trang 10

3.14 Hệ số tương quan giữa các yếu tố đánh giá TĐTL của vận động

viên đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp với thành tích thi đấu 103

3.15 Mối tương quan giữa các tiêu chí đánh giá TĐTL của nam VĐV

đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Sau

104

3.16 Mối tương quan giữa các tiêu chí đánh giá TĐTL của nữ VĐV

đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Sau

107

3.17 Hệ số tương quan giữa các yếu tố với nhau và với thành tích thi

đấu của nam VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 111

3.18 Hệ số tương quan giữa các yếu tố với nhau và với thành tích thi

đấu của nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 113

3.19 Tỷ trọng ảnh hưởng () các yếu tố đánh giá TĐTL của VĐV đội

tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp với thành tích thi đấu 117 3.20 Bảng điểm thành tích theo khoảng giá trị từng tiêu chí đánh giá TĐTL của nam VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Sau

126 3.21 Bảng điểm thành tích theo khoảng giá trị từng tiêu chí đánh giá TĐTL của nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Sau

126

3.22 Bảng điểm phân loại tổng hợp TĐTL th o từng yếu tố của VĐV

3.23 Bảng điểm và phân loại TĐTL của nam vận động viên đội tuyển

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.1 So sánh mối tương quan giữa các yếu tố đánh giá TĐTL của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp với thành tích thi đấu 104 3.2

Tỷ lệ % số lượng hệ số tương quan ở từng mức độ của các tiêu chí đánh giá TĐTL cho nam VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

105

3.3 Tỷ lệ % mức độ tương quan giữa các tiêu chí trong từng yếu tố đánh giá TĐTL của nam VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 107 3.4

Tỷ lệ % số lượng hệ số tương quan ở từng mức độ của các tiêu chí đánh giá TĐTL cho nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

108

3.5 Tỷ lệ % mức độ tương quan giữa các tiêu chí trong từng yếu tố đánh giá TĐTL của nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 110 3.6 Tỷ lệ % số lượng hệ số tương quan ở từng mức độ của các yếu tố

đánh giá TĐTL cho nam VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 112 3.7 Tỷ lệ % mức độ tương quan giữa các yếu tố đánh giá TĐTL của

3.8 Tỷ lệ % số lượng hệ số tương quan ở từng mức độ của các yếu tố đánh giá TĐTL cho nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp 114 3.9 Tỷ lệ % mức độ tương quan giữa các yếu tố đánh giá TĐTL của

3.10 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến TTTĐ của nam VĐV đội

3.15 Tỷ lệ xếp loại nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp có tính

Trang 12

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Đá cầu là môn thể thao đối kháng khác sân, các tình huống cầu diễn ra liên tục với tốc độ nhanh Đặc điểm của môn đá cầu thể hiện chủ yếu qua các động tác được thực hiện bằng chân, đôi khi bằng ngực và đầu nhưng các động tác được thực hiện bằng chân đóng vai trò chủ đạo Các tình huống tấn công thường diễn ra trên lưới với nhiều động tác khó, nên thành tích thi đấu (TTTĐ) của môn đá cầu còn bị chi phối bởi các yếu tố quan trọng như: Thể lực, kỹ - chiến thuật, hình thái, tâm lý, chức năng

Trình độ tập luyện (TĐTL) là một phức hợp gồm nhiều thành tố y - sinh, tâm lý, kỹ - chiến thuật, thể lực, ngày càng được nâng cao nhờ ảnh hưởng trực tiếp lâu dài của lượng vận động (LVĐ) tập luyện và thi đấu cũng như các liệu pháp hỗ trợ ngoại sinh khác [37, tr 8] Trong thể thao hiện đại, việc kiểm tra đánh giá TĐTL của vận động viên (VĐV) có một vị trí vô cùng quan trọng trong quy trình huấn luyện nhiều năm cần phải được tiến hành toàn diện trên nhiều yếu tố

về hình thái, chức năng, tâm lý, các yếu tố về năng lực thể thao của từng VĐV

Qua đó giúp huấn luyện viên (HLV) có được những thông tin khoa học cần thiết, nhằm xây dựng kế hoạch huấn luyện phù hợp với từng VĐV, góp phần nâng cao TTTĐ

Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về TĐTL ở nhiều môn thể thao khác nhau của các tác giả, nhưng việc nghiên cứu tỷ trọng ảnh hưởng của từng yếu tố cấu thành TĐTL đến TTTĐ của VĐV thì chưa có nhiều tác giả quan tâm Đến nay chỉ có một vài tác giả nghiên cứu về tỷ trọng ảnh hưởng như:

Nguyễn Quang Vinh ở môn x đạp đường trường, Đàm Tuấn Khôi ở môn cầu lông, Trịnh Toán ở môn điền kinh Tuy nhiên, đối với môn đá cầu thì chưa có tác giả nào nghiên cứu về tỷ trọng ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành TĐTL đối với TTTĐ của VĐV

Trang 13

Ở Đồng Tháp cho đến nay chỉ có hai công trình nghiên cứu về tiêu chuẩn tuyển chọn và đánh giá TĐTL VĐV đá cầu, gồm luận văn cử nhân của Ngô Trần Thiên Hương và luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Vững Tuy nhiên, các công trình này chưa nghiên cứu đầy đủ các yếu tố cấu thành TĐTL, các tiêu chí kiểm tra đánh giá cũng chưa nhiều, chưa toàn diện nên việc kiểm tra đánh giá trước giờ chưa được áp dụng và chỉ dựa trên kinh nghiệm của HLV là chính, dẫn đến hiệu quả huấn luyện chưa tương xứng so với tiềm năng Vì vậy, việc xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá cũng như nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành TĐTL đến TTTĐ của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

sẽ giúp công tác kiểm tra đánh giá TĐTL của VĐV được khoa học và chính xác hơn, qua đó có được những thông tin khoa học làm cơ sở xây dựng cũng như điều chỉnh kế hoạch huấn luyện phù hợp với từng VĐV, góp phần nâng cao hiệu quả huấn luyện và TTTĐ Với tầm quan trọng đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập

luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp”

Mục đích nghiên cứu

Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành TĐTL đối với TTTĐ của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp Qua đó cung cấp những thông tin khoa học cần thiết cho HLV, nhà chuyên môn, góp phần nâng cao hiệu quả tập luyện và thi đấu cho VĐV Đá cầu

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu 1: Xác định các tiêu chí về thể lực, kỹ thuật, hình thái, tâm lý,

chức năng đánh giá TĐTL của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

- Tổng hợp các tiêu chí đánh giá TĐTL cho VĐV đá cầu từ các tài liệu, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

- Lựa chọn các tiêu chí đánh giá trình độ tập luyện của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Trang 14

- Phỏng vấn các HLV, chuyên gia và các nhà chuyên môn

- Kiểm nghiệm độ tin cậy và tính thông báo

- Đánh giá thực trạng trình độ tập luyện của VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu 2: Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thể lực, kỹ

thuật, hình thái, tâm lý, chức năng đối với thành tích thi đấu của VĐV đội tuyển

Mục tiêu 3: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá TĐTL cho VĐV đội tuyển đá

cầu tỉnh Đồng Tháp

- Xây dựng thang điểm C (thang điểm 10)

- Xây dựng tiêu chuẩn phân loại

- Xây dựng tiêu chuẩn tổng hợp có tính đến tỷ trọng ảnh hưởng của từng yếu tố đến thành tích thi đấu

- Kiểm nghiệm tiêu chuẩn đánh giá TĐTL của VĐV đội tuyển Đá cầu tỉnh Đồng Tháp

Giả thuyết khoa học

Trong thể thao hiện đại, việc xác định được các tiêu chí đánh giá TĐTL, đánh giá được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố thể lực, kỹ thuật, hình thái, tâm lý, chức năng đối với TTTĐ của VĐV có một vị trí vô cùng quan trọng

Đồng thời, nếu biết được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố cấu thành TĐTL đối với TTTĐ của VĐV cũng làm cơ sở khoa học cho HLV, nhà chuyên môn

thực hiện công tác huấn luyện phù hợp với từng VĐV, trong từng giai đoạn

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sự hình thành và phát triển môn đá cầu

1.1.1 Sự hình thành và phát triển môn đá cầu ở Việt Nam [55], [56], [67].

Đá cầu ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ các trò chơi dân gian như tâng cầu, chuyền cầu Đá cầu có một quá trình phát triển thăng trầm theo lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Thời Pháp thuộc, nhân dân ta sống trong cảnh cơ cực lầm than, những trò chơi dân gian không có điều kiện phát triển, nhưng do sự ham thích của các tầng lớp nhân dân nên trò chơi Đá cầu vẫn tồn tại và lưu truyền trong dân gian Trong thời kỳ này, những trò chơi dân gian bị thu hẹp lại nhường chỗ cho các môn thể thao hiện đại như: Đua x , đua thuyền, quyền anh, bóng đá

Từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX, môn Đá cầu đã từng bước được khôi phục và phát triển trở thành một môn thể thao dân tộc độc đáo nhờ rất nhiều cá nhân tâm huyết Trong đó, phải kể tới các ông: Nguyễn Khắc Viện, Đỗ Chỉ

Ngày 14/8/1985, bộ luật đầu tiên của môn Đá cầu ra đời, mặc dù còn đơn giản chưa đầy đủ, xong nó đánh dấu một bước ngoặc trong lịch sử phát triển của

