1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)

156 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Lan Truyền Sốt Rét Dai Dẳng Liên Quan Đến Muỗi Truyền Bệnh Sốt Rét Và Hiệu Lực Của Nến Có Transfluthrin Xua Diệt Muỗi Ở Huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa (2016 - 2019)
Tác giả Đào Minh Trang
Trường học Viện Sốt Rét-Ký Sinh Trùng-Côn Trùng Trung Ương
Chuyên ngành Côn Trùng Học
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt rét hiện nay vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe toàn cầu, theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2018), trên toàn thế giới có 228 triệu người mắc sốt rét, chủ yếu tại các nước Châu Phi (chiếm 93%), ở Đông Nam Á chiếm 3,4%. Số người chết do sốt rét khoảng 438.000 người, trong đó chủ yếu ở châu Phi (chiếm 90%), tiếp đến là khu vực Đông Nam Á (chiếm 7%) và khu vực Trung Đông (chiếm 2%) [1]. Việc phòng chống véc tơ sốt rét (VTSR) trong tiểu vùng sông Mekong (Greater Mekong Subregion (GMS)) gần như dựa hoàn toàn vào việc cung cấp màn tồn lưu lâu (LLINs), giải pháp này có hiệu quả đáng kể đến sự lan truyền sốt rét. Độ bao phủ hầu khắp của LLINs và các biện pháp hiệu quả khác trong việc phòng chống bệnh sốt rét dẫn đến việc tại nhiều quốc gia trong khu vực GMS đang lên kế hoạch cho chiến lược loại trừ bệnh sốt rét. Tuy nhiên, mặc dù các ca bệnh giảm rất đáng kể nhưng vẫn còn tồn tại một số lượng nhỏ các ca sốt rét, ngay cả khi sự bao phủ rộng khắp của màn tẩm hóa chất và các biện pháp can thiệp khác được triển khai ở quy mô lớn (ví dụ như phun tồn lưu trong nhà IRS); Sự lan truyền này được gọi là sự lan truyền sốt rét dai dẳng (residual malaria transmission (RMT)). Sự lan truyền sốt rét dai dẳng có thể là hệ quả từ tập tính của véc tơ và/hoặc tập quán, thói quen sinh hoạt của con người, những hành vi này làm tăng sự tiếp xúc giữa véc tơ và con người và làm giảm hiệu quả của các phương pháp phòng chống véc tơ (PCVT) [2],[3],[4]. Tại Việt Nam, trong những năm qua công tác phòng chống (PCSR) đã đạt được những thành tựu đáng kể bằng việc kết hợp phát hiện sớm, điều trị đúng và đủ liều, cùng với áp dụng biện pháp phòng chống véc tơ thích hợp. Hiện nay, bệnh sốt rét chủ yếu tập trung ở nhóm dân di cư tự do, đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới. Tại những khu vực này véc tơ chính truyền bệnh được xác định là muỗi An.dirus và An.minimus. Để đạt được mục tiêu của Chiến lược Quốc gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2011 đến 2030 tại Việt Nam, việc phòng chống lây truyền sốt rét cho nhóm đối tượng nguy cơ cao là rất quan trọng. Một số nghiên cứu sử dụng màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu, võng có bọc võng tẩm hóa chất tồn lưu lâu cho thấy hiệu quả phòng chống VTSR cho người đi rừng, ngủ rẫy [5],[6],[7]. Tuy nhiên, hoạt động đốt mồi của muỗi An.dirus trong rừng thường xảy ra sớm, nghiên cứu tại Khánh Hòa (2003) cho thấy muỗi An. dirus hoạt động đốt mồi suốt đêm, bắt đầu từ 18-19 giờ, tỷ lệ muỗi An. dirus thu thập trong rừng từ 18 đến 22 giờ chiếm 50% số muỗi bắt được trong đêm. Chỉ số lan truyền côn trùng từ 18-24 giờ ở trong rừng là 27,21 và nhà rẫy là 37,99; cao hơn nửa sau đêm từ 0-6 giờ, ở trong rừng là 5,69 và nhà rẫy là 16,54 [8]. Do đó, màn tẩm hóa chất hoặc võng có bọc võng tẩm hóa chất tồn lưu lâu chỉ bảo vệ được người dân phòng chống muỗi khi họ sử dụng màn hoặc võng, ít có khả năng bảo vệ người dân trong thời gian họ vẫn còn hoạt động trong rừng, rẫy vào buổi chiều hoặc tối. Vì vậy, tại một số nơi bệnh sốt rét vẫn còn tồn tại dai dẳng. Xác định rõ nguyên nhân của lan truyền sốt rét dai dẳng để từ đó có biện pháp phòng chống véc tơ hiệu quả trong thời gian người dân vẫn hoạt động trong rừng, rẫy là rất cần thiết để góp phần làm giảm gánh nặng bệnh sốt rét. Do đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nến có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016 - 2019)”, với các mục tiêu: 1. Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. 2. Đánh giá hiệu lực, tác dụng không mong muốn của nến có transfluthrin xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và thực địa.

Trang 1

VIỆN SỐT RÉT-KÝ SINH TRÙNG-CÔN TRÙNG TRUNG ƯƠNG

ĐÀO MINH TRANG

NGHIÊN CỨU LAN TRUYỀN SỐT RÉT DAI DẲNG LIÊN QUAN ĐẾN MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT RÉT VÀ HIỆU LỰC CỦA NẾN CÓ TRANSFLUTHRIN XUA DIỆT MUỖI Ở HUYỆN KHÁNH VĨNH TỈNH KHÁNH HÒA (2016 - 2019)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔN TRÙNG HỌC

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

1.2.1 Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles trên thế giới 10

1.2.2 Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles ở Việt Nam 12

1.3 Nghiên cứu về tập tính của muỗi Anopheles 15

1.4 Vai trò truyền sốt rét của muỗi Anopheles 21

1.4.1 Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi An dirus 21

1.4.2 Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi An minimus 23

1.4.3 Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi An.maculatus 23

1.5

Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt

rét

24

1.5.2 Nghiên cứu mức độ nhạy kháng với hóa chất diệt côn

trùng của véc tơ sốt rét trên thế giới và Việt Nam

24

1.5.3 Mức độ nhạy cảm của muỗi Anopheles tại Sơn Thái,

1.6 Nghiên cứu các biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét 26

1.6.1 Biện pháp phun tồn lưu hóa chất trong nhà 27

1.6.3 Biện pháp bảo vệ cá nhân bằng sử dụng sản phẩm xua

côn trùng

31

2.1 Mục tiêu 1: Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng

liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái,

huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

35

2.1.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 35

Trang 3

2.1.4 Các biến số trong nghiên cứu 40

2.2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 45

2.2.6 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 49

2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 53

3.1 Tình hình dịch tễ sốt rét và các yếu tố lan truyền sốt rét

dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn

Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

3.2 Hiệu lực của nến xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm

và và hiệu lực bảo vệ của nến trong phòng chống véc

tơ sốt rét cho đối tượng ngủ rẫy tại địa điểm nghiên cứu

75

3.2.1 Hiệu lực của nến xua diệt muỗi tại trong phòng thí

nghiệm

75

3.2.2 Hiệu lực bảo vệ cá nhân phòng chống muỗi của nến

xua muỗi chứa transfluthrin tại thực địa

82

3.2.3 Tác dụng không mong muốn và sự chấp nhận của cộng

đồng với nến xua muỗi

86

4.1 Tình hình dịch tễ sốt rét và các yếu tố lan truyền sốt rét

dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn

Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

Trang 4

4.2 Hiệu lực của nến xua diệt muỗi trong phòng thí nghiệm

và hiệu lực bảo vệ cá nhân của nến trong phòng chống

véc tơ sốt rét cho đối tượng ngủ rẫy tại điểm nghiên cứu

108

4.2.1 Hiệu lực diệt muỗi của nến chứa transfluthrin trong

phòng thí nghiệm

108

4.2.2 Hiệu lực bảo vệ cá nhân phòng chống muỗi của nến

xua muỗi chứa transfluthrin tại thực địa

Trang 5

DANH MỤC BẢNG Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Danh sách 10 tỉnh có số KSTSR trung bình năm cao nhất

Bảng 1.2 Tình hình sốt rét tại huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2015-2020 9

Bảng 1.3 Tình hình sốt rét tại xã Sơn Thái giai đoạn 2015-2020 9

Bảng 2.1 Bảng ma trận thử nghiệm nến xua diệt muỗi 52

Bảng 3.1 Kết quả điều tra một số thông tin về dân số xã Sơn Thái (2016) 55

Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn chủ hộ gia đình về sử dụng màn và ngủ

Bảng 3.3 Số ca mắc sốt rét theo loài ký sinh trùng năm 2016 57

Bảng 3.4 Kết quả phát hiện ký sinh trùng qua điều tra cắt ngang tại

Bảng 3.5 Thành phần loài Anopheles trong 3 sinh cảnh tại xã Sơn Thái 59

Bảng 3.6 Mật độ muỗi Anopheles trong thôn tại xã Sơn Thái qua 3 đợt

Bảng 3.7 Mật độ muỗi Anopheles trong rẫy qua 3 đợt điều tra năm 2016 61

Bảng 3.8 Mật độ muỗi Anopheles trong rừng qua 3 đợt điều tra năm 2016 62

Bảng 3.9 Số lượng và tỷ lệ An dirus đốt máu người trong và

Bảng 3.10 Số lượng và tỷ lệ An maculatus đốt máu người trong và

Bảng 3.11 Kết quả phát hiện KSTSR trong muỗi bằng PCR 66

Bảng 3.12 Chỉ số lan truyền côn trùng của An dirus 67

Bảng 3.13 Thông tin chung về cấu trúc nhà, tỷ lệ màn tại thôn 68

Bảng 3.14 Kết quả khảo sát kiểu, vật liệu nhà trong rẫy 72

Bảng 3.15 Tỷ lệ số đêm ngủ thôn, rừng, rẫy qua theo dõi GPS 74

Bảng 3.16 Mức độ nhạy cảm với một số hóa chất diệt côn trùng nhóm

Bảng 3.17 Kết quả gây ngã gục An dirus của nến chứa transfluthrin ở

4 nồng độ trong buồng thử 70cm x 70 cm x70cm 77

Bảng 3.18 Kết quả gây ngã gục An minimus của nến chứa transfluthrin ở

4 nồng độ trong buồng thử 70cm x 70 cm x70cm 78 Bảng 3.19 Hiệu lực gây chết muỗi của 4 loại nến chứa hàm lượng

Trang 6

Bảng 3.20 Hiệu diệt muỗi của nến transfluthrin 0,04% trong buồng thử

Bảng 3.21 Hiệu lực gây ngã gục và diệt muỗi An dirus của nến

transfluthrin 0,04% theo thời gian đốt trong buồng thử Peet

Bảng 3.22 So sánh mật độ véc tơ sốt rét đốt người trong nhà giữa lô

Bảng 3.23 Hiệu lực bảo vệ cá nhân phòng chống muỗi An dirus đốt

Bảng 3.24 So sánh mật độ véc tơ sốt rét đốt người ngoài nhà giữa lô

Bảng 3.25 Hiệu lực bảo vệ cá nhân phòng chống muỗi An dirus đốt

Bảng 3.26 Tác dụng không mong muốn của người tham gia thử nghiệm 86 Bảng 3.27 Tác dụng không mong muốn của nến thử nghiệm tại thực địa 87 Bảng 3.28 Số lượng và tỷ lệ % người thích sử dụng nến xua diệt muỗi

Trang 7

DANH MỤC HÌNH Tên hình Trang

Hình 1.1 Phân bố véc tơ sốt rét chính trên thế giới 11

Hình 2.1 Vị trí các địa điểm điều tra nghiên cứu tại Khánh Hòa 36

Hình 3.1 Diễn biến tỷ lệ phần trăm đốt máu trong nhà và ngoài nhà

Hình 3.2 Hoạt động đốt mồi ban đêm của An dirus 64

Hình 3.3 Hoạt động đốt mồi ban đêm của An maculatus 65

Hình 3.4 Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng màn trong thôn theo thời gian 69

Hình 3.5 Các hoạt động vào buổi tối trong nhà của người dân ở thôn 70

Hình 3.6 Số người dân hoạt động ngoài nhà trong thôn theo thời

Hình 3.7 Các hoạt động ngoài nhà của người dân trong thôn 71

Hình 3.8 Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng màn ở nhà rẫy theo thời gian 72