Đá cầu, từ một trò chơi dân gian trở thành một môn thể thao dân tộc

Bắt đầu từ năm 1986, tổ chức giải Đá cầu đầu tiên: “Giải Đá cầu báo thiếu niên tiền phong lần thứ nhất” tổ chức tại Thị xã Bắc Giang Từ đây trở đi, giải

Đá cầu toàn quốc và khu vực hàng năm được tổ chức luân phiên tại nhiều địa phương trên cả nước

Năm 1990, Đá cầu được đưa vào là một môn thi đấu chính thức tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ 2 tại Hà Nội Từ năm này, Đá cầu có hệ thống thi đấu 2 giải lớn một năm đó là: Giải Đá cầu vô địch quốc gia và Giải Đá cầu vô địch trẻ và thiếu niên toàn quốc

Trang 16

Năm 1992, Đá cầu được đưa vào là môn thi đấu chính thức của ngày hội thể thao học đường, Hội khỏ Phù Đổng lần thứ III tại Đà Nẵng

Ngày 1/12/1993, để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh của môn đá cầu, Tổng cục TDTT đã ban hành luật đá cầu mới gồm 6 chương 32 điều, trong luật

đã nêu cụ thể những qui định về môn thể thao đá cầu như sân thi đấu đơn (dài 13,00m, rông 5,00m), sân đôi (dài 13,00m, rộng 6,00m), chiều cao của lưới:

Lưới cao 1,50m cho VĐV nam từ 16 tuổi trở lên, lưới cao 1,30m cho VĐV nữ, VĐV nam từ 15 tuổi trở xuống và VĐV ở các lứa tuổi khi đá đôi nam nữ

Năm 1999, giải Đá cầu Quốc tế được tổ chức tại Hà Nội, thành lập Liên đoàn Đá cầu thế giới ISF Cũng trong năm 1999, Việt Nam ban hành luật sửa đổi bổ sung lần thứ nhất, đưa nội dung đá đội 3 người vào, tăng nội dung Đá cầu lên 7 nội dung Bắt đầu áp dụng vào giải vô địch toàn quốc tại Đà Nẵng

Năm 2001, tại giải vô địch quốc gia tổ chức tại Đồng Tháp, thay quả cầu

201, quả cầu do tác giả Vạn Ngọc - giảng viên Đại học Mỹ thuật Hà Nội làm ra, tăng kịch tính trong trận đấu

Năm 2002, sửa đổi bổ sung luật Đá cầu lần thứ 2, làm rõ hơn 1 số điều trong luật Cũng trong năm 2002, mở 2 lớp tập huấn trọng tài đầu tiên tại Từ Sơn (Bắc Ninh) và Đồng Tháp

Năm 2003, Đá cầu được đưa vào Đại hội thể thao khu vực Đông Nam Á (Seagame) tại Vĩnh Phúc, Việt Nam giành 7/7 bộ huy chương, góp phần vào thành công của đoàn thể thao Việt Nam

Năm 2006, tổ chức Giải Đá cầu vô địch đồng đội toàn quốc (đồng đội nam và đồng đội nữ), đưa nội dung thi đấu của Đá cầu lên 9

Năm 2007, hướng tới mục tiêu phát triển môn Đá cầu trên thế giới, luật

2007 ra đời, luật này áp dụng gần như 100% luật quốc tế Chính thức áp dụng tại giải vô địch toàn quốc 2007 tại Thừa Thiên Huế

Tháng 8/2009, đá thử nghiệm nội dung đồng đội đôi trong giải vô địch đồng đội tại Bắc Giang, đưa số nội dung thi đấu của môn Đá cầu lên 10

Trang 17

Tháng 11/2009, Đá cầu được đưa vào thi đấu chính thức tại Đại hội thể thao Châu Á trong nhà AIG tổ chức tại Hà Nội

Năm 2013 giải Vô địch đá cầu Thế giới lần thứ VII lần đầu tiên được Việt Nam đăng cai, tổ chức tại tỉnh Đồng Tháp

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, hiện nay phong trào tập luyện và thi đấu môn Đá cầu đang ngày càng phát triển rộng khắp trong cả nước Nó là

môn học được đưa vào chương trình học chính khóa cho học sinh, sinh viên

1.1.2 Thành tích đã đạt được của Đá cầu Việt Nam

Tính đến thời điểm năm 2017 thì giải Vô địch Đá cầu thế giới đã được tổ chức 9 lần, lần đầu vào năm 2000 tại Hungary Được xem là một trong những cái nôi của đá cầu thế giới, vì thế qua cả 9 lần tổ chức Việt Nam đều giành ngôi

vị nhất toàn đoàn

Ngoài ra, đội tuyển đá cầu Việt Nam còn xếp nhất toàn đoàn tại S a Gam s 22 tổ chức tại Việt Nam, S a Gam s 25 tại Lào, As an Indoorgam 2009

và Đại hội Thể thao bãi biển Chấu Á tại Đà Nẵng 2016

1.2 Đặc điểm môn Đá cầu

1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật đá cầu

Đá cầu là môn thể thao đối kháng, ngăn cách bởi lưới, trong thi đấu VĐV

được sử dụng các bộ phận của cơ thể (trừ 2 tay) để điều khiển quả cầu theo luật quy định Các tình huống diễn ra trên sân thi đấu rất đa dạng, phức tạp, nên VĐV phải được trang bị những kỹ thuật cơ bản nhằm đáp ứng các yêu cầu trong

Trang 18

tạo điều kiện cho mình giành điểm gián tiếp Các bài tập phát cầu thường được

sử dụng trong huấn luyện kỹ thuật phát cầu: Phát cầu vào hai khoảng phía trên, dưới của khu vực đỡ cầu; Phát cầu tr o về phía cuối sân; Phát cầu vào 4 góc của

ô đỡ phát cầu; Phát cầu có đồng đội ch cầu; Phối hợp phát cầu giữa hai vận động viên cùng đội

Kỹ thuật đá đùi [65, tr 11]

Là một trong những kỹ thuật cơ bản của đá cầu, trong đó vận động viên

sử dụng phần diện tích mặt trên của đùi, khoảng 1/3 từ đầu gối tới háng để tiếp xúc và điều khiển những đường cầu bay ngang tầm với bụng, phía trước cơ thể

Kỹ thuật này chủ yếu được sử dụng trong phòng ngự của đá đơn, đá đôi

và được thực hiện ở 3 dạng chính sau: Đỡ cầu; Chuyền cầu; Tâng cầu nhịp một

để tấn công

Kỹ thuật đỡ ngực [65, tr 18]

Đây là kỹ thuật sử dụng phần diện tích trước ngực để khống chế đường cầu của đối phương đá sang ở tâm trên hông và dưới đầu, hoặc để chắn những đường cầu khi đối phương cúp cầu, vít cầu ở sát trên lưới Đôi khi trong những tình huống bất ngờ có thể sử dụng trong tấn công, song không nhiều và hiệu quả không cao

Trong thi đấu, kỹ thuật đỡ ngực thường được sử dụng th o các dạng sau:

Đỡ cầu bằng ngực; Chắn cầu bằng ngực; Đánh ngực tấn công

Kỹ thuật đá má trong [65, tr 25]

Là kỹ thuật dùng má trong bàn chân (phần diện tích hình tam giác mà ba đỉnh là ngón cái, mắt cá trong và gót chân) để tiếp xúc và điều khiển cầu, khi cầu rơi vào khoảng giữa của hai chân và phía dưới bụng Trước đây khi trình độ

đá cầu của các vận động viên còn thấp, kỹ thuật này được sử dụng cả trong phòng thủ lẫn tấn công Song ngày nay, do tốc độ quả cầu đi chậm hơn, việc thực hiện kỹ thuật lại phức tạp, tốn sức, tính hiệu quả không cao, nên kỹ thuật này ít được sử dụng trong thi đấu Hơn nữa hiện nay phần lớn các vận động viên

Trang 19

sử dụng giầy da lộn trong thi đấu, do đó mà phần má trong không được bằng phẳng và rộng như mu bàn chân

Kỹ thuật đá má trong được sử dụng chủ yếu trong phòng ngự để: Tâng cầu, chuyền cầu

Kỹ thuật đá má ngoài [65, tr 30]

Là kỹ thuật dùng má ngoài để tiếp xúc Do diện tích tiếp xúc nhỏ và khi

đá khó tạo được góc vuông với hướng cầu bay tới, nên kỹ thuật này ít được sử dụng trong phòng thủ

Đây là kỹ thuật được sử dụng chủ yếu trong tấn công nên khi huấn luyện, huấn luyện viên cần chú trọng đến phần này Trong tập luyện, ở lần chạm cầu thứ nhất được phép sử dụng các kỹ thuật đỡ cầu bằng đùi, ngực, má trong, má ngoài, nhưng khi đá sang sân đối phương bắt buộc phải đá cầu bằng kỹ thuật đá

má ngoài

Kỹ thuật đá mu bàn chân [65, tr 34]

Là kỹ thuật sử dụng phần diện tích lớn ở mu bàn chân hoặc nếu đi giầy là phần diện tích mặt trên của giầy để tiếp xúc và xử lý cầu ở các vị trí khác nhau trên sân Trong đá cầu, đây là kỹ thuật cơ bản nhất, phức tạp nhất, được sử dụng nhiều nhất và đạt hiệu quả cao nhất cả trong phòng thủ lẫn tấn công

Trong thi đấu, tùy th o mục đích sử dụng và tư thế khi đá có thể chia kỹ thuật đá mu thành các dạng chính sau: Đá phát cầu, búng cầu, giật cầu, đá chuyền cầu, tâng cầu nhịp một để tấn công, đá tấn công bằng mu chính diện, bật nhảy dùng mu bàn chân đá cầu, đá móc, cúp cầu