Hình 3.9 Các hoạt động vào buổi tối trong nhà của người dân ở rẫy 73

Hình 3.10 Bản đồ vệ tinh cung đường và các điểm người tham gia theo

Trang 8

Việc phòng chống véc tơ sốt rét (VTSR) trong tiểu vùng sông Mekong (Greater Mekong Subregion (GMS)) gần như dựa hoàn toàn vào việc cung cấp màn tồn lưu lâu (LLINs), giải pháp này có hiệu quả đáng kể đến sự lan truyền sốt rét Độ bao phủ hầu khắp của LLINs và các biện pháp hiệu quả khác trong việc phòng chống bệnh sốt rét dẫn đến việc tại nhiều quốc gia trong khu vực GMS đang lên kế hoạch cho chiến lược loại trừ bệnh sốt rét Tuy nhiên, mặc

dù các ca bệnh giảm rất đáng kể nhưng vẫn còn tồn tại một số lượng nhỏ các

ca sốt rét, ngay cả khi sự bao phủ rộng khắp của màn tẩm hóa chất và các biện pháp can thiệp khác được triển khai ở quy mô lớn (ví dụ như phun tồn lưu trong nhà IRS); Sự lan truyền này được gọi là sự lan truyền sốt rét dai dẳng (residual malaria transmission (RMT)) Sự lan truyền sốt rét dai dẳng có thể là hệ quả từ tập tính của véc tơ và/hoặc tập quán, thói quen sinh hoạt của con người, những hành vi này làm tăng sự tiếp xúc giữa véc tơ và con người và làm giảm hiệu quả của các phương pháp phòng chống véc tơ (PCVT) [2],[3],[4]

Tại Việt Nam, trong những năm qua công tác phòng chống (PCSR) đã đạt được những thành tựu đáng kể bằng việc kết hợp phát hiện sớm, điều trị đúng và đủ liều, cùng với áp dụng biện pháp phòng chống véc tơ thích hợp Hiện nay, bệnh sốt rét chủ yếu tập trung ở nhóm dân di cư tự do, đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới Tại những khu vực này véc tơ chính truyền bệnh được

xác định là muỗi An.dirus và An.minimus

Trang 9

Để đạt được mục tiêu của Chiến lược Quốc gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2011 đến 2030 tại Việt Nam, việc phòng chống lây truyền sốt rét cho nhóm đối tượng nguy cơ cao là rất quan trọng Một số nghiên cứu

sử dụng màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu, võng có bọc võng tẩm hóa chất tồn lưu lâu cho thấy hiệu quả phòng chống VTSR cho người đi rừng, ngủ rẫy

[5],[6],[7] Tuy nhiên, hoạt động đốt mồi của muỗi An.dirus trong rừng thường xảy ra sớm, nghiên cứu tại Khánh Hòa (2003) cho thấy muỗi An dirus hoạt động đốt mồi suốt đêm, bắt đầu từ 18-19 giờ, tỷ lệ muỗi An dirus thu thập trong

rừng từ 18 đến 22 giờ chiếm 50% số muỗi bắt được trong đêm Chỉ số lan truyền côn trùng từ 18-24 giờ ở trong rừng là 27,21 và nhà rẫy là 37,99; cao hơn nửa sau đêm từ 0-6 giờ, ở trong rừng là 5,69 và nhà rẫy là 16,54 [8] Do đó, màn tẩm hóa chất hoặc võng có bọc võng tẩm hóa chất tồn lưu lâu chỉ bảo vệ được người dân phòng chống muỗi khi họ sử dụng màn hoặc võng, ít có khả năng bảo vệ người dân trong thời gian họ vẫn còn hoạt động trong rừng, rẫy vào buổi chiều hoặc tối Vì vậy, tại một số nơi bệnh sốt rét vẫn còn tồn tại dai dẳng

Xác định rõ nguyên nhân của lan truyền sốt rét dai dẳng để từ đó có biện pháp phòng chống véc tơ hiệu quả trong thời gian người dân vẫn hoạt động trong rừng, rẫy là rất cần thiết để góp phần làm giảm gánh nặng bệnh sốt rét Do đó, tôi

thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi

truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nến có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện

Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016 - 2019)”, với các mục tiêu:

1 Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

2 Đánh giá hiệu lực, tác dụng không mong muốn của nến có transfluthrin xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và thực địa

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới

Bệnh sốt rét là một trong những bệnh nguy hiểm hàng đầu gây tử vong

cho loài người, bệnh do một số loài ký sinh trùng Plasmodium gây ra Hàng

năm, trên thế giới có khoảng 350-500 triệu ca sốt rét và ít nhất một triệu người trong số đó tử vong Hầu hết các trường hợp mắc sốt rét và tử vong là trẻ em

và phụ nữ có thai, trong đó 90% thuộc khu vực cận Sahara ở châu Phi, tại các khu vực xa xôi hẻo lánh với sự kém phát triển về các dịch vụ y tế Tuy vậy, các khu vực khác như châu Á, châu Mỹ La tinh, khu vực Trung Đông vẫn đang bị ảnh hưởng [9]

Kể từ khi thành lập vào năm 1948, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã giành

sự ưu tiên cao nhất cho vấn đề sốt rét Chương trình thanh toán sốt rét toàn cầu (Global Malaria Eradication Programme) với mục đích loại trừ ký sinh trùng sốt rét đã được WHO ban bố vào năm 1955 ở hầu hết các nước sốt rét lưu hành Chương trình này được thực hiện dựa trên việc sử dụng rộng rãi hoá chất diệt côn trùng dichlor-diphenyl-trichlorethal (DDT) để phun tồn lưu, và sử dụng các loại thuốc điều trị sốt rét trong đó chủ yếu là chloroquine

Tuy nhiên, sau 36 năm tiến hành thanh toán sốt rét (từ 1955 – 1991) trên toàn thế giới vẫn còn trên 2 tỷ người sống trong vùng sốt rét chiếm gần 50% dân số thế giới ở 100 nước, tử vong do sốt rét hàng năm từ 1 đến 2 triệu người,

số mắc sốt rét mới hàng năm là 110 triệu người) [10] Trước tình hình này, hội nghị các Bộ trưởng bàn về vấn đề sốt rét đã được tổ chức tại Amsterdam năm

1992 đã quyết định thay đổi chiến lược từ “Thanh toán sốt rét” trở lại “Phòng chống sốt rét” Chiến lược phòng chống sốt rét (PCSR) toàn cầu (The Global Malaria Control Strategy) đã được thông qua với mục tiêu hạn chế tử vong, giảm tỷ lệ mắc sốt rét và giảm thiểu những thiệt hại về kinh tế, xã hội do sốt rét

Trang 11

gây ra thông qua việc cải thiện nhanh chóng và củng cố năng lực của các địa phương trong vấn đề PCSR

Năm 2007, WHO đã khuyến cáo một chiến lược mới quy mô toàn cầu

đó là loại trừ sốt rét Chiến lược mới này với mục đích cắt đứt lan truyền sốt rét tại chỗ một cách bền vững Theo số liệu thống kê của WHO đến năm 2009, bệnh sốt rét vẫn lưu hành ở 108 quốc gia, ước tính có khoảng 225 triệu người mắc và 781 nghìn người tử vong do sốt rét, riêng Châu Phi chiếm 91%; Đông Nam Á chiếm 6% [11]

Tính chung giai đoạn 2000-2015, số ca mắc và ca tử vong do sốt rét giảm trên toàn cầu Năm 2015, ước tính có 214 triệu ca mắc sốt rét giảm 18% so với

262 triệu ca năm 2000; Năm 2015 có 438.000 ca tử vong giảm 48% so với 839.000 ca năm 2000 Số trường hợp mắc và tử vong do sốt rét chủ yếu xảy ra

ở Châu Phi (88% năm 2000 và 90% năm 2015), tiếp đến là Đông Nam Á (10%

và 7%), Địa Trung Hải (2% và 2%) [12],[13]

Năm 2019 có khoảng 228 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét, giảm 23 triệu trường hợp so với năm 2010 (228 triệu/251 triệu trường hợp) và giảm 3 triệu trường hợp so với 2017 (228 triệu/231 triệu trường hợp) Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét đã giảm trên toàn cầu từ năm 2010 đến 2020, từ 71/1.000 (2010) xuống còn 57/1.000 dân số nguy cơ sốt rét (2019) Hầu hết các trường hợp sốt rét trong năm 2019 ở Khu vực Châu Phi với 213 triệu trường hợp chiếm 93%, tiếp theo là khu vực Đông Nam Á chiếm 3,4% và khu vực Địa Trung Hải chiếm 2,1% [14]

1.1.2 Tình hình sốt rét ở Việt Nam

Tại Việt Nam, Chương trình tiêu diệt sốt rét đã thực hiện ở miền Bắc từ năm 1958 - 1975, bao gồm: giai đoạn chuẩn bị (từ 1958 - 1961) và giai đoạn tấn công tiêu diệt sốt rét (từ 1962-1964) Đến năm 1964, bệnh sốt rét đã giảm

20 lần Chương trình tiêu diệt sốt rét được duy trì trong suốt thời gian chiến tranh chống Mỹ ở miền Bắc cùng với chương trình phòng chống và diệt trừ sốt rét trong các vùng giải phóng ở miền Nam đến năm 1975 Sau thống nhất đất

Trang 12

nước, do hậu quả của chiến tranh và do nhiều nguyên nhân khác, tình hình bệnh sốt rét trên toàn quốc không ổn định, tỷ lệ mắc và chết do sốt rét tăng dần

Từ năm 1976 nước ta đã chuyển chiến lược tiêu diệt sốt rét sang chiến lược thanh toán sốt rét không hạn định về thời gian Từ năm 1987 bệnh sốt rét

đã quay trở lại ở hầu hết các tỉnh vùng rừng núi và ven biển với tốc độ nhanh

và nghiêm trọng, với khoảng 80% dân số sống trong vùng sốt rét (57 triệu người) Năm 1991, toàn quốc có 144 vụ dịch sốt rét, 4646 người chết do sốt rétvà hơn 1 triệu người mắc sốt rét

Năm 1991, Việt Nam đã chuyển chiến lược thanh toán sốt rét sang chiến lược phòng chống sốt rét và Chương trình phòng chống sốt rét trở thành một trong các

dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS từ đó cho đến năm 2020

Sau 10 năm (1991 – 2000) thực hiện PCSR: Số người mắc sốt rét giảm 73,1% so với năm 1991 (1.091.251 người); số người tử vong do sốt rét giảm 98,5% so với năm 1991 (4.646 người); 2 vụ dịch sốt rét (phạm vi thôn, bản), giảm 98,6% so với năm 1991 (144 vụ dịch) [15],[16]

Việt Nam là một trong những quốc gia có chương trình PCSR thành công, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác PCSR từ năm 1991 khi chuyển từ chương trình thanh toán sốt rét sang PCSR: sốt rét đã giảm mạnh, thậm chí nhiều tỉnh, thành phố đã không ghi nhận trường hợp mắc sốt rét tại địa phương Số vụ dịch sốt rét giảm dần, năm 2010 không có dịch sốt rét xảy

ra trong cả nước [15]

Từ năm 2011, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phòng chống

và loại trừ sốt rét”[15] Trong giai đoạn 2011-2015, công tác phòng chống và loại trừ sốt rét được đẩy mạnh ở tất cả các tuyến, tình hình sốt rét ổn định ở nhiều tỉnh Tuy nhiên, còn một số tỉnh ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đặc biệt là Bình Phước và Gia Lai, Khánh Hòa sốt rét còn diễn biến phức tạp

Trang 13

Năm 2015, số người mắc bệnh sốt rét giảm 30,9% so với năm 2014 (19.252/27.868), tỷ lệ mắc sốt rét/1.000 dân số chung giảm 31,2% (0,209/0,303),

số bệnh nhân tử vong do sốt rét là 3 ca, giảm 3 ca so với năm 2014 [17]

Kết quả thực hiện chiến lược phòng chống và loại trừ sốt rét trên toàn quốc năm 2019 so với năm 2018 cho thấy: Số bệnh nhân sốt rét (BNSR) giảm 14,31% (5.887/6.870); KSTSR giảm 3,08% (4.665/4.813); Tỷ lệ KSTSR trên 1.000 dân giảm 4,00%; Bệnh nhân sốt rét ác tính không tăng (12/12); Năm 2019 không có tử vong do sốt rét và không có dịch sốt rét xảy ra Số lượng KSTSR

10 tỉnh cao nhất chiếm 91,77% tổng số KSTSR toàn quốc (4.281/4.665): Gia Lai 1.763 trường hợp, Phú Yên 673 trường hợp, Đắk Lắk 648 trường hợp, Bình Phước 330 trường hợp, Bình Thuận 307 trường hợp, Lâm Đồng 188 trường hợp, Đắk Nông 126 trường hợp, Khánh Hòa 95 trường hợp, Quảng Nam 79 trường hợp, Quảng Trị 72 trường hợp [18] Trong năm 2020 và 2021 có chính sách giãn cách xã hội nên không có sự giao lưu quốc gia và các tỉnh làm cho sốt rét giảm Trong năm 2021 sốt rét còn lây truyền chủ yếu và diễn biến phức tạp ở những tỉnh có giáp ranh biên giới và có khu vực rừng quốc gia: Rừng quốc gia Ea Sô (Gia Lai, Phú Yên, Đắk Lắk), Rừng quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước, Đắk Nông), Rừng Bình Thuận (Bình Thuận, Lâm Đồng)

Nhìn chung tình hình sốt rét trên toàn quốc có xu hướng giảm theo từng năm, tuy vậy tình hình sốt rét tại một số địa phương vẫn diễn biến phức tạp, tập trung chủ yếu ở khu vực các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên-Đông Nam Bộ, nguy

cơ sốt rét quay trở lại và nguy cơ bùng phát dịch số rét vẫn còn cao ở nhiều địa phương Đặc biệt hiện nay tình trạng KSTSR kháng thuốc, muỗi kháng hóa chất diệt côn trùng xuất hiện và có nguy cơ lan rộng ở nhiều địa phương

1.1.3 Tình hình sốt rét tại Khánh Hòa

Tỉnh Khánh Hòa nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, phía Bắc giáp ba huyện Sông Hinh, Đông Hòa và Tây Hòa của tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp hai huyện M'Drăk và Krông Bông của tỉnh Đắk Lắk, phía Nam giáp

Trang 14

huyện Bác Ái và Thuận Bắc của tỉnh Ninh Thuận, phía Tây Nam giáp huyện Lạc Dương của tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp Biển Đông Xu hướng diễn biến bệnh sốt rét tại Khánh Hòa cũng tương tự như một số tỉnh ở Miền Trung-Tây Nguyên

Số BNSR năm 2010 giảm 26,14% so với năm 2006; năm 2015 BNSR giảm 52.94% so với năm 2011 Mặc dù BNSR giảm so với trước đây nhưng số BNSR

ở Khánh Hòa vẫn ở mức cao so các tỉnh trong khu vực và là 1 trong 10 tỉnh có số KSTSR trung bình năm cao nhất cả nước giai đoạn 2016-2020 (bảng 1.1.)[19]

Tuy nhiên, nếu tính tỷ lệ KSTSR/dân số ở vùng số rét lưu hành thì rất cao và chủ yếu tập trung tại 2 huyện miền núi là Khánh Vĩnh và Khánh Sơn

Bảng 1.1 Danh sách 10 tỉnh có số KSTSR trung bình năm cao nhất nước từ

Trang 15

thuộc huyện Khánh Vĩnh đều là vùng sốt rét lưu hành nặng (bảng 1.2.), trong

đó xã Sơn Thái là một trong những xã có tỷ lệ BNSR và KSTSR cao nhất huyện

(bảng 1.3.) Tại đây có sự lưu hành của 2 VTSR chính là An dirus và An minimus, ngoài ra còn có mặt của một số VTSR phụ như An maculatus, An jeyporiensis, An aconitus Mặc dù địa phương đã tuân thủ áp dụng các biện

pháp PCSR theo chỉ đạo của chương trình Quốc gia PCSR, đặc biệt là công tác phòng chống VTSR, cụ thể là dân số được bảo vệ bởi các biện pháp phòng chống véc tơ (PCVT) bằng phun tồn lưu và tẩm màn hóa chất trong nhiều năm liền đều đạt tỷ lệ cao nhưng sốt rét vẫn còn tồn tại dai dẳng, đặc biệt với nhóm dân có ngủ đêm trong rừng, rẫy Cần bổ sung nghiên cứu các biện pháp PCVT

bổ sung, đặc biệt cho các đối tượng ngủ rẫy

Các biện pháp PCSR, đặc biệt là PCVT đã được đầu tư nhiều của chương trình quốc gia Tuy nhiên, tại đây vẫn còn là một trong những điểm nóng về sốt rét, bởi hiệu quả của các biện pháp đang áp dụng đã không cắt đứt được lan truyền Chính vì vậy việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp phòng PCVT thích hợp để bổ sung cho các biện pháp đang áp dụng, đặc biệt cho các khu vực đặc thù có tỷ lệ người ngủ rẫy cao là vô cùng cần thiết

Trang 16

Bảng 1.2 Tình hình sốt rét tại huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2015-2020 (Nguồn: Trung tâm Y tế huyện Khánh Vĩnh)

Trang 17

1.2 Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles trên thế giới

Họ muỗi Culicidae Meigen, 1818 (Diptera) có 3.528 loài, được chia

thành 2 phân họ là Culicinae Meigen, 1818; Anophelinae Grassi, 1900 Phân

họ Anophelinae được chia thành 3 giống là Anopheles Meigen, 1818;

Bironella Theobald, 1905; Chagasia Cruz, 1906 Các loài muỗi có khả năng

truyền sốt rét gọi là VTSR đều thuộc giống Anopheles [20] Nhiều nghiên cứu

đã chứng minh sốt rét ở người là do muỗi Anopheles truyền [21]

Sinka M và cộng sự (2012) đã tổng hợp 465 loài Anopheles trên thế giới,

trong đó có khoảng 70 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét ở người và có 41

loài là VTSR chính [22]

Dựa vào những kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới, đã xác

định ở từng vùng địa lý có những loài muỗi Anopheles với khả năng truyền sốt

rét ở những mức độ khác nhau, được phân chia thành các véc tơ chính và véc

tơ phụ tùy theo khả năng truyền bệnh của chúng ở từng vùng Ở Châu Phi véc

tơ sốt rét chính là An gambiae, An funestus, An arabiensis, An males, An

merus, An moucheti, An nili; Châu Mỹ có An albimanus, An albitarsis,

An aquasalis, An darlingi, An freeborni, An marajoara, An nuneztovari,

An pseudopunctipennis, An qua drimaculatus; Châu Âu có An atroparvus,

An labranchiae, An messeae, An sacharovi, An sergentii, An superpictus;

Châu Á có An aconitus, An annularis, An balabacensis, An barbirostris, An

culicifacies, An dirus, An farauti, An flavirostris, An fluviatilis, An koliensis,

An lesteri, An leucophyrus, An maculatus, An minimus , An punctulatus, An

sinensis, An stephensi, An subpictus, An sundaicus [23]

Trang 18

Hình 1.1 Phân bố véc tơ sốt rét chính trên thế giới (theo Sinka M.E, 2012) [22]

Trong cùng một vùng địa lý có thể có một vài véc tơ chính cùng với một

vài véc tơ phụ Vai trò chính hay phụ có thể thay đổi theo thời gian, khu vực

địa lý Sự có mặt của các véc tơ chính và phụ là yếu tố quyết định có lan truyền

sốt rét hay không

Tại khu vực Đông Nam Á, hai phức hợp loài Dirus và Minimus có vai

trò quan trọng với sự lan truyền sốt rét ở khu vực

Các loài trong phức hợp An dirus phân bố chủ yếu khu vực rừng núi,

rừng trồng và ven rừng Bằng kỹ thuật PCR (Polymerase chain reaction) phân

biệt được 8 loài đồng hình trong phức hợp là An dirus (trước đây là An dirus

loài A), An cracens (trước đây là sp B), An scanloni (trước đây là sp C),

An baimaii (trước đây là sp D), An elegantans (trước đây là sp E),

An nemophilous (trước đây là sp F), An takasagoensis và loài được bổ sung

gần đây có tên chính thức là An aff takasagoensis [24] Trong số các loài này,

An dirus và An baimaii là các véc tơ sốt rét chính [25]

Trang 19

Các loài trong phức hợp An minimus cũng được tìm thấy ở các vùng

rừng núi Khác với phức hợp Dirus, chúng chỉ phân bố giới hạn ở phần lục địa

ở Đông Nam Á (Hình 1.1) [22] Phức hợp Minimus gồm 3 loài đồng hình là

An minimus (trước đây là loài A), An harrisoni (trước đây là sp C) và

An yaeyamaensis (trước đây là sp E) [27] Cả An minimus và An harrisoni

vẫn được coi là véc tơ chính trong khu vực phân bố của chúng, chủ yếu là khu

vực Đông Nam Á [26]

1.2.2 Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles tại Việt Nam

Ở Việt Nam, từ đầu thế kỷ 20 đã có nhiều công trình nghiên cứu về muỗi

sốt rét được công bố Trong đó, đáng kể nhất là một số công trình của tác giả

nước ngoài như Laveran (1901 – 1904) nghiên cứu muỗi sốt rét ở Nam Bộ,

Bonet (1906) nghiên cứu muỗi sốt rét ở Đông Dương, Mesnard, 1934, nghiên

cứu muỗi sốt rét ở đồn điền cao su Nam Kỳ, Staton (1926), Borel (1930),

Mesnard (1934) nghiên cứu muỗi sốt rét ở các đồn điền cao su, Farinaud (1938),

nghiên cứu muỗi sốt rét ở đồng bằng Nam bộ và Côn Đảo (dẫn theo Nguyễn

Đức Mạnh, 1988) [28] Ở Miền Nam trước 1975, theo công bố của Nguyễn

Thượng Hiền (1968) có 43 loài muỗi sốt rét Một số tác giả nước ngoài như

Santana (1967), Parish (1969), Holway (1970) cũng nghiên cứu về muỗi sốt

rét ở miền Nam Việt Nam Sau 1975, việc điều tra cơ bản về muỗi sốt rét được

tiến hành đồng bộ trong cả nước (1976 – 1977) Sau giai đoạn này, đã có nhiều

công trình nghiên cứu về khu hệ muỗi sốt rét đã được công bố Nguyễn Đức

Mạnh (1988) nghiên cứu về muỗi sốt rét ở Tây Nguyên [28] Trương Văn Có

(1996) nghiên cứu về muỗi sốt rét ở Trung – Trung bộ và Tây Nguyên [29];

Nguyễn Long Giang (1996) nghiên cứu về muỗi sốt rét ở Nam Bộ - Lâm Đồng

[30] Nguyễn Đức Mạnh, Trần Đức Hinh và CS (2002) bổ sung dẫn liệu và

xác định ở Việt Nam có trên 60 loài Anopheles Năm 2005, Hồ Đình Trung

đã thống kê ở Việt Nam phát hiện được 59 loài Anopheles, chưa kể một số là

phức hợp loài bao gồm nhiều loài thành viên như: An maculatus có ít nhất 10

Trang 20

loài thành viên, An minimus với 2 loài thành viên [31] Linton Y.M et al

(2005), khi nghiên cứu về các VTSR ở Việt Nam đã xác định loài An sundaicus ở Việt Nam là một loài mới được đặt tên là An epiroticus, đây là 1

trong 3 VTSR chính ở Việt Nam [32] Năm 2008, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương xuất bản bảng định loại muỗi Anophelinae ở Việt Nam bao gồm 63 loài Anopheles [33] Trong đó có 10 loài được xác định là véc tơ chính, véc tơ phụ truyền sốt rét Phân bố của các véc tơ này có thể được tóm tắt như sau [34]:

+ Vectơ chính:

- Vùng rừng núi toàn quốc: An minimus

- Vùng rừng núi từ 20o vĩ bắc trở vào Nam: An minimus , An dirus

- Vùng ven biển nước lợ Nam Bộ: An epiroticus

+ Vectơ phụ:

- Vùng rừng núi toàn quốc: An aconitus, An jeyporiensis,

An maculatus

- Vùng ven biển miền Bắc: An subpictus, An sinensis, An vagus

- Ven biển miền Nam: An sinensis, An subpictus và An campestris

Ở Việt Nam, vùng phân bố của An minimus liên quan chặt chẽ đến sự

có mặt của các ổ nước thích hợp cho loài muỗi này đẻ trứng cũng như sự

phát triển của bọ gậy và quăng An minimus phân bố chủ yếu ở vùng rừng núi,

cao nguyên, trung du trên toàn quốc,ngoài ra còn thấy ở một vài địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng[35],[36]

Nguyễn Hữu Đức và cộng sự (1973) phân tích theo độ cao và thời gian trong

năm tại 85 địa điểm ở miền Bắc (từ Vĩnh Linh trở ra) và nhận thấy rằng An minimus

có mặt quanh năm ở độ cao từ 0 đến 800m nhưng hiếm gặp ở độ cao trên 1500m,

và có 2 đỉnh cao về mật độ vào các tháng 3-4-5 và 10-11 [37]

Nguyễn Tuyên Quang và CS (1997), nghiên cứu tại xã Khánh Phú, tỉnh

Khánh Hòa cho thấy mật độ muỗi An minimus ở khu dân cư cao hơn trong rẫy [38]

Trang 21

Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây cho thấy muỗi An minimus ở khu dân có mật độ rất thấp, hoặc không phát hiện muỗi An minimus

Vũ Đức Chính và CS (2006) đã điều tra 31 điểm ở miền Bắc theo 3 sinh cảnh rừng: Rừng rậm nguyên sinh, rừng rậm thứ sinh và rừng thưa- cây bụi Kết

quả cho biết An minimus ss thích hợp với sinh cảnh rừng rậm thứ sinh và rừng thưa- cây bụi, còn An minimus C (An harrisoni) chiếm tỷ lệ cao hơn ở rừng rậm

nguyên sinh [36]

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quang và CS (2017), tại Gia Lai cho thấy

muỗi An minimus phát hiện trong rừng và bìa rừng, trong khu dân cư không phát hiện An minimus [39]

Một véc tơ truyền sốt rét mạnh ở khu vực Đông và Nam Á là An dirus

Peyton & Harrison, 1979, cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Trần