Kỹ thuật đánh đầu [65, tr 48]

Đây là kỹ thuật sử dụng phần diện tích của trán để tiếp xúc và điều khiển cầu khi cầu bay ở độ cao từ trán trở lên Kỹ thuật này được sử dụng khá hiệu quả trong cả phòng thủ lẫn tấn công dứt điểm

Trong thi đấu, kỹ thuật đánh đầu giúp cho vận động viên đỡ bị tổn hao sức lực đối với những đường cầu cao bổng ở tầm ngang đầu Nếu như VĐV

Trang 20

không sử dụng kỹ thuật đánh đầu thì phải lùi về sau để sử dụng kỹ thuật đỡ ngực

và như thế vận động viên phải di chuyển nhiều dẫn đến mệt mỏi nhanh, hơn nữa việc thực hiện kỹ thuật đánh đầu còn giúp cho vận động viên có thể quan sát được đối phương vì mặt luôn hướng về phía lưới, đây chính là điểm hết sức thuận lợi trong thi đấu

Kỹ thuật đá lòng bàn chân [65, tr 54]

Đây là kỹ thuật dùng lòng bàn chân để tiếp xúc và điều khiển cầu ở khu vực gần lưới và cao khoảng 1,5m đến 1,6m Kỹ thuật này chỉ sử dụng trong tấn công, chủ yếu trong đá đơn, ở lần chạm cầu thứ hai và là kỹ thuật khó, phức tạp nhất

1.2.2 Đặc điểm thể lực môn Đá cầu

Khi thi đấu đá cầu đòi hỏi VĐV phải vừa quan sát, di chuyển dùng chân điều khiển quả cầu theo ý muốn với những đường cầu nhanh và biến hóa nên đòi hỏi VĐV không chỉ có kỹ - chiến thuật hoàn chỉnh, mà phải có thể lực tốt Vì vậy, phát triển các tố chất thể lực một cách toàn diện cho VĐV đá cầu là quan trọng và cần thiết

Trong tập luyện và thi đấu Đá cầu, sức nhanh là một tố chất cơ bản Nó thể hiện ở những đường cầu với tốc độ nhanh biến hóa điểm rơi, nên đòi hỏi người tập khi vận động phải có phản xạ tốt Đá cầu là một môn thể thao không có tính chu kỳ nên quá trình phản ứng để phòng thủ cũng như khi tấn công là phụ thuộc vào sức nhanh của động tác Quan trọng nhất là sức nhanh khi di chuyển để thực hiện được kỹ thuật động tác được kịp thời

Đặc điểm tập luyện và thi đấu Đá cầu, là VĐV luôn phải di chuyển liên tục với tốc độ cao trong phạm vi diện tích sân của mình bằng các bước chạy, bật nhảy, cùng với việc phối hợp các động tác đá cầu hợp lý, nhanh, mạnh để thực hiện ý đồ chiến thuật,… Vì vậy, sức mạnh trong thi đấu đá cầu được thể hiện trong các động tác bật nhảy cúp cầu, quét cầu (đạp cầu), tạt cầu, đặc biệt là khi

di chuyển, sức mạnh thể hiện ở sự tham gia của nhóm cơ chi dưới, giúp cơ thể di

Trang 21

chuyển đến vị trí cầu rôi một cách kịp thời Từ đó có thể thấy rằng, sức mạnh được sử dụng trong thi đấu Đá cầu thường là sức mạnh tốc độ

Sức bền trong thi đấu Đá cầu có những đặc trưng riêng, hoạt động tập luyện và thi đấu Đá cầu đòi hỏi người tập phải thường xuyên di chuyển nhanh, phán đoán nhanh và phải thường xuyên di chuyển liên tục để đón đỡ cầu của đối phương Ngoài ra, hoạt động thi đấu Đá cầu được đá th o hiệp, thời gian cho mỗi hiệp đấu là không cố định Vì vậy, sức bền trong thi đấu đá cầu cũng rất

quan trọng

1.2.3 Đặc điểm thi đấu môn Đá cầu

Đá cầu là môn thể thao đối kháng khác sân, vừa mang tính cá nhân vừa

mang tính tập thể: đá đơn, đá đôi, đá ba Một trận thi đấu đá cầu diễn ra rất phức tạp và sôi nổi, với các tình huống cầu đi nhiều hướng, với tốc độ cao khó lường, đòi hỏi các vận động viên phải biết phối hợp ăn ý với nhau, có khả năng bao quát,

xử lý các tình huống hết sức nhạy cảm, chính xác và thông minh Đồng thời phải được trang bị trình độ kỹ thuật điêu luyện, thể lực tốt, chiến thuật hợp lý cùng trạng thái tâm lý vững vàng mới có thể được kết quả cao

Theo thời gian, đặc điểm thi đấu môn đá cầu có nhiều thay đổi, từ cách thức thực hiện kỹ thuật động tác, lối chơi, nội dung thi đấu, cấu tạo quả cầu cũng như luật chơi cũng thay đổi th o hướng tiến bộ

Đến thời điểm hiện tại, đã có 10 nội dung thi đấu môn đá cầu Nhưng chung quy lại có 3 loại hình thi đấu: Thi đấu đơn, thi đấu đôi và thi đấu ba

- Thi đấu đơn: [45, tr16]

+ Trước năm 1986:

Là giai đoạn phát triển tự nhiên của đá cầu, các kỹ thuật được sử dụng trong thi đấu còn rất đơn giản Bước đầu có những quy định về cách thức tổ chức thi đấu nhưng chỉ ở mức cơ bản, chưa được luật hóa một cách cụ thể Lúc này chưa có sân thi đấu, địa điểm tổ chức được người chơi tự thống nhất nhưng thường là ngoài trời Chưa có hệ thống tính điểm, chỉ dựa vào số lần tâng cầu để

Trang 22

quyết định thắng thua Nội dung thi đấu trong giai đoạn này chưa phong phú, chỉ thi đấu giữa các cá nhân với nhau

+ Sau năm 1986:

Sau năm 1986 phong trào đá cầu đã phát triển, những quy định về luật chơi đầu tiên được luật hóa và người chơi phải tuân thủ theo những quy định của luật, từ đó giúp đá cầu bắt đầu hoàn thiện và phát triển Đến thời điểm hiện tại, luật đá cầu đã được sửa đổi và ban hành 3 lần vào các năm 1993, 1999 và 2007

Lúc này đã có quy định về kích thước sân, địa điểm được tổ chức trong nhà thi đấu, cấu tạo quả cầu, cách tính điểm theo luật quy định, hình thức tổ chức thi đấu (cá nhân đơn nam, từ năm 1990 mới có nữ Trong giai đoạn này cũng quy định các lứa tuổi cụ thể cho từng nội dung thi đấu

- Thi đấu đôi: [45, tr17]

+ Trước năm 1986:

Giống như thi đấu đơn, trước năm 1986 các kỹ thuật dùng trong thi đấu đôi cũng rất đơn giản, chỉ đá qua lại lưới giữa đôi này với đôi kia hoặc tâng cầu giữa hai người này với hai người kia tính số lần Địa điểm thi đấu ngoài trời, chưa có nhà thi đấu, hình thức thi đấu do các bên tự thống nhất Các quy định về cách tính điểm, kích thước sân, quả cầu, hình thức chơi vẫn chưa được luật hóa

+ Sau năm 1986:

Từ năm 1986 phong trào đá cầu phát triển, giải đá cầu đầu tiên được tổ chức, luật chơi được hình thành, từ đây các kỹ thuật mới được sử dụng trong thi đấu đã mở ra thời kỳ phát triển cho môn đá cầu Giai đoạn này luật hoàn chỉnh

đã được ban hành và sửa đổi 3 lần: năm 1993, 1999 và 2007 Từ đó có những quy định về chiều cao lưới cho từng lứa tuổi, kích thức quả cầu, kích thước sân thi đấu, cách thức tính điểm Từ năm 1990 có nữ thi đấu, nên ngoài các nội dung đơn nam, đơn nữ còn có đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ, làm phong phú thêm các nội dung thi đấu

Trang 23

- Thi đấu ba: [45, tr19]

+ Trước năm 1986:

Cũng giống như thi đấu đơn, thi đấu đôi Thi đấu ba người thời kỳ trước

1986 các kỹ thuật chưa phát triển, chỉ ở mức đơn giản Các quy định về luật chưa được quy định cụ thể, nên chủ yếu do các bên tự thống nhất với nhau để chơi

+ Sau năm 1986:

Luật năm 1999 lần đầu tiên áp dụng luật đá 3 người Từ năm 1993 đến nay

có nội dung thi đấu đồng đội nam và đồng đội nữ Năm 2006 lần đầu tổ chức giải đồng đội nam và đồng đội nữ riêng với giải vô địch quốc gia

Nhìn chung sau năm 1986 phong trào tập luyện và thi đấu môn đá cầu đã phát triển, nên hình thành mới các kỹ thuật động tác cũng như tu duy chiến thuật như: Kỹ thuật búng cầu, giật cầu, quét cầu, phát cầu cao nghiêng mình, chủ động đưa cầu lên lưới để tấn công

Tóm lại, thi đấu đá cầu có những đặc điểm sau:

Trong thi đấu người chơi đều phải tuân thủ th o qui định đã thống nhất (trước đây) và phục tùng theo luật (hiện nay)

Là môn thi đấu đối kháng cách lưới, người chơi chủ yếu dùng chân để điều khiển quả cầu (không được dùng tay)