Đức Hinh (1996) tổng kết các nghiên cứu cho thấy An dirus có mặt ở vùng rừng, núi từ 20 vĩ độ Bắc (Nam Thanh Hóa) trở vào phía Nam Phân bố của An dirus liên quan chặt chẽ với rừng, vườn cây [35] Muỗi An dirus là loài có mật

độ cao trong rừng, rẫy, theo nghiên cứu của Nguyễn Sơn Hải và CS (2003), tại

xã Khánh Phú, tỉnh Khánh Hòa cho thấy muỗi An dirus chiếm 96,94% ở trong rừng và 83,11% ở nhà rẫy Mật độ muỗi An dirus đốt người trong rừng là 7,56

con/người/đêm, nhà rẫy là 7,24 con/người/đêm, khu bìa rừng là 3,55 con/người/đêm và trong khu dân cư là 0,53 con/người/đêm [8] Vũ Đức Chính

(2011), tổng hợp các nghiên cứu từ năm 2003 đến 2010 cho thấy muỗi An dirus

phát hiện ở 15/71 điểm điều tra trên toàn quốc, từ Nghệ An đến Bình Phước, ngoài ra còn bắt đựợc tại Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Phú Quốc, tỉnh

Kiên Giang Muỗi An dirus phân bố chủ yếu trong rừng, rẫy [40] Vũ Đức Chính và CS (2017), điều tra tại xã Sơn Thái, tỉnh Khánh Hòa thu đựợc muỗi

An dirus ở rẫy là 77,39%; ở rừng là 22,61%, trong khu dân cư không thu thập đựợc An dirus [41] Thái Khắc Nam và CS (2017), điều tra ở xã Phan Tiến,

tỉnh Bình Thuận thu được muỗi An dirus bằng phương pháp mồi người trong

Trang 22

nhà rẫy và ngoài nhà rẫy với mật độ tương ứng là 0,97 con/giờ/người và 2,80

con/giờ/người, trong khu dân cư không thu thập được muỗi An dirus [42]

Nguyễn Xuân Quang và CS (2017), điều tra ở Gia Lai thu được muỗi An dirus

chiếm 54,4% số muỗi thu được trong rừng; 1,3% số muỗi thu trong rẫy, trong

khu dân cư không thu thập được An dirus [39]

Năm 2019, Bùi lê Duy và cộng sự đã tổng hợp vẽ bản đồ phân bố của muỗi Anopheles trong các cuộc điều tra từ năm 2013-2018 Phân bố của véc tơ

chính trong số 411 điểm điều tra trên toàn quốc, An minimus phân bố ở 135 điểm từ trung du, miền núi từ Bình Thuận trở ra Bắc An dirus phân bố ở 47 điểm ở vùng rừng miền Trung-Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Côn Đảo An epiroticus phân bố ở 50 điểm thuộc ven biển nước lợ Nam Bộ [43]

1.3 Nghiên cứu về tập tính của véc tơ sốt rét

Sự lan truyền bệnh sốt rét dai dẳng có thể là hệ quả từ tập tính của các véc tơ và tập quán sinh hoạt của con người, những hành vi này làm tăng sự tiếp xúc và làm giảm hiệu quả của các biện pháp phòng chống VTSR Trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập đến một số tập tính VTSR như tập tính đốt mồi, tập tính ưa thích vật chủ và tập tính trú đậu làm cơ sở cho các biện pháp phòng chống VTSR thích hợp Trong phần tổng quan nghiên cứu này tập trung vào 2

VTSR chính là An dirus và An minimus và 1 VTSR phụ An maculatus

1.3.1 Tập tính ưa thích vật chủ

1.3.1.1 Tập tính ưu thích vật chủ của muỗi An dirus

Nhìn chung An dirus là loài ưa đốt máu người hơn so với gia súc Tỷ lệ

đốt máu người so với đốt máu động vật thay đổi theo từng địa phương nhưng thường muỗi đốt người nhiều hơn đốt động vật

Aung và CS (1999), điều tra ở Myanmar cho thấy muỗi An dirus đốt

người cao hơn đốt gia súc tương ứng là 1,6/1 [44] Das và CS (2007), điều tra

tại Assam, Ấn Độ phát hiện muỗi An dirus chủ yếu đốt người, không thu thập được muỗi An dirus ở chuồng gia súc [45] Tainchum và cộng sự (CS) (2014),

Trang 23

điều tra ở Tây Bắc Thái Lan cho thấy muỗi An dirus đốt người chiếm 97%

tổng số muỗi bắt được bằng phương pháp mồi người [46]

Ở Việt Nam, nghiên cứu ở Vân Canh, Bình Định cho thấy, sự lan truyền bệnh sốt rét tăng lên trong những tháng có nhiệt độ trên 25 0C và độ ẩm không khí từ 70 % trở lên, những sinh cảnh ven rừng có tán là nơi các véc tơ sốt rét

An dirus và An minimus có số lượng cá thể lớn Quần thể An dirus rất thích

hút máu người, kết quả phản ứng ngưng kết huyết thanh xác định máu vật chủ trên thạch cho thấy tỷ lệ đốt người là 91,67 % [47]

Nghiên cứu ở Khánh Phú (Khánh Hoà) tỷ lệ An dirus đốt máu người so với

đốt máu động vật là 6/1 [38], ở Tây Nguyên là 11/1 [28], Thái Khắc Nam và CS

(2017), điều tra tại Bình Thuận thu được muỗi An dirus bằng phương pháp mồi

người và bẫy đèn trong nhà rẫy, phương pháp soi chuồng gia súc không thu được

muỗi An dirus [42] Trường hợp đặc biệt ở một điểm thuộc Côn Đảo (Bà Rịa Vũng

Tàu) năm 2006 cho thấy An dirus có mật độ đốt gia súc rất cao 33con/giờ/người

trong khi đó mật độ đốt người chỉ 4 con/giờ/người [48]

1.3.1.2 Tập tính ưa thích vật chủ của muỗi An minimus

Muỗi An minimus có ái tính với máu người, mật độ muỗi đốt người

thường cao hơn đốt gia súc Tuy nhiên, mật độ này cũng thay đổi ở những vùng

khác nhau

Aung và CS (1999), điều tra tại Myanmar cho thấy muỗi đốt người và gia súc tương ứng là 0,14/1 [44] Nghiên cứu của Dev và CS (2003), ở Bắc Ấn Độ

cho thấy muỗi An minimus đốt người chiếm 93% số muỗi An minimus bắt

được [49] Garros và CS (2006), nghiên cứu ở Lào cho thấy muỗi An minimus

đốt người và gia súc với tỷ lệ tương ứng là 10,11/1 [50] Tuy nhiên một số nơi

muỗi An minimus mật độ muỗi đốt người thấp hơn so với đốt gia súc. Chang

và CS (2008), nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy muỗi An minimus đốt gia súc

là chủ yếu [51]

Trang 24

Ở Việt Nam, các nghiên cứu thí điểm tại Vân Canh trước đây cho thấy An minimus có ái tính với máu người, kết quả thử phản ứng ngưng kết huyết thanh

là 61 %, song vẫn còn một tỷ lệ đốt gia súc (khoảng từ 10 đến 30 %) [47] Lê Khánh Thuận và CS (2001), nghiên cứu ở Bình Định và Gia Lai cho thấy tỷ lệ

muỗi An minimus đốt người chiếm 90% số muỗi thu được bằng mồi người

[52] Vũ Việt Hưng và CS (2014), điều tra ở ven biển xã Bình Thạnh, tỉnh Bình

Thuận cho thấy mật độ muỗi An minimus đốt người trong nhà rẫy là 38,00

con/nguời/đêm; ngoài nhà rẫy là 11,25 con/người/đêm và soi chuồng gia súc ban đêm là 0,22 con/giờ/người [53] Tuy nhiên, kết quả một số nghiên cứu cho

thấy mật độ muỗi An minimus đốt người thấp hơn đốt gia súc Cuong và CS (2010), điều tra ở Quảng Bình cho thấy An minimus đốt người và gia súc tương

ứng là 0,35/1 [54] Vũ Việt Hưng và CS (2017), điều tra ở xã Chu Hương, tỉnh

Bắc Kạn trong 6 năm muỗi An minimus thu thập chủ yếu bằng phương pháp

soi chuồng gia súc ban đêm, phương pháp mồi người trong nhà và ngoài nhà

thu thập được muỗi An minimus với mật độ thấp [55]

1.3.1.3 Tập tính ưa thích vật chủ của muỗi An maculatus

Muỗi An maculatus là loài thích đốt gia súc hơn đốt người, nhưng vẫn có

một số đốt người cả trong nhà và ngoài nhà Irfanul Chakim và CS (2019),

nghiên cứu ở Indonesia cho thấy muỗi An maculatus với tỷ lệ 0,12con/người

[56] Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Huơng Bình (2009), cho thấy

muỗi An maculatus đốt gia súc cao hơn so với đốt người Phương pháp soi chuồng gia súc ban đêm ở Quảng Bình thu thập được muỗi An maculatus

chiếm 83,55%; ở Sơn La chiếm 90,52%; ở Hòa Bình chiếm 95,29% của tất cả phương pháp điều tra loài muỗi này [57]

Bùi Lê Duy và CS (2015), điều tra tại Tuyên Quang cho thấy muỗi An maculatus chỉ thu thập được bằng phương pháp soi chuồng gia súc ban đêm, phương pháp mồi người không thu thập được muỗi An maculatus [58]

Trang 25

Đào Minh Trang (2021) nghiên cứu tại Lai Châu cho thấy muỗi An maculatus ưa đốt gia súc hơn nhưng cũng thích đốt người Mật độ muỗi An macualatus thu thập bằng phương pháp soi chuồng gia súc đêm 32,06

con/giờ/người, bằng phương pháp mồi người trong nhà là 0,43 con/người/đêm, bằng phương pháp mồi người ngoài nhà 3,21 con/người/đêm [59]

1.3.2 Tập tính đốt mồi

1.3.2.1 Tập tính đốt mồi của muỗi An dirus

Thời gian hoạt động tìm mồi của An dirus suốt đêm, đốt người cả trong

và ngoài nhà, mật độ muỗi đốt người cao hơn vào nửa đầu của đêm [38] Đốt mồi ngoài nhà có xu hướng cao hơn trong nhà và đỉnh hoạt động thay đổi theo vùng và theo mùa

Sidavong và CS (2004), điều tra tại tỉnh Attapeu ở Lào cho thấy muỗi An dirus hoạt động đốt mồi trong nhà chiếm 61,3% và ngoài nhà là 38,7%; muỗi

đốt mồi sớm từ 17 giờ, hoạt động đốt mồi suốt đêm đến 5 giờ sáng, đỉnh đốt mồi lúc 22 giờ [60] Nghiên cứu của Chatchai Tanancha và CS (2012), ở Thái

Lan cho thấy muỗi An dirus hoạt động đốt mồi sớm từ 18h, đỉnh đốt mồi trong

nhà từ 19 giờ – 20 giờ, đỉnh đốt mồi ngoài nhà là 23 giờ đến 1 giờ [61]

Tại Việt Nam, muỗi An dirus thường đốt mồi sớm từ 18 giờ, đỉnh hoạt động đốt mồi của An dirus phổ biến là từ 20 – 24 giờ Nghiên cứu của Nguyễn Sơn Hải

và CS (2003), ở xã Khánh Phú, tỉnh Khánh Hòa muỗi An dirus hoạt động đốt mồi

trong rừng bắt đầu từ 18 giờ – 19 giờ, muỗi đốt mồi suốt đêm đến 5 giờ sáng, đỉnh đốt mồi từ 20 giờ – 22 giờ [8] Vũ Việt Hưng và CS (2016), điều tra ở Gia Lai cho

thấy muỗi An dirus hoạt động đốt mồi ở khu nhà rẫy bắt đầu từ 18 giờ – 19 giờ,

đỉnh đốt mồi từ 21 giờ – 23 giờ [62] Ở một số địa phương khoảng 85% An dirus bắt được trước 24 giờ Hoạt động đốt người sớm của An dirus phần nào hạn chế tác dụng của màn tẩm hóa chất vì một tỷ lệ đáng kể An dirus đốt người trong lúc

chưa đi ngủ và do đó màn tẩm hóa chất không phát huy tác dụng (Hồ Đình Trung,

Trang 26

2002) [63] Do đó, việc phòng chống VTSR bằng các biện pháp bổ sung khi con người chưa vào trong màn là cần thiết

1.3.2.2 Tập tính đốt mồi của muỗi An minimus

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng An minimus thích đốt mồi ngoài nhà hơn trong nhà Hoạt động đốt mồi của An minimus suốt đêm và đỉnh đốt mồi thay

đổi theo không gian và thời gian [64] Sungsit Sungvornyothin và CS (2006),

điều tra tại Thái Lan cho thấy đỉnh đốt mồi của muỗi An minimus ngoài nhà là

18 giờ, trong nhà có hai đỉnh là 20 giờ và 24 giờ [65]

Ở Việt Nam, nghiên cứu ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên cho thấy,

An minimus phát triển quanh năm, có đỉnh phát triển thứ nhất vào tháng 4 – 5,

đỉnh phát triển thứ hai vào tháng 9 – 11, phân bố rộng từ vùng gần rừng, phát tán ra vùng savan cây bụi, véc tơ này có ưu thế ở vùng gần rừng, mật độ giảm

ở vùng rừng và rừng rậm An minimus hoạt động đốt máu suốt đêm và có mật

độ cao nhất từ 22 giờ – 24 giờ [52]. Vũ Việt Hưng và CS (2015), điều tra tại xã Trà Dơn, tỉnh Quảng Nam cho thấy mật độ muỗi thu được bằng mồi người trong nhà thấp hơn mồi người ngoài nhà tương ứng là 0,45 và 0,92 con/người/đêm, đỉnh đốt mồi từ 20 giờ – 21 giờ [66]

1.3.2.3 Tập tính đốt mồi của muỗi An maculatus

Muỗi An maculatus đốt mồi cả trong nhà và ngoài nhà Nhưng mật độ đốt mồi ngoài nhà thường cao hơn trong nhà Hoạt động đốt mồi của An maculatus sớm từ 18 giờ, đỉnh đốt mồi từ 20 giờ – 23 giờ Irfanul Chakim và

CS (2019), nghiên cứu ở Indonesia cho thấy muỗi An maculatus cho thấy muỗi

An maculatus có mật độ đốt mồi ngoài nhà cao hơn trong nhà, đỉnh đốt mồi từ

20 giờ – 22 giờ [56] Ở Việt Nam, muỗi An maculatus đốt mồi sớm, mật độ

đốt mồi ngoài nhà cao hơn trong nhà Vũ Việt Hưng và CS (2016), điều tra ở

Gia Lai cho thấy muỗi An maculatus có mật độ muỗi đốt mồi ngoài nhà cao

hơn trong nhà, hoạt động đốt mồi sớm từ 18 giờ – 19 giờ, đỉnh đốt mồi lúc 21

Trang 27

giờ – 23 giờ [62] Đào Minh Trang (2021) nghiên cứu tại Lai Châu cho thấy

muỗi An maculatus thu thập ngoài nhà chiếm tỷ lệ cao hơn trong nhà [59]

1.3.3 Tập tính trú đậu

1.3.3.1 Tập tính trú đậu của muỗi An dirus

Các nghiên cứu về sinh thái học của An dirus ở Việt Nam, Campuchia,

Thái Lan, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á đều kết luận rằng loài này trú đậu và tiêu máu ngoài nhà [40] Tại điểm nghiên cứu Quỳnh Thắng (Quỳnh

Lưu, Nghệ An) (Vũ Thị Phan, 1973) đã bắt được An dirus trú đậu ban ngày

ngoài trời trong các bụi cây có độ cao từ 2 mét trở xuống và trong các hốc cây, hốc đất [67]

Những nghiên cứu gần đây tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên chỉ

thu được muỗi An dirus bằng phương pháp mồi người và bẫy đèn trong nhà ban đêm, không thu được muỗi An dirus trú đậu trong nhà ban ngày [42],[62]

Muỗi An dirus có tập tính trú đậu và tiêu máu ngoài nhà, nên phun tồn lưu hóa

chất diệt côn trùng trong nhà có hiệu quả diệt muỗi thấp

1.3.3.2 Tập tính trú đậu của muỗi An minimus

Tập tính trú đậu tiêu máu trong nhà, ưa đốt máu người của An minimus

đã được xác định bởi nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cũng như ở các nước khác

Vị trí đậu trong nhà thường ở trên bề mặt tường vách có độ cao 2 mét trở xuống

so với mặt sàn hoặc những vật dụng như quần áo treo trên tường, các dụng cụ

đựng thóc lúa Sau thời gian dài phun DDT thấy có sự thay đổi tập tính ở An minimus, một số quần thể chủ yếu trú đậu ngoài nhà hoặc có hiện tượng tránh

hoá chất bằng cách đậu trên các vật dụng nơi không có hoá chất, và tỷ lệ đốt máu gia súc cũng cao hơn [64] Myo Paing và CS (1988) thông báo rằng ở

Myanmar tỷ lệ muỗi An minimus trú đậu và tiêu máu ngoài nhà cao hơn so với

trong nhà mặc dù đã ngừng phun DDT 10 năm [68]

Ở Việt Nam, Nguyễn Thọ Viễn và CS (1997), nghiên cứu ở xã Khánh

Phú, tỉnh Khánh Hòa cho thấy muỗi An minimus trú đậu trong nhà, bao gồm các

Trang 28

giai đoạn tiêu máu và phát triển trứng [69] Nghiên cứu của Bùi Lê Duy và CS

(2015), tại Tuyên Quang cho thấy mật độ An minimus trú đậu trong nhà thấp

0,14 con/nhà [58] Vũ Việt Hưng và CS (2017), tổng kết 9 đợt điều tra trong 6 năm tại xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nơi đã dừng phun tồn lưu và

tẩm màn từ năm 2010, cho thấy muỗi An minimus trú đậu và tiêu máu trong nhà

với mật độ cao nhất tháng 5 năm 2013 với mật độ là 7,13 con/nhà [55]

1.3.3.3 Tập tính trú đậu của muỗi An maculatus

Nghiên cứu trên thế giới cho thấy muỗi An maculatus là loài chủ yếu trú

đậu và tiêu máu ngoài nhà [70] Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Huơng Bình (2009), bằng phương pháp soi muỗi trú đậu trong nhà ban ngày thu thập

được muỗi An maculatus ở Quảng Bình chiếm 0,15%; ở Sơn La chiếm 0,50%

và ở Hòa Bình chiếm 0,47% tổng số muỗi An maculatus của tất cả phương pháp

điều tra [57] Vũ Việt Hưng và CS (2016), điều tra tại Gia Lai không thu muỗi

An maculatus trú đậu trong nhà ban ngày [62] Đào Minh Trang và CS (2021)

nghiên cứu tại Lai Châu thu thập được muỗi An maculatus trú đậu trong nhà

bằng phương pháp soi trong nhà ban ngày với số lượng ít [59]

1.4 Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles

Ở vùng sốt rét lưu hành nặng, việc xác định vai trò truyền sốt rét của một loài muỗi nào đó chủ yếu dựa trên kết quả mổ muỗi tìm thoa trùng trong tuyến nước bọt Ở vùng sốt rét lưu hành nhẹ, do tỷ lệ nhiễm KSTSR trong quần thể véc tơ thấp, nên mổ tuyến nước bọt tìm thoa trùng thường không hiệu quả Trong tình huống này thường áp dụng kỹ thuật ELISA – phản ứng miễn dịch liên kết enzym (Enzym-Linked Immunosorbent Assay) hoặc kỹ thuật PCR để phát hiện KSTSR trong cơ thể muỗi

1.4.1 Vai trò truyền bệnh sốt rét của An dirus

Muỗi An dirus là một trong những VTSR quan trọng vùng Đông Nam

Á, nhất là vào mùa mưa, về mùa khô vai trò truyền bệnh của An dirus giảm do mật độ quần thể giảm xuống Tỷ lệ nhiễm thoa trùng của An dirus cũng thay

Trang 29

đổi theo mùa, chẳng hạn ở một điểm miền Nam Myanmar tỷ lệ thoa trùng giữa mùa mưa là 3%, cuối mùa mưa là 5%, và mùa khô lạnh là 8,3% [44] Tangena

và CS (2017), nghiên cứu tại Lào cho thấy muỗi An dirus lan truyền sốt rét

trong rừng và ở khu dân cư tại Lào, khả năng truyền sốt rét thấp hơn so với

muỗi An maculatus và An minimus cả mùa mưa và mùa khô [71]

Ở Việt Nam, muỗi An dirus là véc tơ chính truyền sốt rét trong rừng,

rẫy Cho đến nay tỉ lệ nhiễm thoa trùng phát hiện bằng phương pháp mổ tuyến

nước bọt ở An dirus cao nhất được ghi nhận ở các thời điểm từ 1993 đến 1995

là 3,98%; và vào tháng 2/2004 tỷ lệ này là 4,5% tại Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hoà [72] Trương Văn Có và CS đã tổng kết kết quả ELISA trong khoảng thời

gian 2001-2003 thấy tỷ lệ nhiễm KSTSR của An dirus ở Vân Canh tỉnh Bình

Định thay đổi theo mùa và cao nhất trong các tháng 10 và tháng 11 tương ứng

là 2,06 % và 2,94% [73] Những vùng rừng núi ở Việt Nam có mặt của An dirus thì đồng thời cũng thường có mặt của An minimus Về mùa mưa quần thể

An dirus có điều kiện phát triển mạnh và giữ vai trò chính, nhưng về mùa khô thì vai trò của An minimus lại trội hơn Hai véc tơ này kết hợp truyền bệnh làm

cho sự lan truyền xảy ra gần như quanh năm Kết quả theo dõi 3 năm 2004) về khả năng truyền bệnh ở các sinh cảnh khác nhau tại Khánh Vĩnh, Khánh Hoà các tác giả đã tính được chỉ số lan truyền côn trùng ở trong rừng,

(2002-bìa rừng và tại thôn bản của An dirus (Entomological Inoculation Rate – EIR)

trong rừng là 46,4; bìa rừng là 18,1; và ở tại thôn chỉ là 0,32 [72] Điều này

càng chứng tỏ mức độ lan truyền sốt rét trong rừng do An dirus cao

Maeno và CS (2015 và 2017), phân tích tổng cộng 206 mẫu An dirus

nhiễm thoa trùng ở xã Khánh Phú, tỉnh Khánh Hòa bằng phương pháp PCR

phát hiện 6 loài KSTSR Trong đó 3 loài KSTSR ở người là P falciparum và

P vivax, P knowlesi; 3 loài KSTSR không phải ở người là, P coatneyi, P inui,

P cynomolgi [74],[75],[76]

Trang 30

1.4.2 Vai trò truyền bệnh sốt rét của An minimus

Nghiên cứu của các tác giả Muirhead Thomson (1941), Chacrabakti (1957), Das (1985), Dutta (1987), Dev (1996) khẳng định vai trò truyền sốt rét

của An minimus sl ở nhiều nước Đông Nam Á và Nam Á [77]

Ở Thái Lan, Ratanatham và cộng sự (1988) nghiên cứu vai trò truyền

bệnh của An minimus ở huyện Pakchong tỉnh Nakhon Ratchasima, Thái Lan

thấy tỷ lệ nhiễm Oocyste là 0,4% (mổ 1518 dạ dày muỗi), thoa trùng 0% (mổ tuyến nước bọt 1580 muỗi) [78]

Ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm thoa trùng trong cơ thể

muỗi An minimus tại Chư Sê – Gia Lai (1999 – 2000) trung bình năm là 2,84 %

Ở Khánh Phú trước năm 1999, An minimus đóng vai trò truyền bệnh sốt rét

chính, chúng chiếm hơn 84 % tổng số muỗi có thoa trùng đốt người và tỷ lệ nhiễm thoa trùng tự nhiên trong năm là 3,51 % (ELISA là 8,7 %) [52]

Tại điểm nghiên cứu Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hoà kết quả mổ trực tiếp

An minimus nhiễm nang trùng là 1,32%, thoa trùng là 3,58%; kết quả ELISA

là 8,37% (1993-1995), chỉ số khả năng truyền bệnh (Vectorial Capacity –VC)

của An minimus tại đây ở thời điểm này là 1,6 (trong khi của An dirus cũng

là véc tơ chính chỉ là 0,28)chứng tỏ mức độ nguy hiểm của An minimus [38]

Nguyễn Sơn Hải và CS (2009), đã nghiên cứu so sánh đặc điểm sinh học

giữa An minimus và An harrisoni, kết quả cho thấy chưa có bằng chứng chứng

tỏ An harrisoni không có vai trò truyền sốt rét, mổ tự nhiên 517 cá thể An harrisoni nhưng không thấy trường hợp nào nhiễm thoa trùng Trong khi đó tỷ

lệ nhiễm thoa trùng trung bình năm của An minimus lên tới 7,07% và chỉ số

truyền nhiễm năm cao nhất là 10,3 [79]

1.4.3 Vai trò truyền sốt rét của muỗi An maculatus

Nghiên cứu của Sriwichai và CS (2016), tại Thái Lan bằng phương pháp

ELISA cho thấy muỗi An maculatus nhiễm KSTSR là 0,37% [80] Tangena và

CS (2017), nghiên cứu tại Lào cho thấy muỗi An maculatus truyền sốt rét ở

Trang 31

rừng và ở khu dân cư, khả năng truyền sốt rét các tháng mùa mưa cao hơn mùa

khô và cao hơn so với muỗi An dirus và An minimus cả mùa mưa và mùa khô

[71] Muỗi An maculatus là VTSR chính tại Malaysia, Thái Lan và Lào, nhưng

chỉ được coi là véc tơ phụ truyền sốt rét ở Việt Nam Một số nơi phát hiện muỗi

An maculatus nhiễm KSTSR với tỷ lệ thấp Nguyễn Tuyên Quang và CS

(1997), nghiên cứu ở xã Khánh Phú, tỉnh Khánh Hòa bằng phương pháp ELISA

cho thấy muỗi An macutatus nhiễm KSTSR là 0,67% [38] Nguyễn Thị Hương Bình (2009), nghiên cứu ở xã Đắk Ơ, tỉnh Bình Phước bằng phương pháp

ELISA cho thấy muỗi An maculatus nhiễm P falciparum là 0,58% [57]

1.5 Kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét

1.5.1 Sự kháng hoá chất diệt côn trùng

Sự kháng hoá chất diệt côn trùng theo định nghĩa của WHO là: “Sự phát triển khả năng sống sót của một số cá thể sau khi tiếp xúc với nồng độ nào đó của một hoá chất mà với nồng độ đó đa số các cá thể trong một quần thể bình thường của loài đó sẽ bị chết” [81].