Không qui định thời gian cho trận đấu - mà phụ thuộc vào trình độ chuyên môn kỹ chiến thuật của VĐV tham gia thi đấu giữa các đội

Các động tác kỹ thuật được sử dụng trong tấn công và phòng thủ rất đa dạng, phong phú, có đặc trưng nhanh, mạnh, linh hoạt, biến hóa Kỹ-chiến thuật luôn luôn được đổi mới và phát triển thích ứng với thực tiễn, với luật

1.3 Các yếu tố cấu thành thành tích thi đấu môn Đá cầu

Đặc điểm của môn đá cầu thể hiện chủ yếu qua các động tác được thực hiện bằng chân, đôi khi bằng ngực và đầu nhưng các động tác được thực hiện bằng chân đóng vai trò chủ đạo Các tình huống tấn công thường diễn ra trên

Trang 24

lưới với nhiều động tác khó, vì vậy để tấn công hiệu quả đòi hỏi VĐV phải hội

đủ nhiều yếu tố

Cũng giống như hầu hết những môn thể thao khác, ngoài các yếu tố về hệ thống đào tạo, các điều kiện đảm bảo, năng khiếu cá nhân thì thành tích thi đấu của môn đá cầu còn bị chi phối bởi các yếu tố quan trọng như: Thể lực, kỹ - chiến thuật, hình thái, tâm lý, chức năng,

Các yếu tố này có quan hệ qua lại tương trợ cho nhau Nếu một VĐV được chuẩn bị tốt về mặt kỹ - chiến thuật, thể lực nhưng không chuẩn bị về mặt tâm lý thì TTTĐ cũng sẽ không cao và ngược lại Vì vậy, khi nói đến thành tích môn đá cầu là nói đến kết quả huấn luyện về nhiều mặt: Thể lực, kỹ - chiến thuật, hình thái, tâm lý, chức năng

1.3.1 Yếu tố thể lực

Trong HLTT, ngoài trình độ kỹ - chiến thuật, tâm lý, đạo đức, ý chí thì thể lực là một trong những yếu tố quyết định TTTT Thể lực của mỗi người phụ thuộc vào năng lực vận động và tố chất thể lực, gọi chung là năng lực thể lực

Năng lực thể lực càng cao, thì hoạt động vận động càng hoàn thiện và TTTT càng cao Thật vậy, quá trình hình thành và phát triển các tố chất thể lực luôn có quan hệ chặt chẽ với sự hình thành các kỹ năng vận động và mức độ phát triển của các cơ quan trong cơ thể Mức độ phát triển các các tố chất thể lực phụ thuộc vào trạng thái cấu tạo và chức năng của nhiều cơ quan và hệ thống của cơ thể Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực cũng chính là quá trình phát triển và hoàn thiện các hệ chức năng đóng vai trò chủ yếu trong một loại hoạt động cơ bắp cụ thể [18, tr 321]

Trong đá cầu, việc huấn luyện thể lực đóng một vai trò hết sức quan trọng, vì đó là nền tảng để vận động viên phát huy được tối đa trình độ kỹ thuật

và chiến thuật trong thi đấu Không được huấn luyện đầy đủ về mặt thể lực thì

dù VĐV đá cầu có kỹ thuật tốt, cũng không thể đạt được thành tích cao trong thi đấu [65, tr101]

Trang 25

Thể lực là một yếu tố vô cùng quan trọng trong tập luyện và thi đấu đá cầu, đặc biệt là thể lực chuyên môn mà đặc trưng là yếu tố sức bền tốc độ và sức mạnh bền Vì khi được đảm bảo về mặt thể lực đặc biệt là thể lực chuyên môn thì VĐV sẽ thực hiện được các bước di chuyển trên sân một cách nhanh và tốt nhất Qua đó, giúp VĐV có thể đến được vị trí cầu rơi sớm hơn và điều khiển quả cầu cũng như xử lý tình huống cầu đạt hiệu quả cao nhất

Từ đó ta thấy, môn đá cầu đòi hỏi nhiều gắng sức có cường độ cao và một thể lực tuyệt vời, đó là điều rất cần thiết nếu ta muốn tiếp cận thi đấu ở bất kỳ trình độ nào nếu muốn đạt được thành tích cao Trình độ thể lực của vận động viên đá cầu biểu thị tình trạng chức năng của cơ thể và đặc biệt nó thể hiện ở các

tố chất thể lực: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động (khéo léo)

và trái lại thì động tác thì tương đối chậm hoặc ngược lại Sự kết hợp 3 hình thức

đã nêu trên xác định mọi trường hợp biểu hiện sức nhanh [17], [53]

Th o Dương Hữu Thanh Tuấn và cộng sự (1995) thì sức nhanh là tố chất thể lực quan trọng hàng đầu của VĐV đá cầu Không có sức nhanh, VĐV sẽ không thể phản ứng kịp thời trước các đường cầu tấn công nhanh của đối phương, không thể di chuyển kịp thời đến các vị trí thuận lợi và cần thiết để cứu

Trang 26

cầu, chỉnh cầu đồng thời cũng không thể tấn công chớp nhoáng sang sân đối phương giành điểm [65, tr104]

Đặc trưng của sức nhanh trong đá cầu là khi thi đấu VĐV phải vận động với LVĐ cao do di chuyển trong những tình huống cầu giằng co, kéo dài, cũng như luân phiên thực hiện liên tục giữa những động tác phản xạ đỡ cầu và tấn công lại khi đối phương tấn công qua lưới

Trong thi đấu đá cầu yếu tố phản xạ cũng vô cùng quan trọng Đặc điểm của đá cầu là môn thể thao có các đường cầu nhanh và phức tạp đòi hỏi VĐV phải có khả năng phản ứng nhanh và đưa ra quyết định kịp thời với các đường cầu tốc độ của đối phương; Khả năng phản xạ tốt sẽ giúp VĐV phản ứng kịp thời với các đường cầu, qua đó xử lý tính huống cầu một cách tốt nhất

Tóm lại: yếu tố sức nhanh đánh giá TĐTL của VĐV đá cầu là khả năng phản xạ và di chuyển nhanh trên sân

Sức mạnh:

Là khả năng con người sinh ra lực cơ học bằng nỗ lực của cơ bắp, nói cách khác là khả năng sức mạnh khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng nổ lực của cơ bắp [17]

Muốn phát triển sức mạnh phải khắc phục hai loại sức cản là sức cản trong và sức cản ngoài Sức cản trong bao gồm: Cơ đối kháng, sức ỳ, độ nhớt dính của cơ Sức cản ngoài bao gồm: Trọng lực, lực ma sát, sức cản không khí, sức cản nước [53] Tố chất sức mạnh được chia thành sức mạnh tối đa (sức mạnh tuyệt đối), sức mạnh tương đối, sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền Sức mạnh còn chia làm hai loại động lực và tĩnh lực

Sự phát triển tố chất mạnh có liên quan đến sự phát triển của hệ thần kinh

và mức độ hình thành tổ chức xương cơ và dây chằng, tức là phụ thuộc vào bộ máy vận động Nhưng ở các bộ phận khác nhau của cơ thể sự phát triển tố chất mạnh không giống nhau Sức mạnh lưng bụng phát triển sớm Học sinh tiểu học phát triển nhanh sức mạnh tốc độ, sức mạnh tĩnh lực phát triển chậm, còn sức

Trang 27

mạnh bột phát sau 14 tuổi mới phát triển nhanh Ngoài ra tỷ lệ sức mạnh giữa các nhóm cơ thay đổi tuỳ th o lứa tuổi Sức mạnh của các nhóm cơ duỗi thân mình, đùi, cơ co bàn chân phát triển mạnh, trong khi các nhóm cơ như duỗi bàn tay, cẳng tay, cổ tay phát triển yếu hơn, do đó mỗi lứa tuổi lại có một tỷ lệ phân bổ sức mạnh giữa các nhóm cơ đặc trưng của mình Về nguyên tắc, sức mạnh của các cơ duỗi phát triển nhanh hơn sức mạnh của các cơ co, các cơ hoạt động nhiều sẽ phát triển với nhịp độ nhanh hơn Sức mạnh cơ bắp phát triển với nhịp độ nhanh trong giai đoạn từ 13 – 15 đến 16 – 17 tuổi Các năm sau đó sức mạnh phát triển chậm lại (nếu không có tập luyện đặc biệt) Tuy nhiên, do hiện tượng phát triển sớm một số nhóm cơ có thể phát triển sức mạnh ngay từ 12 – 13 tuổi, đặc biệt là các nhóm cơ chân Do đó, cần phải sắp xếp hợp lý các bài tập phát triển sức mạnh; phát triển tốt nhất là trong thời kỳ mẫn cảm sức mạnh Các bài tập sức mạnh đó chỉ nhằm phát triển thể lực toàn diện không nên dùng các bài tập sức mạnh chuyên môn Việc phát triển tố chất mạnh cho thanh thiếu niên cần được chú ý ở lứa tuổi 14 và được đẩy mạnh ở lứa tuổi 18 – tương ứng với thời gian hoàn thiện hệ cơ quan vận động [17], [53]

Sức mạnh trong đá cầu luôn có mối quan hệ với kỹ thuật và các tố chất thể lực khác như sức nhanh, sức bền và tố chất mềm dẻo Do đó năng lực sức mạnh rất có ý nghĩa trong việc học tập và hoàn thiện kỹ thuật, đồng thời sức mạnh bột phát đóng vai trò quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV Sức mạnh của VĐV đá cầu được thể hiện tiêu biểu ở kỹ thuật cúp cầu, phát cầu đặc biệt là khả năng phát lực ở thời điểm tiếp xúc cầu [58, tr25]