Khả năng phát triển kháng phụ thuộc vào các yếu tố sinh học, sinh thái học của côn trùng, mức độ trao đổi dòng gene giữa các quần thể, độ bền của hoá chất và cường độ sử dụng hoá chất bao gồm liều lượng và thời gian [82]

Tính kháng hoá chất diệt côn trùng là một hiện tượng có thể xuất hiện trong mọi nhóm côn trùng truyền bệnh

1.5.2 Nghiên cứu kháng với hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới và tại Việt Nam chủ yếu sử dụng hóa chất để phòng chống véc tơ sốt rét, đến nay phát hiện nhiều loài muỗi kháng với hóa chất diệt côn trùng ở nhiều nơi với mức độ, cơ chế và phạm vi khác nhau Một trong những nguyên nhân là do sử dụng hóa chất phun tồn lưu và tẩm màn trong thời gian

dài Wanjala C L (2018) thử nghiệm tại Tây Kenya cho thấy muỗi An gambiae

là véc tơ sốt rét chính ở Châu Phi đã kháng với nhóm pyrethroid và DDT ở tất

Trang 32

cả các điểm nghiên cứu Có bằng chứng cho thấy enzym monoxygenases và

esterase tăng hoạt động trong quần thể muỗi An gambiae kháng [83] Fodjo B

K (2018) thử nghiệm tại Bờ Biển Ngà muỗi An gambiae kháng với DDT,

deltamethrin nhưng nhạy với malathion Gen kháng kdr-East mang đột biến ở

vị trí L1014S, kdrWest mang đột biến ở vị trí L1014F và Ace1 mang đột biến

ở vị trí G119S được xác định xuất hiện ở muỗi An gambiae [84]

Ở Việt Nam, nghiên cứu tại Khánh Hòa năm 2014 cho thấy muỗi An dirus có thể kháng với alphacypermethrin [85] Điều tra năm 2016, phát hiện

muỗi An minimus tại xã Xuân Bình (Thanh Hóa), muỗi An dirus tại xã Phước

Bình (Ninh Thuận) có thể kháng với lambdacyhalothrin [86] Một số nghiên cứu ở Việt Nam đã cho thấy cơ chế kháng hóa chất của muỗi truyền sốt rét là

cơ chế trao đổi chất [87],[88]

Năm 2014, Viện Sốt rét Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương đã xây dựng được các bản đồ nhạy cảm của 9 loài véc tơ sốt rét với 6 loại hóa chất diệt côn trùng ở Việt Nam từ 2003 – 2012 Trong đó, 49/132 điểm thử kháng với alphacypermethrin; 59/126 điểm thử kháng với lambdacyhalothrin; 4/10 điểm thử kháng với deltamethrin; 34/77 điểm thử kháng với permethrin; 16/59 điểm thử kháng với DDT và 1/6 điểm thử kháng với etofenprox [89]

Năm 2019, Nguyễn Thị Anh và CS đã thống kê tình hình kháng hóa chất của các VTSR qua các đợt điều tra từ năm 2013-2018 ở Việt Nam Kết quả cho

thấy, muỗi An minimus phát hiện ở 1/19 điểm (5,62%) có thể kháng với alphacypermethrin, 3/19 điểm có thể kháng với lambdacyhalothrin Muỗi An dirus phát hiện ở 2/9 điểm (22,22%) có thể kháng với alphacypermethrin, 1/8 điểm (12,5%) có thể kháng lambdacyhalothrin Muỗi An epiroticus phát hiện

5/12 điểm (41,67%) có thể kháng và 5/12 (41,67%) điểm đã kháng với alphacypermethrin, phát hiện 4/9 điểm (44,44%) có thể kháng và 4/9 (44,44%) điểm đã kháng với lambdacyhalothrin [90]

Trang 33

Sự phát triển tính kháng hóa chất diệt của các VTSR làm cho hiệu quả công tác phòng chống VTSR gặp nhiều hạn chế Do đó, thường xuyên điều tra mật độ véc tơ và đánh giá mức độ kháng hóa chất diệt côn trùng sẽ giúp cho các nhà côn trùng, dịch tễ lựa chọn hóa chất để chủ động xử lý các điểm có nguy cơ mắc bệnh sốt rét cao tại Việt Nam Giám sát véc tơ và đánh giá mức

độ kháng hóa chất diệt côn trùng còn giúp cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chiến lược có cơ sở xây dựng chiến lược phòng chống bệnh và tiến tới loại trừ sốt rét trong tương lai

1.5.3 Mức độ nhạy cảm của muỗi Anopheles tại Sơn Thái, Khánh Vĩnh, Khánh Hòa

Đánh giá mức độ nhạy kháng của muỗi Anopheles với hóa chất diệt côn trùng là một nội dung quan trong công tác giám sát véc tơ sốt rét Theo báo cáo kết quả các đợt điều tra giám sát VTSR hàng năm từ 2013-2018) cho thấy, muỗi

An dirus, An maculatus thu thập tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh

Khánh Hòa nhạy cảm với hóa chất pyrethroid sử dụng trong chương trình phòng chống VTSR là lambdacyhalothrin và alphacypermethrin với tỷ lệ muỗi chết trong thử sinh học từ 98-100%

1.6 Các biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét

Có nhiều biện pháp có thể sử dụng để phòng chống VTSR bao gồm các biện pháp sử dụng hóa chất, các biện pháp vật lý, môi trường hoặc sử dụng các biện pháp sinh học Tuy nhiên, trong phòng chống VTSR hiện nay việc sử dụng hóa chất là phổ biến và có hiệu quả nhất cả trên Thế giới và Việt Nam Các biện pháp sử dụng hóa chất phòng chống VTSR được áp dụng nhằm diệt muỗi hoặc

bọ gậy làm giảm mật độ muỗi, hoặc xua muỗi, hay ngăn trở muỗi tiếp xúc với người để đạt được mục tiêu cuối cùng là hạn chế khả năng truyền bệnh của véc

tơ Các biện pháp hoá học phòng chống muỗi trưởng thành đã chứng tỏ hiệu quả và đã góp phần to lớn cho thành công của chương trình PCSR trên thế giới

và Việt Nam Các hoá chất được sử dụng dưới nhiều hình thức như phun tồn

Trang 34

lưu trong nhà ở, tẩm màn, tẩm rèm, tẩm tấm đắp hoặc khăn choàng, kem xua, hương xua, bình xịt… tuỳ theo điều kiện của từng địa phương, cá nhân mà người ta có thể áp dụng hình thức này hay hình thức khác Hai biện pháp đã và đang được áp dụng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam là phun tồn lưu trong nhà và sử dụng màn tẩm hóa chất

1.6.1 Biện pháp phun tồn lưu hóa chất trong nhà

Phun tồn lưu hóa chất trên tường vách là biện pháp được áp dụng trong phòng chống VTSR nói chung, tuy nhiên tùy theo điều kiện và véc tơ ở từng địa phương có hiệu quả khác nhau Đặc điểm sinh thái của véc tơ sau khi bay vào nhà tìm mồi đều có một khoảng thời gian đậu rình mồi trong nhà trước khi đốt mồi hoặc nghỉ sau khi đốt máu trước khi bay ra khỏi nhà Biện pháp này rất

có hiệu quả đối với những loài muỗi có tập tính trú đậu trong nhà trong suốt thời gian tiêu máu và phát triển trứng Khi đậu trên tường vách đã được phun hóa chất, muỗi tiếp xúc với hoá chất và muỗi bị nhiễm độc Các nghiên cứu cho thấy đa số muỗi đậu trên tường vách chỉ ở độ cao từ 2 mét trở xuống cho nên việc phun hóa chất cũng được chỉ định phun trên tường vách từ 2 mét trở xuống

để tiết kiệm kinh phí mà vẫn đạt được hiệu quả

Từ những năm 1940 đến 1970, trên thế giới chủ yếu sử dụng DDT để phun tồn lưu trong nhà phòng chống VTSR Đặc biệt trong giai đoạn thực hiện chiến lược thanh toán sốt rét trên toàn cầu do WHO khởi xướng (1955), DDT được xem như công cụ hữu hiệu nhất bởi giá thành rẻ và hiệu quả cao Tại các nước khu vực cận sa mạc Sahara từ những năm 1940 đến 1960 đã sử dụng DDT

để phun tồn lưu trong nhà phòng chống VTSR, các kết quả cho thấy dịch sốt rét đã giảm mạnh ở các nước khu vực này

Tại các nước Đông Nam Á từ những năm 1960 đến cuối những năm 1970 cũng sử dụng DDT để phun tồn lưu trong nhà phòng chống VTSR đã thu được những kết quả đáng ghi nhận Cuối những năm 1970 hầu hết các nước trong khu vực ngừng sử dụng DDT với 2 lý do chính là sự tồn lưu lâu dài trong môi

Trang 35

trường, trong cơ thể sinh vật và nhiều quần thể muỗi đã trở nên kháng hóa chất này Đến năm 2001 Thái Lan ngừng phun DDT và 2002 Myanmar ngừng phun DDT [91] Hiện nay tại khu vực Đông Nam Châu Á không còn quốc gia nào

sử dụng DDT để PCVT

Từ cuối những năm 1980, các nước trên thế giới chuyển sang sử dụng hóa chất thuộc nhóm pyrethroid tổng hợp như permethrin, lambdacyhalothrin, alphacypermethrin, deltamethrin để phun tồn lưu trong nhà hoặc tẩm màn phòng chống VTSR Nhóm hóa chất này có ưu điểm diệt côn trùng mạnh nhưng lại có độ độc thấp với động vật máu nóng và con người Tại Tanzania (1998) phun tồn lưu lambdacyhalothrin trong nhà với liều 30 mg/m2 cho thấy chỉ số lan truyền côn trùng giảm 92,6%, tỷ lệ mắc mới sốt rét ở trẻ em giảm 53,7%

[92] Tại Ladji (Benin, 2007) phun lambdacyhalothrin 10 WP trong nhà với hàm lượng 30mg/m2, tỷ lệ muỗi An gambiae chết sau 2 tháng là dưới 30%

[93] Tại Pakistan (2000) sử dụng alphacypermethrin phun tồn lưu trong nhà với liều 25 mg/m2 Sau 7 tháng phun tỷ lệ mắc mới P falciparum giảm 95% và

P vivax giảm 80% ở điểm can thiệp so với điểm đối chứng [94] Tại tỉnh Sabah, Malaysia (2004) sử dụng alphacypermethrin phun tồn lưu trong nhà làm giảm

mật độ muỗi An balabacensis [95]. Nghiên cứu của Gimnig và CS (2016), tại Tây Kenya phun hóa chất nhóm perythroid giảm KSTSR ở quận phun so với quận đối chứng [96]

Tại Việt Nam nhiều nghiên cứu sử dụng các hóa chất nhóm perythroid phòng chống véc tơ sốt rét cho thấy hiệu quả cao Tại xã Quyết Chiến (Hòa Bình, 2006) sử dụng Alé (Alphacypemethrin) 10SC phun tồn lưu trong nhà với liều 30 mg/m2, hóa chất có hiệu lực tồn lưu 6 tháng trên tường gỗ và tường

gạch, làm giảm mật độ muỗi An minimus trú đậu trong nhà ban ngày và vào

nhà tìm người đốt máu Không thấy tác dụng phụ của hóa chất [97] Tại xã Phú Cường (Hòa Bình, 2006) sử dụng Solfac WP 10 phun tồn lưu trong nhà với liều

50 mg/m2 có hiệu lực tồn lưu trên tường gỗ là 6 tháng, trên tường gạch là 2

Trang 36

tháng, không phát hiện tác dụng phụ của hóa chất [98] Tại xã Bình Thanh (Hòa Bình, 2016) sử dụng deltamethrin 25% WG phun trong nhà liều 25 mg/m2 và deltamethrin 62% SC phun trong nhà với liều 15, 20, 25 mg/m2 đối với tường

gỗ hóa chất hết hiệu lực tồn lưu trong 1 tuần, với tường gạch hóa chất tồn lưu trong 8 tuần Trên tường gỗ deltamethrin 25% WG có hiệu lực diệt tốt hơn deltamethrin 62% SC với cùng liều 25mg/m2[99]

Tuy nhiên, hiệu lực của phun tồn lưu trên tường vách cũng hạn chế đối với các loài muỗi có tập tính đốt mồi, trú đậu và tiêu máu ngoài nhà, như muỗi

An dirus Một số nơi nhà có tường vách không thích hợp để phun tồn lưu như

tường vách làm bằng tôn, do hóa chất không thấm được trên tôn mà chảy xuống dưới chân tường vách, hoặc mùa nóng làm tôn nóng nhanh sẽ phân hủy hóa chất nhanh hơn, hay nhà vách bằng đất hóa chất dễ bị thấm sâu vào trong vách làm giảm nồng độ bám trên bề mặt nơi mà muỗi có thể tiếp xúc

1.6.2 Biện pháp ngủ màn tẩm hóa chất

Biện pháp tẩm màn với hóa chất diệt côn trùng nhằm ngăn cản và làm giảm mức độ tiếp xúc giữa muỗi và người Biện pháp này thiên về bảo vệ cá nhân hơn là bảo vệ cộng đồng Tuy vậy, những con muỗi sau khi tiếp xúc với hoá chất tẩm trên màn có thể bị chết cho nên biện pháp này cũng có tác dụng bảo vệ cộng đồng, nhất

là khi màn tẩm hóa chất được sử dụng trên diện rộng với tỷ lệ người ngủ trong màn cao Nghiên cứu về hiệu quả của màn tẩm hóa chất từ năm 2003 đến năm 2015 ở miền tây Kenya (2016) cho thấy việc sử dụng màn tẩm hóa chất đã làm giảm tỷ lệ lây nhiễm KSTSR 23% vào năm 2008 và 43% vào năm 2010, 25% vào năm 2011

[100] West và cộng sự (2015), nghiên cứu ở Tanzania những trẻ em chỉ sử dụng

màn tẩm giảm nhiễm P falciparum (OR = 0,83, 95%CI: 0,70 – 0,98); trẻ em nhà phun tồn lưu kết hợp sử dụng màn tẩm giảm mắc P falciparum (OR = 0,41, 95%CI:

0,29 – 0,58) so trẻ em không sử dụng màn [101] Ở Việt Nam, Nguyễn Anh Tuấn

và CS (2017), nghiên cứu tại Hòa Bình và Bạc Liêu cho thấy màn tẩm kết hợp hóa

Trang 37

chất Fendona 10 SC với ICON 2,5 CS có hiệu quả diệt muỗi cao Hiệu lực diệt tồn

lưu sau 7-8 tháng đạt 65 – 78% với An minimus và An epiroticus [102]

Tuy nhiên, nhược điểm của màn tẩm hoá chất là tác dụng diệt tồn lưu giảm dần (hoặc hết tác dụng) sau một vài lần giặt và phải tẩm lại hàng năm, sau khi tẩm xong phải phơi khô màn trong bóng râm, vì nếu phơi ngoài nắng hóa chất sẽ bị phân hủy không còn tác dụng xua diệt muỗi Để khắc phục vấn

đề này, WHO khuyến khích các Nhà sản xuất màn nghiên cứu, tìm kiếm phương thức, công nghệ gắn hoá chất lên màn để hóa chất trên màn không bị mất (hoặc mất không đáng kể) sau mỗi lần giặt Loại màn này được gọi với tên chung là màn tẩm hóa chất diệt côn trùng tồn lưu lâu (Long Lasting Insecticidal Treated Nets – LLINs) Hiện nay, các loại màn LLINs đã được sử dụng tương đối rộng rãi trong chương trình PCSR ở nhiều nước Sử dụng màn LLINs có thể giảm bớt được chi phí cho việc tổ chức tẩm màn hàng năm đồng thời cũng giảm bớt lượng hoá chất sử dụng [103]

Rock và CS (2006) nghiên cứu tỷ lệ muỗi vào nhà tại Nam Burkina, Tây Phi cho biết, lượng muỗi bay vào nhà đối chứng cao hơn mười lần so với nhà có sử dụng màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu Tỷ lệ muỗi chết trong nhà tẩm hóa chất tồn lưu lâu là 36 %, trong khi đó nhà đối chứng là 0 % [104].Tại Tây Kenya (2017) những người sử dụng màn tồn lưu dài nhiễm ký sinh trùng sốt rét thấp hơn những người không sử dụng màn tồn lưu dài (OR = 0,61; 95 %CI: 0,42 – 0,88) [105]. Ketoh và

CS (2018), nghiên cứu tại Togo cho thấy màn PermaNet®3.0 và Olyset® Plus có

tác dụng bảo vệ giảm tỷ lệ muỗi An gambiae đốt người là 80,5% và 66,6% [106]

Nghiên cứu của Tchakounte và CS (2019), ở Cameroon cho thấy màn PermaNet

2.0 làm giảm tuổi thọ của muỗi An funestus và An gambiae từ 12,46 ngày xuống

6,95 ngày tại thực địa [107]

Tại Việt Nam, nghiên cứu sử dụng màn Permanet 2.0 PCSR ở xã Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh trong hơn một năm (thôn Sơn Thành dùng màn

Permanet 2.0; thôn Giang Mương sử dụng màn tẩm ICON 2,5 CS) Kết quả

Trang 38

cho thấy, hiệu quả bảo vệ của màn Permanet 2.0 không khác so với màn tẩm hóa chất bình thường Tuy nhiên, màn Permanet 2.0 có thời gian tồn lưu tốt hơn

màn thường rất nhiều (> 12 tháng), màn tẩm ICON thực tế chỉ cho thời gian tồn lưu 2 – 3 tháng [108] Tại Bạc Liêu (2011) sử dụng màn Permanet 2.0 và

Permanet 3.0 phòng chống muỗi An epiroticus đã kháng hóa chất diệt côn trùng

cho thấy màn Permanet có hiệu lực tương đương hoặc cao hơn một chút so với màn tẩm thông thường giặt đến ngưỡng chưa hết hiệu lực, màn Permanet 3.0 đạt tiêu chuẩn của màn tồn lưu lâu [109] Tại Bình Thuận (2014) sử dụng màn Permanet 2.0 chống muỗi đốt người trong nhà suốt đêm, hiệu lực bảo vệ của màn là 79% [5]. Vũ Đức Chính và CS (2016), nghiên cứu tại xã Đắk Nhau và

xã Đắk Ơ, tỉnh Bình Phước, cho thấy sau 3 năm sử dụng màn tẩm tồn lưu dài

Yorkool hiệu lực tồn lưu của màn với An dirus là 82% Có sự chấp nhận của

cộng đồng với màn này [110]

Hiệu quả bảo vệ trong phòng chống VTSR của biện pháp ngủ màn tẩm hóa chất phụ thuộc vào một số yếu tố chủ yếu như sự chấp nhận sử dụng màn của cộng đồng, tập tính đốt mồi, tập tính trú đậu của các véc tơ, hóa chất sử dụng và độ nhạy cảm của véc tơ tại địa phương với hóa chất tẩm màn

1.6.3 Biện pháp bảo vệ cá nhân bằng sử dụng sản phẩm xua côn trùng

Hóa chất xua được sử dụng tương đối phổ biến để ngăn ngừa các loài côn trùng hút máu Các chất này có thể được sử dụng ở một số dạng khác nhau như kem xua được xoa trực tiếp lên da, hoặc được xoa, tẩm vào quần

áo, màn, lưới chống côn trùng có tác dụng bảo vệ người trực tiếp dùng kem, hương xua hay nến xua có tác dụng bảo vệ những người đang ở trong không gian hẹp xung quanh nơi đốt hương hay đốt nến Hiệu quả và thời gian bảo

vệ tùy thuộc vào loại hóa chất, cách sử dụng, điều kiện môi trường (nhiệt độ,

độ ẩm gió ) Hóa chất xua rất có giá trị trong những tình huống mà các biện pháp khác không có hoặc kém tác dụng Hóa chất xua thường được sử dụng

để bảo vệ cho những người thường xuyên hoạt động ban đêm ngoài nhà và ở

Trang 39

lại ban đêm trong rừng, rẫy Tuy nhiên, có thể sử dụng khi ở nhà vào thời gian lúc sớm trong đêm trước khi buông màn đi ngủ để ngăn cản muỗi Anopheles đốt người

1.6.3.1 Kem xua muỗi

Các chất dùng bôi ngoài da có hiệu quả với nhiều loài côn trùng được sản xuất trong những năm 1940 phải kể đến là dimethylphtalat, indalone và ethylhexanedrriol Sự ra đời của diethyltoluamide (DEET) vào năm 1954 được xem là một bước đột phá của các sản phẩm xua côn trùng Cho đến nay, DEET vẫn được xem là sản phẩm tốt nhất, xua được nhiều loại côn trùng và thời gian tác dụng lâu [111]. Kweka và CS (2012), nghiên cứu tại Tanzania sử dụng kem xoa xua muỗi hoạt chất DEET giảm 92% muỗi đốt người [112]

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu về sử dụng kem xua phòng chống VTSR tại

Khánh Phú (Khánh Hòa) cho thấy kem xua chống muỗi An dirus đốt người 85%

trong 7 – 8 giờ, hiệu lực không giảm suốt đêm [113] Nghiên cứu tại Trà Dơn

(Quảng Nam) năm 2015 cho thấy kem xua chống muỗi Anopheles đốt người

90,11% trong 6 giờ, trong số người sử dụng có 0,65% người bị ngứa da [114]

1.6.3.2 Hương xua diệt muỗi

Ngoài các sản phẩm kem xua bôi trực tiếp lên da, sử dụng hương xua côn trùng cũng là một biện pháp bảo vệ bổ sung hiệu quả Hương xua muỗi được chế biến và sản xuất với hoạt chất chính là hóa chất nhóm pyrethroid có tác dụng xua hoặc cả diệt các loại côn trùng Hoạt chất trộn với một số chất dễ cháy như mùn cưa và một chất kết dính như tinh bột, hoạt chất này có tác dụng gây chết tức thời các loại côn trùng đang bay Hương xua muỗi thường được sản xuất dưới dạng hương que có thời gian sử dụng ngắn và dạng hương vòng

có thời gian sử dụng dài hơn

Sheila B Ogoma và cộng sự (2012) đã tổng kết một số các nghiên cứu về hương xua muỗi cho thấy hương xua có tác dụng ức chế hút máu, kích thích làm cho muỗi không tiếp xúc với mồi, xua muỗi và gây chết với một số loài muỗi

Trang 40

[115] Avicor và CS (2017), nghiên cứu tại Ghana cho thấy hương xua diệt muỗi hoạt chất d-allethrin có tác dụng làm muỗi ngã quỵ nhanh Tỷ lệ muỗi chết sau 24 giờ dưới 85% [116].

Ở Việt Nam, Bùi Lê Duy (2017), nghiên cứu tại xã Trà Dơn, tỉnh Quảng Nam cho thấy hương xua diệt muỗi hoạt chất metofluthrin có hiệu lực chống muỗi Anopheles là 90,11% Hương xua diệt muỗi an toàn với người sử dụng [117]

1.6.3.3 Nến xua diệt muỗi

Bên cạnh các sản phẩm kem xua, hương xua, nến xua diệt muỗi đã và đang được nghiên cứu thử nghiệm trong phòng chống côn trùng truyền bệnh Nến xua muỗi chứa transfluthrin một hóa chất nhóm pyrethroid đã được thử nghiệm sử dụng có hiệu quả ở một số nước như Malaysia, Australia trong phòng chống côn trùng truyền bệnh Đặc biệt ở các khu vực không có nguồn điện sử dụng trong sinh hoạt

Transfluthrin là một hóa chất nhóm pyrethroid tổng hợp, có công thức 2

nên transfluthrin được ứng dụng nhiều trong các sản phẩm phòng chống côn trùng dạng xông hơi như hương xua, tấm xua và nến xua Do cấu trúc phân tử đặc biệt ở vòng phenoxybenzyl của transfluthrin, enzyme Cytochrome P450 không có khả năng phân hủy nên transfluthrin là một hóa chất hứa hẹn trong phòng chống muỗi, đặc biệt với muỗi kháng hóa chất Nghiên cứu của hãng Bayer cho thấy rằng transfluthrin có tiềm năng để kiểm soát muỗi Anopheles kháng hóa chất theo cơ chế đột biến gen kdr và kháng theo cơ chế trao đổi chất, và là hóa chất tiềm năng cho việc kiểm soát muỗi kháng pyrethroid trong các chương trình quản lý kháng [118]

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Vũ Đức Chính và CS (2016) về hiệu lực sinh học nến xua muỗi chứa transfluthrin do Malaysia sản xuất cho thấy nến có

hiệu lực phòng chống muỗi An epiroticus là 71,92%, Cx vishnui là 76,36% Tỷ

lệ hộ dân dùng nến cao 98% [119]