Trong đá cầu, do trọng lượng quả cầu nhỏ và hai bên thi đấu ở hai phần sân riêng biệt, không có sự va chạm, nên so với các môn thể thao khác như vật, bóng đá yêu cầu về sức mạnh không cao lắm Tuy vậy, vận động viên đá cầu cũng cần có sức mạnh tốc độ, đặc biệt ở các nhóm cơ đùi, cơ cẳng chân, cơ lưng, cơ bụng tốt để có thể thực hiện những ký thuật tấn công bằng cúp cầu, vít cầu, xiết cầu [65, tr103]

Trang 28

Sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền trong đá cầu, được thể hiện trong những tình huống VĐV phải di chuyển nhanh và liên tục đến các vị trí cầu rơi ở

xa, khi đó các cơ phải hoạt động nhiều với LVĐ cao và kéo dài Vì vậy, muốn thi đấu đạt hiệu quả cao thì VĐV cần phải được trang bị sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền tốt

Để phát triển sức mạnh trong đá cầu, hiện nay các HLV thường sử dụng các bài tập: Bật nhảy bằng một chân và hai chân lên các bậc cao (bước bục), nhảy lò cò từng chân lên các đoạn 30 - 50m, nhảy cóc (ngồi sau bật lên) 30 - 50cm, nhảy dây ở tư thế đứng hoặc ngồi xổm, nhảy tại chỗ, với tạ gánh có trọng lượng nhỏ và trung bình nhằm phát triển sức mạnh các nhóm cơ đùi, cẳng chân

và bàn chân, tập vít cầu, cúp cầu, xiết cầu, miết cầu với lực mạnh, sao cho quả cầu bay sang sân đối phương nhanh mạnh và phát ra tiến kêu gọn, đanh [65, tr103-104]

Tóm lại: yếu tố sức mạnh đánh giá TĐTL VĐV đá cầu là sức mạnh tốc độ

và sức mạnh bền với các tiêu chí như: Nhảy dây, bật cao, bật xa, di chuyển nhanh trên sân kéo dài

Sức bền:

Là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được Nói một cách khác tố chất bền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó [17], [53] Sức bền của con người do nhiều nguyên nhân quyết định, đặc biệt là do các tố chất và hoạt động của hệ thần kinh trung ương Để có sức bền các VĐV phải rèn luyện không chỉ với cơ quan vận động, các cơ quan hô hấp, tuần hoàn mà cả ý chí và nghị lực

Căn cứ trên cường độ, thời gian hoạt động và cơ chế cung cấp năng lượng, sức bền được chia thành 3 loại sau:

Sức bền trong thời gian dài: là sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly mà VĐV cần trong thời gian trên 11 phút với tốc độ chạy không giảm về cơ bản Ví

Trang 29

dụ như bơi 1.500m, chạy maratông Thành tích sức bền này chủ yếu dựa trên năng lực hoạt động của hệ thống cung cấp năng lượng ưa khí

Sức bền trong thời gian trung bình: là sức bền cần thiết để vượt qua một

cự ly mà VĐV cần khoảng từ 2 đến 11 phút Thành tích này dựa trên năng lực hoạt động của hai hệ thống cung cấp năng lượng ưa khí và yếm khí

Sức bền trong thời gian ngắn: là sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly

mà VĐV cần khoảng từ 45 giây đến 2 phút Thành tích sức bền này dựa trên năng lực hoạt động của hai hệ thống cung cấp năng lượng yếm khí

Trong đá cầu, sức bền đặc biệt là sức bền tốc độ, có vai trò quan trọng và ảnh hưởng không nhỏ tới TTTĐ không chỉ trong từng trận, mà trong toàn bộ thời gian của giải Ở những cuộc thi đấu lớn, nhiều khi VĐV phải tham gia thi đấu ở cả 4 nội dung: đồng đội, đôi, đơn, đôi nam - nữ và khi càng vào sâu, thì các trận đấu càng trở nên căng thẳng, quyết liệt, tốn sức, vì thế nếu việc huấn luyện sức bền tốt sẽ giúp vận động viên không bị xuống sức, giữ được phong độ thi đấu và đạt được thành tích cao [65, tr105]

Trong tập luyện và thi đấu đá cầu, VĐV phải duy trì sự ổn định hiệu quả thực hiện các kỹ thuật đá một cách chính xác, có điểm rơi và lực, thông qua sự

nổ lực, ý chí quyết tâm giành thành tích cao nhất trong thi đấu [58, tr26]

Để phát triển sức bền đặc biệt là sức bền tốc độ cần sử dụng các bài tập sau: Chạy 2000 - 5000m với tốc độ đều, chạy biến tốc 3000 - 5000m, chạy lặp lại nhiều lần các đoạn tăng tốc độ 30 - 50m, thực hiện liên tục nhiều lần các động tác đánh cầu, cúp, vít cầu, tập di chuyển nhanh trên sân th o sự điều khiển của HLV trong khoảng 2 - 10 phút, tập đấu đối kháng nhiều hiệp trong thời gian dài [65, tr105-106]

Qua trên ta thấy sức bền trong môn đá cầu có quan hệ chặt chẻ với quá trình cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động Từ đó, yếu tố sức bền đánh giá TĐTL VĐV đá cầu là sức bền tốc độ và sức mạnh bền với các tiêu chí đánh giá

Trang 30

như: Chạy cự ly dài, chạy lặp lại nhiều lần cự ly ngắn, di chuyển nhanh trên sân nhiều lần

Mềm dẻo:

Độ mềm dẻo là khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối

đa của động tác là thước đo độ mềm dẻo [17]

Có hai loại mềm dẻo: độ mềm dẻo tích cực và độ mềm dẻo thụ động Độ mềm dẻo tích cực là khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ

sự nổ lực của cơ bắp

Mềm dẻo thụ động là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ tác động của ngoại lực như: trọng lượng của cơ thể Lực ấn, ép của HLV hoặc bạn tập

Năng lực mềm dẻo phụ thuộc vào đàn tính của cơ bắp và dây chằng Tính chất đàn hồi cao của bộ máy vận động và sự phát triển chưa ổn định của hệ thống xương, khớp trong lứa tuổi thiếu niên là điều kiện rất thuận lợi để phát triển năng lực mềm dẻo [53, tr 368, 369]

Đá cầu là môn thể thao có nhiều kỹ thuật đa dạng, phức tạp đòi hỏi các VĐV phải có khả năng mềm dẻo, khéo léo ở mức độ cao, nếu không sẽ khó khăn khi thực hiện kỹ thuật và điều chỉnh cầu sẽ không chính xác [65, tr106]

Trong môn đá cầu, độ mềm dẻo rất cần thiết là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao, thậm chí có thể dẫn đến chấn thương Sở trường của môn đá cầu là quét cầu và cúp cầu, được thực hiện với một biên độ động tác lớn, nhờ sự nổ lực của các khớp háng, hông và khớp gối, do đó mềm dẻo là tố chất bắt buộc phải yêu cầu cao đối với người tập đá cầu Ngay từ những buổi tập đầu tiên người tập đã được trang bị các bài tập về căng ép, mềm dẻo như: Ép hông, háng, gối, cổ chân, xoạc ngang, xoạc dọc [58, tr27]

Trang 31

Sự mềm dẻo cho phép VĐV thực hiện được những động tác với biên độ lớn Nó phụ thuộc vào cấu trúc và hình dạng của khớp, sự căng cơ, gân, dây chằng và bao khớp Không thể thay đổi hình dạng của khớp và khó có thể hoàn thiện khả năng kéo giãn của dây chằng và bao khớp nếu không có tố chất mềm dẻo tốt [1, tr 71]

Tóm lại: tố chất mềm dẻo đánh giá TĐTL VĐV đá cầu là độ dẻo thể hiện trong các động tác: xoay vặn các khớp cổ, hông, gối, bàn chân, lăng chân trước - sau, trái - phải, với biên độ lớn, xoạc ngang, xoạc dọc với biên độ lớn, gập thân, bật nhảy đá lăng lên cao

Khả năng phối hợp vận động (tố chất khéo léo):

Khả năng phối hợp vận động là năng lực hoàn thành các động tác nhanh, chính xác, linh hoạt và nhịp nhàng của vận động viên trong các điều kiện biến đổi phức tạp [24, tr 28] Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền

đề để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển và được hình thành và phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và năng lực khác như sức mạnh, sức nhanh và sức bền

Năng lực phối hợp được thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng và có chất lượng cũng như việc hoàn thiện củng cố và vận dụng các kỹ xảo về kỹ thuật thể thao Muốn phát triển năng lực phối hợp vận động, phải thông qua sự tập luyện một cách tích cực, cần cho vận động viên thực hiện các bài tập được sử dụng làm phương tiện phát triển khả năng phối hợp vận động; cần yêu cầu thực hiện chính xác, thường xuyên và trong những điều kiện biến đổi phức tạp

Th o Nguyễn Toán – Phạm Danh Tốn phân năng phối hợp vận động thành bảy loại sau: Năng lực liên kết, năng lực định hướng, năng lực thăng bằng, năng lực nhịp điệu, năng lực phản ứng, năng lực phân biệt vận động và năng lực thích ứng [53]

Trang 32

Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm

lý và các năng lực khác: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền và mềm dẻo [17] Vì vậy, trong thi đấu đá cầu VĐV cần phải rèn luyện khả năng phối hợp vận động