Ngày đăng: 10/10/2022, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Lê Xuân Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng (2010), Bệnh sốt rét và chiến lược phòng chống. Bệnh sốt rét trên thế giới, lịch sử, thực trạng và phòng chống, Nhà xuất bản Y học, Tr. 13 – 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sốt rét trên thế giới, lịch sử, thực trạng và phòng chống
Tác giả: Lê Xuân Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
11. WHO (2012), World Malaria Report, 12. WHO (2015) World Malaria Report 2015 13. WHO (2014), World Malaria Report 2013, 14. WHO (2020), World Malaria Report 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Malaria Report
Tác giả: WHO
Năm: 2012
15. Chính phủ (2011), Chiến lược quốc gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng đến năm 2030, Tr. 20 – 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng đến năm 2030
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
16. Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương (2011), Báo cáo Hội nghị tổng kết công tác phòng chống sốt rét 10 năm 1991 – 2000, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Tr. 51 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nghị tổng kết công tác phòng chống sốt rét 10 năm 1991 – 2000
Tác giả: Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2011
17. Bộ Y tế (2016), Báo cáo tổng kết công tác phòng chống bệnh sốt rét, ký sinh trùng côn trùng năm 2015, phương hướng hoạt động năm 2016, Viện Sốt rét –Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, 27 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng chống bệnh sốt rét, ký sinh trùng côn trùng năm 2015, phương hướng hoạt động năm 2016
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Viện Sốt rét –Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương
Năm: 2016
18. Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn Trùng Trung ương (2019), Báo cáo tổng kết công tác phòng chống & loại trừ sốt rét năm 2019 và kế hoạch năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng chống & loại trừ sốt rét năm 2019 và kế hoạch năm 2020
Tác giả: Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn Trùng Trung ương
Năm: 2019
19. Viện sốt rét-ký sinh trùng-côn trùng trung ương (2021), Tài liệu hội nghị tổng kết công tác phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2016- 2021, triển khai kế hoạch năm 2021; Công bố kết quả loại trừ bệnh sốt rét năm 2020; kế hoạch phòng chống Ký sinh trùng giai đoạn 2021- 2025 (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị tổng kết công tác phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2016- 2021, triển khai kế hoạch năm 2021; Công bố kết quả loại trừ bệnh sốt rét năm 2020; kế hoạch phòng chống Ký sinh trùng giai đoạn 2021- 2025
Tác giả: Viện sốt rét-ký sinh trùng-côn trùng trung ương
Nhà XB: Lưu hành nội bộ
Năm: 2021
20. Reinert J. F. (2010), “Species of mosquitoes (Diptera: Culicidae) with published illustrations and/or descriptions of eggs-summary”, European Mosquito Bulletin, 28 pp. 182-186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Species of mosquitoes (Diptera: Culicidae) with published illustrations and/or descriptions of eggs-summary”, "European Mosquito Bulletin
Tác giả: Reinert J. F
Năm: 2010
21. Cox F. E. G. (2010), “History of the discovery of the malaria parasites and their vectors”, Parasites & Vectors, 3:5, DOI:parasitesandvectors.com/content/3/1/5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: History of the discovery of the malaria parasites and their vectors
Tác giả: Cox F. E. G
Nhà XB: Parasites & Vectors
Năm: 2010
22. Sinka ME, Bangs MJ, Manguin S, Rubio-Palis Y, Chareonviriyaphap T, Coetzee M, Mbogo CM, Hemingway J, Patil AP, Temperley WH, Gething PW, Kabaria CW, Burkot TR, Harbach RE, Hay SI. (2012), “A global map of dominant malaria vectors”, Parasites & Vectors, Parasit Vectors. 2012;5(69). DOI: 10.1186/1756-3305-5-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A global map of dominant malaria vectors
Tác giả: Sinka ME, Bangs MJ, Manguin S, Rubio-Palis Y, Chareonviriyaphap T, Coetzee M, Mbogo CM, Hemingway J, Patil AP, Temperley WH, Gething PW, Kabaria CW, Burkot TR, Harbach RE, Hay SI
Nhà XB: Parasites & Vectors
Năm: 2012
24. Takano KT, Nguyen NT, Nguyen BT, Sunahara T, Yasunami M, Nguyen MD, Takagi M (2010), “Partial mitochondrial DNA sequences suggest the existence of a cryptic species within the Leucosphyrus group of the genus Anopheles (Diptera: Culicidae), forest malaria vectors, in northern Vietnam”, Parasit Vectors, ;3:41. DOI: 10.1186/1756-3305-3.41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Partial mitochondrial DNA sequences suggest the existence of a cryptic species within the Leucosphyrus group of the genus Anopheles (Diptera: Culicidae), forest malaria vectors, in northern Vietnam
Tác giả: Takano KT, Nguyen NT, Nguyen BT, Sunahara T, Yasunami M, Nguyen MD, Takagi M
Nhà XB: Parasit Vectors
Năm: 2010
25. Rattanarithikul R, Konishi E, Linthicum KJ (1996), “Detection of Plasmodium vivax and Plasmodium falciparum circumsporozoite antigen in Anopheline mosquitoes collected in southern Thailand” Am J Trop Med Hyg, 54(2):114-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection of Plasmodium vivax and "Plasmodium falciparum" circumsporozoite antigen in Anopheline mosquitoes collected in southern Thailand” "Am J Trop Med Hyg
Tác giả: Rattanarithikul R, Konishi E, Linthicum KJ
Năm: 1996
26. Sinka ME, Bangs MJ, Manguin S, Chareonviriyaphap T, Patil AP, Temperley WH, Gething PW, Elyazar IR, Kabaria CW, Harbach RE, Hay SI (2011), “The dominant Anopheles vectors of human malaria in the Asia-Pacific region: occurrence data, distribution maps and bionomic précis”, Parasit Vectors.;4:89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The dominant Anopheles vectors of human malaria in the Asia-Pacific region: occurrence data, distribution maps and bionomic précis
Tác giả: Sinka ME, Bangs MJ, Manguin S, Chareonviriyaphap T, Patil AP, Temperley WH, Gething PW, Elyazar IR, Kabaria CW, Harbach RE, Hay SI
Nhà XB: Parasit Vectors
Năm: 2011
27. Somboon P, Rory A, Tsuda Y, Takagi M, Harbach RE (2010), “Systematics of Anopheles (Cellia) yaeyamaensis sp. N., alias species E of the An. minimus complex of southeastern Asia (Diptera: Culicidae)”, Zootaxa. 2010;2651:43-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Systematics of Anopheles (Cellia) yaeyamaensis sp. N., alias species E of the An. minimus complex of southeastern Asia (Diptera: Culicidae)
Tác giả: Somboon P, Rory A, Tsuda Y, Takagi M, Harbach RE
Nhà XB: Zootaxa
Năm: 2010
28. Nguyễn Đức Mạnh (1988), Khu hệ muỗi Anopheles Meigen (Diptera: Culicidae) và vai trò truyền bệnh sốt rét của chúng ở Tây Nguyên, Luận Án phó tiến sĩ khoa học sinh học, Trường Đại học tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ muỗi Anopheles Meigen (Diptera: Culicidae) và vai trò truyền bệnh sốt rét của chúng ở Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Đức Mạnh
Nhà XB: Trường Đại học tổng hợp Hà Nội
Năm: 1988
29. Trương Văn Có (1996), Muỗi Anopheles (Diptera: Culicidae) ở Trung Trung bộ và Tây nguyên trong quá trình phòng chống sốt rét giai đoạn 1976- 1995, Luận án phó tiến sĩ khoa học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muỗi Anopheles (Diptera: Culicidae) ở Trung Trung bộ và Tây nguyên trong quá trình phòng chống sốt rét giai đoạn 1976- 1995
Tác giả: Trương Văn Có
Nhà XB: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Năm: 1996
30. Nguyễn Long Giang, Nguyễn Thị Hoà, Nguyễn Thượng Hiền (1996), “Phân bố muỗi Anopheles (Meigen 1818) ở các tỉnh thành phía Nam Việt Nam và độ nhạy cảm của chúng với hoá chất diệt côn trùng”, Tóm lược các đề tài nghiên cứu khoa học 1991-1995 Phân viện Sốt rét-KST- CT thành phố Hồ Chí Minh, Tr. 25-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bố muỗi Anopheles (Meigen 1818) ở các tỉnh thành phía Nam Việt Nam và độ nhạy cảm của chúng với hoá chất diệt côn trùng”, "Tóm lược các đề tài nghiên cứu khoa học 1991-1995 Phân viện Sốt rét-KST-CT thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Long Giang, Nguyễn Thị Hoà, Nguyễn Thượng Hiền
Năm: 1996
31. Hồ Đình Trung (2005), Véc tơ sốt rét và biện pháp phòng chống, Dịch tễ sốt rét và quản lý chương trình phòng chống sốt rét, Nhà xuất bản Y học, Tr. 111 – 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Véc tơ sốt rét và biện pháp phòng chống, Dịch tễ sốt rét và quản lý chương trình phòng chống sốt rét
Tác giả: Hồ Đình Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
36. Vũ Đức Chính, Hồ Đình Trung, Nguyễn Đức Mạnh, Lê Xuân Hợi, Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Thị Hương Bình (2006), “Phân bố Anopheles và véc tơ sốt rét tại một số sinh cảnh rừng hiện nay ở miền Bắc Việt Nam”, Công trình nghiên cứu khoa học báo cáo tại Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng giai đoạn 2001 – 2005, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Tr. 322 – 337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bố Anopheles và véc tơ sốt rét tại một số sinh cảnh rừng hiện nay ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Đức Chính, Hồ Đình Trung, Nguyễn Đức Mạnh, Lê Xuân Hợi, Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Thị Hương Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2006
70. University of Oxford (2017), Malaria Atlas Project, Anopheles (Cellia) maculatus Group, https://malariaatlas.org/bionomics/anophelesmaculatus/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tình hình sốt rét tại huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2015-2020 (Nguồn: Trung tâ mY tế huyện Khánh Vĩnh) - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Bảng 1.2. Tình hình sốt rét tại huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2015-2020 (Nguồn: Trung tâ mY tế huyện Khánh Vĩnh) (Trang 16)
Bảng 1.3. Tình hình sốt rét tại xã Sơn Thái giai đoạn 2015-2020 (Nguồn: Trung tâ mY tế huyện Khánh Vĩnh) - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Bảng 1.3. Tình hình sốt rét tại xã Sơn Thái giai đoạn 2015-2020 (Nguồn: Trung tâ mY tế huyện Khánh Vĩnh) (Trang 16)
Hình 1.1. Phân bố véc tơ sốt rét chính trên thế giới (theo Sinka M.E, 2012) [22] - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Hình 1.1. Phân bố véc tơ sốt rét chính trên thế giới (theo Sinka M.E, 2012) [22] (Trang 18)
Xây dựng mô hình kinh tế lượng - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
y dựng mô hình kinh tế lượng (Trang 19)
Qua bảng số liệu trên ta thấy về tổng thể lợi nhuận Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Bắc Hà Nội  qua các năm tăng mạnh về số  tuyệt đối đặc biệt là năm 2003 - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
ua bảng số liệu trên ta thấy về tổng thể lợi nhuận Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Bắc Hà Nội qua các năm tăng mạnh về số tuyệt đối đặc biệt là năm 2003 (Trang 30)
Hình 2.1. Vị trí các điểm điều tra nghiên cứu tại Khánh Hòa - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Hình 2.1. Vị trí các điểm điều tra nghiên cứu tại Khánh Hòa (Trang 43)
Bảng 2.1. Bảng ma trận thử nghiệm nến xua diệt muỗi - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Bảng 2.1. Bảng ma trận thử nghiệm nến xua diệt muỗi (Trang 59)
3.1.1.4. Kết quả theo dõi dọc tình hình KSTSR tại Sơn Thái năm 2016 - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
3.1.1.4. Kết quả theo dõi dọc tình hình KSTSR tại Sơn Thái năm 2016 (Trang 64)
Bảng 3.9. Số lượng và tỷ lệ muỗi An.dirus đốt người trong và ngoài nhà rẫy - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Bảng 3.9. Số lượng và tỷ lệ muỗi An.dirus đốt người trong và ngoài nhà rẫy (Trang 70)
dirus trong nhà, ngoài nhà và trong rừng thể hiện trong hình 3.2. - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
dirus trong nhà, ngoài nhà và trong rừng thể hiện trong hình 3.2 (Trang 71)
Bảng 3.10. Số lượng và tỷ lệ muỗi An.maculatus đốt người trong và ngoài nhà rẫy - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Bảng 3.10. Số lượng và tỷ lệ muỗi An.maculatus đốt người trong và ngoài nhà rẫy (Trang 72)
Hình 3.3. Hoạt động đốt mồi ban đêm của An.maculatus - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Hình 3.3. Hoạt động đốt mồi ban đêm của An.maculatus (Trang 72)
Bảng 3.12. Chỉ số lan truyền côn trùng của An.dirus - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Bảng 3.12. Chỉ số lan truyền côn trùng của An.dirus (Trang 74)
Phân tích tỷ lệ hộ gia đình ngủ màn theo thời gian trình bày hình 3.4. - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
h ân tích tỷ lệ hộ gia đình ngủ màn theo thời gian trình bày hình 3.4 (Trang 76)
Hình 3.5. Các hoạt động vào buổi tối trong nhà của gười dân ở thôn - Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nếu có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016-2017)
Hình 3.5. Các hoạt động vào buổi tối trong nhà của gười dân ở thôn (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w