để có thể phối hợp được các kỹ thuật với nhau phù hợp với điều kiện thực tế từng tình huống cụ thể

Trong hoạt động thi đấu, đòi hỏi các VĐV phải sử dụng tất cả các kỹ thuật để xử lý, ứng phó với tất cả các tình huống xảy ra Tuy nhiên để mang lại hiệu quả thì VĐV phải có khả năng điều chỉnh khoảng cách và cách thức để các

kỹ thuật không bị thừa hoặc thiếu mà phải tiếp xúc mục tiêu, đúng thời điểm

Hay trong mọi tình huống tấn công hay phòng thủ, tức là thực hiện một chuỗi các kỹ thuật thì phải lựa chọn kỹ thuật nào cho phù hợp với tình huống Tất cả những khả năng đó của VĐV phải được rèn luyện và phát triển trong quá trình đào tạo Quá trình này phải được tập luyện thường xuyên thì mới nâng cao được năng lực xử lý thông tin của người tập Còn trong thi đấu đơn thì VĐV cần phát huy tối đa khả năng phối hợp vận động về nhiều mặt [64]

Như vậy, tố chất năng lực phối hợp vận động đánh giá trình độ tập luyện vận động viên đá cầu là: Phối hợp giữa các kỹ thuật với nhau, phối hợp di chuyển với thực hiện động tác

Trang 33

nhân vận động viên mới có thể phát huy được trình độ thể lực, đồng thời là cơ

sở phát huy tính hiệu quả của chiến thuật thể thao Nếu vận động viên có kỹ thuật điêu luyện, toàn diện thì có thể sử dụng được nhiều chiến thuật và nâng cao được hiệu quả sử dụng chiến thuật [24, tr 23]

Đá cầu với đặc trưng là những động tác di chuyển, tăng tốc độ, xoay người, tung người thực hiện các động tác bằng chân trên lưới có độ khó cao, là môn có kỹ thuật đa dạng và tinh xảo, các tình huống diễn ra trên sân rất phức tạp đòi hỏi VĐV phải được trang bị kỹ thuật tốt mới thi đấu đạt hiệu quả

Đặc điểm chính của kỹ thuật đá cầu là di chuyển trên sân rồi dùng chân điều khiển quả cầu th o ý muốn Để điều khiển được quả cầu, đồng thời thực hiện được ý đồ chiến thuật, thì VĐV cần phải luyện tập các kỹ thuật di chuyển của môn đá cầu trở thành kỹ năng - kỹ xảo vận động Muốn đạt được thành tích cao trong đá cầu cần phải biết kết hợp một cách linh hoạt, hợp lý giữa các kỹ thuật di chuyển với các kỹ thuật động tác từ cơ bản đến phức tạp như: Búng cầu, giật cầu, chuyền cầu, phát cầu hay bỏ nhỏ, cúp cầu, Từ đó cho thấy, kỹ thuật trong đá cầu đóng vai trò quan trọng trong TTTĐ của VĐV

Cũng giống như nhiều môn thể thao khác, bên cạnh các yếu tố về thể lực, chiến thuật, tâm lý thì kỹ thuật đóng một vai trò vô cùng quan trọng, quyết định đến TTTĐ Đá cầu là môn thể thao với các đường cầu diễn biến phức tạp, tốc độ cầu nhanh, nên đòi hỏi VĐV ngoài việc được trang bị thể lực tốt, chiến thuật hợp lý và tâm lý thi đấu vững vàng thì một yếu tố vô cùng quan trọng là nền tản về kỹ thuật Một VĐV dù có thể lực tốt đến đâu mà không có kỹ thuật cũng không thể thi đấu hiệu quả được, nhất là đối với môn đá cầu đòi hỏi độ khéo léo cao của kỹ thuật động tác Vì vậy, để đạt thành tích cao trong thi đấu đá cầu thì VĐV phải được trang bị kỹ thuật một cách toàn diện và hoàn chỉnh

Th o Dương Nguyễn Thanh Tuấn và cộng sự (1995) thì môn đá cầu bao gồm hệ thống các kỹ thuật sau: [65, tr3]

Trang 34

Kỹ thuật phát cầu: Phát cầu thấp chân chính diện, phát cầu thấp chân nghiêng mình, phát cầu cao chân chính diện, phát cầu cao chân nghiêng mình

Kỹ thuật đá đùi: Đỡ cầu, chuyền cầu, tâng cầu nhịp một để tấn công (trong đá đơn)

Kỹ thuật đỡ ngực: Đỡ cầu bằng ngực, chắn cầu bằng ngực, đánh ngực tấn công

Kỹ thuật đá má trong: Tâng cầu, chuyền cầu,

Kỹ thuật đá má ngoài: Tâng cầu, đá tấn công

Kỹ thuật đá mu bàn chân: Đá phát cầu, búng cầu, giật cầu, chuyền cầu, tâng cầu nhịp một để tấn công, đá tấn công bằng mu chính diện, bật nhảy dùng

mu bàn chân đá cầu, đá móc bằng mu chân, cúp cầu

Kỹ thuật đánh đầu: Đỡ cầu, đánh đầu tấn công

Kỹ thuật đá lòng bàn chân: Quét cầu, bạt cầu, đẩy cầu, xiết cầu

Như vậy, các yếu tố kỹ thuật phù hợp dùng để đánh giá TĐTL của VĐV

đá cầu là: Búng cầu, giật cầu, chuyền cầu, bỏ nhỏ, cúp cầu, đạp cầu, phát cầu, di chuyển

1.3.3 Yếu tố chiến thuật. [58, tr21-22], [65, tr21]

Chiến thuật trong đá cầu là những biện pháp hoạt động có chủ định, có tính đến những điều kiện cụ thể trong thi đấu của từng trận để giành được thắng lợi

Trong thi đấu có nhiều hình thức thực hiện chiến thuật song vẫn chủ yếu dựa vào đội hình, hình thức thi đấu như: Chiến thuật đá đơn, chiến thuật đá đôi,

đá ba, chiến thuật đá đôi nam - nữ và chiến thuật đồng đội để có những miếng chiến thuật cụ thể

Các chiến thuật thường sử dụng trong đá đơn: Tăng uy lực của quả phát cầu bằng cách phát cầu chuẩn, chính xác và tập trung vào những chỗ yếu của đối phương; Đá cầu dài tr o cao sâu cầu về phía chân không thuận rồi đột ngột đảo hướng; Khoét sâu điểm yếu của đối phương; Buộc đối phương phải di chuyển

Trang 35

nhiều trên sân để tiêu hao thể lực; Chủ động đưa cầu lên lưới để tấn công ở mọi

vị trí trên sân; Làm động tác giả đánh lừa đối phương bằng các kỹ thuật tấn công trên lưới Ngoài các chiến thuật cơ bản như trên thì đang còn một số chiến thuật khác nữa Nhưng nó chỉ phù hợp với những người có đẳng cấp cao

Có thể nói rằng, nhiều chiến thuật trong đá đơn đều có thể vận dụng trong

đá đôi, đá ba người Tuy nhiên khi đá đôi, ba người cần lưu ý đặc biệt đến việc phối hợp tổ chức tấn công thường xuyên và phòng thủ có hiệu quả trong quá trình thi đấu Đặc trưng có chiến thuật: Phát cầu có người che; Phân chia khu vực kiểm soát trên sân; Tấn công dứt điểm bằng phối hợp đồng đội; Phản công bằng chắn cầu; Đánh lừa đối phương trong phối hợp và tấn công

Chiến thuật đá đôi nam - nữ

Về ý đồ chiến thuật giống như đá đôi thông thường, nhưng do tinh chất đặc biệt trong đá đôi nam – nữ là cầu phải qua VĐV nữ trước khi bay sang sân đối phương và chiều cao của lưới chỉ là 1.3m (ưu tiên cho VĐV nữ) nên nó có những nét chiến thuật riêng phải huấn luyện cho các cặp VĐV Khi đá đôi nam –

nữ không nên nghĩ rằng với lưới thấp 1.3cm, các VĐV nam sẽ dễ thực hiện kỹ thuật Bởi vì các VĐV nam đang được tập luyện ở mức lưới 1.5m, nay đột ngột

hạ xuống 20cm nên phần nhiều không tránh khỏi bỡ ngỡ và nhiều khi do không được tập luyện kỹ mà kết quả trận đấu bị ảnh hưởng

Chiến thuật đồng đội Thi đấu đồng đội là tổng hợp của thi đấu đơn và đôi Mỗi một trận thi đấu đồng đội gồm 3 trận đơn – đôi – đơn Chiến thuật thi đấu đồng đội chủ yếu là cách sắp xếp đội hình ở các trận đơn – đôi – đơn và thứ tự các VĐV sẽ thi đấu các trận trên cụ thể gồm: Chiến thuật dùng chủ lực của mình gặp chủ lực của đối phương; Chiến thuật né chủ lực của đối phương

Trong đó cần phải chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng và quyết định tới thắng lợi của từng trận đấu như: Trình độ kỹ thuật, ý chí và quyết tâm thi đấu, chiến thuật thi đấu, tư tưởng chỉ đạo, thể lực, trạng thái tâm lý thi đấu

Trang 36

Khi vận dụng phải có mục đích rõ ràng, trên cơ sở phát huy ưu điểm, hạn chế được nhược điểm của bản thân, để khai thác những điểm yếu của đối phương, đồng thời hạn chế điểm mạnh của họ Với tinh thần lấy tấn công làm chính, kết hợp với phòng thủ tích cực, chủ động để giành thắng lợi trong từng trận đấu

Trong mỗi trận đấu, khi gặp thuận lợi phải nhanh chóng áp đảo đối phương, không bỏ lỡ thời cơ giành điểm số Ngược lại lúc gặp bất lợi phải bình tĩnh, tự tin, dùng lối đá chính xác, an toàn trong từng quả tìm cơ hội giành lại thế chủ động

Muốn đạt được yêu cầu này người chơi đá cầu phải làm tốt các việc sau:

- Phải chuẩn bị tốt về các kỹ thuật, về tâm lý, trạng thái thi đấu và quyết tâm giành thắng lợi

- Trước mỗi trận thi đấu nên tìm hiểu về khả năng của đối phương để từ

đó đề ra được đấu pháp hợp lý nhằm giành thắng lợi

Trong mỗi hiệp đấu của từng trận đấu, người chơi phải luôn luôn linh hoạt, sáng tạo vận dụng các kỹ thuật, chiến thuật một cách phù hợp, biến hóa,

gây khó khăn, lúng túng cho đối phương, để giành thắng lợi

1.3.4 Yếu tố hình thái

Th o Nguyễn Kim Lan [24, tr 21] hình thái phản ánh cấu trúc cơ thể, được xác định bởi trình độ phát triển, những giá trị tuyệt đối về nhân trắc và tỷ

lệ của những chỉ số đó Th o Nguyễn Ngọc Cừ và các cộng sự [9, tr 16] thì các chỉ tiêu hình thái hầu hết đều có độ di truyền cao Mỗi môn thể thao đòi hỏi phải

có hình thái đặc trưng phù hợp với việc thực hiện kỹ thuật động tác để phát huy triệt để ưu thế của các tố chất chuyên môn

Quá trình huấn luyện khoa học là một quá trình cải tạo cơ thể VĐV giúp cho họ có một thể hình phù hợp để nâng cao TTTT ở môn thể thao cụ thể Việc kiểm tra thể hình (bằng phương pháp nhân trắc) khi đánh giá TĐTL của VĐV ở lứa tuổi cơ thể còn đang phát triển là việc làm cần thiết Ở lứa tuổi này, các kết

Trang 37

quả kiểm tra sẽ cho biết cơ thể của vận động viên có phát triển đúng qui luật chung hay không, có đúng với yêu cầu đặc thù của môn thể thao chuyên sâu hay không Các kích thước liên quan đến tổ chức mềm (cơ bắp) có thể phản ánh tác động của huấn luyện khá nhạy bén Thông qua sự biến đổi về hình thái trong quá trình huấn luyện để đánh giá TĐTL của VĐV

Cũng như trong tuyển chọn, khi x m xét các chỉ tiêu thể hình luôn phải đối chiếu yêu cầu về thể hình đối với VĐV của một môn thể thao cụ thể, với một VĐV cụ thể (tuổi, giới tính, TTTT…), có như vậy các đánh giá mới chính xác, mới có những ý kiến thực sự bổ ích cho công tác huấn luyện [64, tr 35]

Mặt khác, khả năng vận động của con người phụ thuộc vào đặc điểm về thể hình:

Chiều cao và khối lượng cơ thể

Tỷ lệ của cơ thể – tỷ lệ các kích thước từng phần của cơ thể

Các chỉ tiêu hình thái chịu sự chi phối của nhiều g n Yếu tố môi trường cũng có ảnh hưởng, nhưng chủ yếu là yếu tố di truyền quyết định, tùy mức độ có khác nhau ở từng chỉ tiêu và từng giới tính Trong các chỉ tiêu thể hình, diện tích phổi, vòng ngực, vòng cánh tay, vòng đùi và trọng lượng cơ thể có độ di truyền thấp chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường, các chỉ số khác đều có độ di truyền cao [9, tr 10]

Th o Trịnh Hùng Thanh và Lê Nguyệt Nga thì các chỉ tiêu về hình thái hầu hết đều có độ di truyền cao Mỗi môn thể thao đòi hỏi phải có hình thái đặc

Trang 38

trưng phù hợp với thực hiện kỹ thuật động tác để phát huy triệt để ưu thế của các

tố chất chuyên môn Nhưng, hình thái là một yếu tố ít biến động khi VĐV đã qua giai đoạn phát dục trưởng thành [48, tr 18 – 32]

Đá cầu là môn thể thao đòi hỏi sự khéo léo với nhiều kỹ thuật phức tạp, là môn lấy vận động của chi dưới làm chính, trong thi đấu đặc biệt là các động tác phát cầu cao chân và tấn công trên lưới đòi hỏi sự linh hoạt, biên độ hoạt động rộng của các khớp hông, gối và cổ chân Đồng thời, yếu tố sức mạnh tốc độ của các bộ phận ở chi dưới khi thực hiện động tác cũng ảnh hưởng đến TTTĐ của VĐV đá cầu Qua đó có thể thấy, các tiêu chí quan trọng trong việc xác định hình thái vận động viên đá cầu là các chỉ số về chiều cao đứng (cm), dài chân A (cm), dài chân B (cm), dài chân C, dài chân H (cm), vòng cổ chân (cm), dài gân Achill (cm), cũng như tỷ lệ của các chỉ số trên như: dài chân A/cao đứng*100 (%), dài đùi/cẳng chân A*100 (%), vòng cổ chân/dài gân Achill *100 (%)

1.3.5 Yếu tố tâm lý

Khoa học thể thao hiện đại cũng như thực tế chứng minh ngày nay, các VĐV trên thế giới đã có sự đồng đều về mặt thể lực, kỹ thuật, hơn kém nhau chênh lệch không bao nhiêu, yếu tố tâm lý trở thành quyết định thắng thua Với các VĐV có cùng trình độ, điều kiện, chế độ tập luyện, thì tâm lý VĐV sẽ là yếu tố quyết định thắng thua trong thi đấu [32, tr119-120]

Tính chất phức tạp của động tác trong các nội dung, kỹ thuật thi đấu, đòi hỏi VĐV phải có năng lực tâm lý chung và chuyên môn Thông qua năng lực xử

lý thông tin, biểu thị đặc tính các khả năng cảm giác vận động và trí tuệ con người, trong các điều kiện ít thời gian và lượng tín hiệu lớn cần phải điều chỉnh

và trả lời chính xác [25, tr32]

Cũng giống như nhiều môn thể thao khác, với môn Đá cầu thì yếu tố tâm

lý đóng vai trò vô cùng quan trọng trong bất kỳ một nội dung thi đấu nào

Trang 39

Đá cầu là môn có các tình huống cầu diễn biến phức tạp và biến hóa, nên đòi hỏi VĐV phải có tâm lý tốt để đủ bình tĩnh bao quát, xử lý tình huống, tư duy cũng như điều khiển các động tác một cách tốt nhất

Với môn Đá cầu muốn thi đấu đạt hiệu quả cao ngoài có năng lực về thể chất thì còn có năng lực trí tuệ và các phẩm chất tâm lý khác Do vậy các chỉ tiêu về tâm lý như: Tự tin, sự tập trung chú ý, linh hoạt, khả năng xử lý thông tin, thông minh,…là những yếu tố cần thiết cho một VĐV đá cầu Sự phát triển các chức năng tâm lý còn có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao kỹ năng – kỹ xảo trong phối hợp vận động, cho phép VĐV duy trì trạng thái thi đấu hưng phấn trong điều kiện thể lực giảm sút

Trong thi đấu đá cầu, khi các đường cầu bay nhanh và biến hóa, các tình huống cầu diễn ra quyết liệt khi VĐV tranh nhau từng điểm thì với các yếu tố về tâm lý tốt sẽ giúp VĐV tập trung quan sát và đưa ra quyết định xử lý đường cầu một cách nhanh nhất Đồng thời, sự linh hoạt và tập trung chú ý tốt sẽ giúp VĐV

đá cầu có khả năng phản xạ nhanh trước các tình huống tấn công của đối phương (trong phòng thủ), cũng như đưa ra các quyết định tấn công chính xác nhằm chiếm ưu thế

Từ quan điểm và phân tích trên cho thấy khả năng phản xạ thị giác chân, xử lý thông tin, chú ý tổng hợp, di chuyển chú ý, loại hình thần kinh là những yếu tố về tâm lý quan trọng trong đánh giá TĐTL của VĐV đá cầu

tay-1.3.6 Yếu tố chức năng

Các yếu tố chức năng sinh lý qui định khả năng hoạt động thể lực của cơ thể Khả năng chức phận của các cơ quan trong cơ thể là năng lực tiềm ẩn của mỗi con người được phát triển, hoàn thiện nhờ quá trình giáo dục, rèn luyện và bộc lộ ra bên ngoài bằng tố chất thể lực và năng lực vận động [32, tr119]

Th o Philin V.P (1996): “Huấn luyện thể thao cho những vận động viên trẻ chỉ có thể thực hiện hợp lý trong trường hợp nếu nó tạo ra được những biến đổi tốt về hình thái chức năng trong cơ thể, ảnh hưởng tốt đến sức khỏ , tạo điều

Trang 40

kiện cho việc phát triển thể lực toàn diện và đảm bảo nâng cao thành tích trong môn thể thao chính [38, tr 57]

Các chỉ số tâm – sinh lý có ý nghĩa đặc biệt vì khả năng hành động chiến thuật phụ thuộc vào tố chất này Bởi vậy, đặc tính các phản ứng cảm giác vận động, khả năng giải quyết nhiệm vụ vận động tình huống tư duy chiến thuật, điều khiển trạng thái cảm giác trong những điều kiện gây cấn căng thẳng, tất cả những cái đó đều giữ vai trò quan trọng [32, tr133-134]

Các yếu tố chức năng sinh lý quy định hoạt động thể lực của cơ thể Khả năng chức phận của các cơ quan trong cơ thể là năng lực tiềm ẩn của mỗi người được phát triển, hoàn thiện nhờ quá trình giáo dục, rèn luyện và bộc lộ ra bên ngoài bằng tố chất thể lực, năng lực vận động của cơ thể Kiểm tra chức năng sinh lý nhằm nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và chức năng của các cơ quan trong cơ thể VĐV, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc đánh giá trình độ thể lực hay năng lực hoạt động thể lực của VĐV Bởi vì, quá trình phát triển TĐTL có liên quan chặt chẽ với sự phát triển các cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể Ví dụ như: Tần số hô hấp, dung tích sống, tần số mạch đập là những chỉ tiêu được sử dụng đánh giá chức năng hô hấp, tuần hoàn Những chỉ số này được biến đổi dưới tác động của quá trình tập luyện TDTT và nó là chỉ số quan trọng không những để đánh giá TĐTL mà còn có giá trị trong tuyển chọn VĐV [30], [72]

Chức năng của cơ thể còn được đánh giá thông qua các hoạt động định lượng, phản ứng của cơ thể thể hiện một phần TĐTL của VĐV đó Ví dụ như:

Trong trạng thái hoạt động định lượng, VĐV có TĐTL cao hơn thường có tần số mạch đập tăng chậm hơn so với VĐV có TĐTL thấp Chức năng hô hấp, tim mạch của VĐV có trình độ cao, thường thích nghi với hoạt động cơ bắp tốt hơn

so với VĐV có trình độ thấp Chính vì vậy, việc xác định các chỉ số chức năng sinh lý ở trạng thái hoạt động định lượng là những thông tin có giá trị để so sánh

và đánh giá TĐTL của VĐV [23, tr28]

Ngày đăng: 10/10/2022, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aulic V.I (1982), “Đánh giá trình độ luyện tập thể thao” (Phạm Ngọc Trân dịch) Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ luyện tập thể thao”
Tác giả: Aulic V.I
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1982
2. Hoàng Thị Thái Bình (2012), “Lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật vít cầu cho nữ VĐV đội tuyển đá cầu Hà Nội lứa tuổi 15-17.”, LV thạc sĩ GDH, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật vít cầu cho nữ VĐV đội tuyển đá cầu Hà Nội lứa tuổi 15-17.”
Tác giả: Hoàng Thị Thái Bình
Năm: 2012
4. Đàm Quốc Chính (2001), “Nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện (dưới góc độ sư phạm) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyển chọn và dự báo thành tích của vận động viên trẻ chạy 1 m ở Việt Nam”, LATS GDH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện (dưới góc độ sư phạm) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyển chọn và dự báo thành tích của vận động viên trẻ chạy 1 m ở Việt Nam”
Tác giả: Đàm Quốc Chính
Năm: 2001
5. Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2004), “Đo lường thể thao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao”
Tác giả: Dương Nghiệp Chí và cộng sự
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2004
6. Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2004), áo cáo đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao TĐTL thi đấu của bóng đá trẻ” (Tuổi mẩu giáo tới 18 tuổi). Ủy ban TDTT – Viện KH TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: áo cáo đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao TĐTL thi đấu của bóng đá trẻ” (Tuổi mẩu giáo tới 18 tuổi)
Tác giả: Dương Nghiệp Chí và cộng sự
Năm: 2004
7. Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2013), “Thể chất người Việt Nam từ 6 đến 6 tuổi đầu thế kỷ XXI”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chất người Việt Nam từ 6 đến 6 tuổi đầu thế kỷ XXI”
Tác giả: Dương Nghiệp Chí và cộng sự
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2013
8. Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2014), “Lý luận thể thao thành tích cao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lý luận thể thao thành tích cao”
Tác giả: Dương Nghiệp Chí và cộng sự
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2014
9. Nguyễn Ngọc Cừ (1997) “Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao”
Nhà XB: Nxb TDTT
10. Nguyễn Ngọc Cừ – Dương Nghiệp Chí (2001), Tài liệu nâng cao nghiệp vụ HLV, Viện khoa học TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nâng cao nghiệp vụ HLV
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cừ – Dương Nghiệp Chí
Năm: 2001
12. Trương Ngọc Để và cộng sự (2009), “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên môn Teakwondo ở các giai đoạn huấn luyện trong hệ thống đào tạo vận động viên thành phố Hồ Chí Minh”, Đề tài sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên môn Teakwondo ở các giai đoạn huấn luyện trong hệ thống đào tạo vận động viên thành phố Hồ Chí Minh”
Tác giả: Trương Ngọc Để và cộng sự
Năm: 2009
13. Lê Anh Đức (2017), “Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá TĐTL của nam VĐV đua xe đạp lứa tuổi 13 – 15 một số tỉnh Miền ắc (giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu)”, LATS KHGD, Viện KHTDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá TĐTL của nam VĐV đua xe đạp lứa tuổi 13 – 15 một số tỉnh Miền ắc (giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu)”
Tác giả: Lê Anh Đức
Năm: 2017
14. Nguyễn Minh Giang (2016), “Nghiên cứu sự phát triển thể lực và kỹ thuật của vận động viên đội tuyển đá cầu nam Trường THPT Hoàng Diệu tỉnh Sóc Trăng sau một năm tập luyện”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, trường ĐHSP TDTT TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự phát triển thể lực và kỹ thuật của vận động viên đội tuyển đá cầu nam Trường THPT Hoàng Diệu tỉnh Sóc Trăng sau một năm tập luyện”
Tác giả: Nguyễn Minh Giang
Năm: 2016
15. Bùi Quang Hải (2009), “Giáo trình tuyển chọn tài năng thể thao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tuyển chọn tài năng thể thao
Tác giả: Bùi Quang Hải
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2009
16. Bùi Quang Hải (2015), “Tuyển chọn vận động viên thể thao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuyển chọn vận động viên thể thao”
Tác giả: Bùi Quang Hải
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2015
17. Harr .D (1996), “Học thuyết huấn luyện”, (Trương Anh Tuấn – Bùi Thế Hiển biên dịch), Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết huấn luyện”
Tác giả: Harr .D
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1996
18. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (1995), “Sinh lý học thể dục thể thao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sinh lý học thể dục thể thao”
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1995
19. Lưu Quang Hiệp – Phạm Thị Uyên (2003), “Sinh lý học thể dục thể thao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học thể dục thể thao”
Tác giả: Lưu Quang Hiệp – Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2003
20. Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sĩ Hà (1994), “Huấn luyện thể thao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Huấn luyện thể thao”
Tác giả: Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sĩ Hà
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1994
21. Trần Hiếu (2007), “Nghiên cứu hệ thống các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng bàn 14 – 15 tuổi giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu”, LATS GDH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng bàn 14 – 15 tuổi giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu”
Tác giả: Trần Hiếu
Năm: 2007
22. Đàm Trung Kiên (2009), “Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện đối với VĐV viên chạy 1 m cấp cao”, LATS GDH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện đối với VĐV viên chạy 1 m cấp cao”
Tác giả: Đàm Trung Kiên
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.10  Bảng điểm thành tích các tiêu chí đánh giá TĐTL của nam vận - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
3.10 Bảng điểm thành tích các tiêu chí đánh giá TĐTL của nam vận (Trang 9)
Bảng 3.1. So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các tiêu chí đánh giá TĐTL - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.1. So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các tiêu chí đánh giá TĐTL (Trang 85)
Bảng 3.3: Hệ số tin cậy các tiêu chí đánh giá TĐTL của - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.3 Hệ số tin cậy các tiêu chí đánh giá TĐTL của (Trang 87)
Bảng 3.4: Hệ số tương quan giữa thành tích các tiêu chí đánh giá TĐTL với - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.4 Hệ số tương quan giữa thành tích các tiêu chí đánh giá TĐTL với (Trang 89)
Bảng 3.5. Tổng hợp thành tích các tiêu chí đánh giá thực trạng TĐTL - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.5. Tổng hợp thành tích các tiêu chí đánh giá thực trạng TĐTL (Trang 91)
Bảng 3.7. Thành tích của nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp. - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.7. Thành tích của nữ VĐV đội tuyển đá cầu tỉnh Đồng Tháp (Trang 114)
Hình thái - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Hình th ái (Trang 118)
Hình thái - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Hình th ái (Trang 120)
Hình thái - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Hình th ái (Trang 121)
Hình  thái - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
nh thái (Trang 122)
Bảng 3.13. Bảng điểm trung bình các yếu tố đánh giá TĐTL của nữ vận - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.13. Bảng điểm trung bình các yếu tố đánh giá TĐTL của nữ vận (Trang 122)
Bảng 3.14. Hệ số tương quan giữa các yếu tố đánh giá TĐTL của vận động - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.14. Hệ số tương quan giữa các yếu tố đánh giá TĐTL của vận động (Trang 123)
Bảng 3.17: Hệ số tương quan giữa các yếu tố với nhau và với thành tích thi - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.17 Hệ số tương quan giữa các yếu tố với nhau và với thành tích thi (Trang 133)
Bảng 3.18: Hệ số tương quan giữa các yếu tố với nhau và với thành tích thi - (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành trình độ tập luyện đối với thành tích thi đấu của vận động viên đội tuyển đá cầu tỉnh đồng tháp
Bảng 3.18 Hệ số tương quan giữa các yếu tố với nhau và với thành tích thi (Trang 135)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w