Nó có tác động trực tiếp tới sự phát triển môi sinh - môi trường dân cư đối với mỗi quốc gia, đặc biệt tại các khu vực đô thị ở các nước đang phát triển.. Đồng thời tỷ lệ gia tăng dân số
Trang 1NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
24 Quang Trung - Hà Nội
Trang 2DÂN SỐ
VA MOI TRUONG Ở ĐÔ THỊ
THÀNH PHÔ HÀ NỘI
Trang 3
BỘ XÂY DỰNG VIỆN QUI HOẠCH ĐÔ THỊ-NÔNG THÔN
DU AN VIE/93/PO2
DO THI THANH PHO HÀ NỘI
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Hà Nội - 1996
Trang 4ae
a}
LOI NHA XUAT BAN
Gông trình nghiên cứu này được tiến hành
trong khuôn khổ của dự án VIE/93/P02: "Hỗ trợ
nghiên cứu về dân số và phát triển ở Viét Nam"
do Quy dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tài trợ với một phần đóng góp của Chính phủ Pháp Dự
án này bắt đầu tiến hành từ năm 1993 do 4 cơ quan nghiên cứu của Việt Nam thực hiện Mỗi cơ quan tiến hành một cuộc khảo sát định tính với quy mô nhỏ về một chủ đề dân số nhất định Việc phân tích kết quả được xuất bản thành 4 cuốn sách (bao gồm cả cuốn sách này) bằng hai thứ tiếng Việt và Anh
Chuyên khảo “Dân số và môi trường ở đô thị thành phố Hà Nội” do tác giả Đặng Xuân Đường thực hiện dưới sự giám sat cha Gs.T6 Thi
Minh Thông, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch
đô thị - nông thôn, Bộ xây dựng Trong quá
trình tổ chức nghiên cứu, phân tích kết quả và chuẩn bị báo cáo, dự án đã nhận được sự trợ giúp
cua ngai Patric Gubry, Nghiên cứu viên của Viện
Trang 5eee
nae Nghiên cứu dân số và phát triển nước Cộng hoà
Pháp và ngài Jerrold W.Hunguet, Vụ đân số của ESCAP, Bangkok
Thang 8 ném 1996 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRI QUOC GIA CÁC ĐỊNH NGHĨA
- Di dân: là sự di chuyển nơi ở của dân số
ra khỏi phạm vi ranh giới hành chính cũ (tỉnh, huyện) tới định cư ở nơi mới
- Tăng tự nhiên: Dân số tăng tự nhiên là
số người tăng lên sau khi lấy số sinh trừ đi số chết trong 1 năm
- Không gian ở: là không gian xung quanh
nhà ở và không gian nhà ở có liên quan mật thiết với người ở
1- Mật độ dân số: là số đo số dân định cư trên 1 ha hoặc 1 km diện tích đất tự nhiên
2 Mật độ cư trú: là số đo của số người trên một ha diện tích đất ở
- Diện tích đất ở: là diện tích đất xây dựng nhà ở + diện tích đất sân vườn xung quanh nhà ở và diện tích lối ra vào của nhà ở
- Diện tích ở: là diện tích các phòng ở + diện tích phòng khách hay phòng sinh hoạt và
Trang 6
es
me):
phòng ăn (nếu có, không kể diện tích phụ như
bếp, xí, tắm)
- Diện tích phụ: là diện tích được thiết kế
theo một công năng riêng trong một căn hộ, được phục vụ các nhu cầu sinh hoạt thường ngày trong cuộc sống như bếp, xí, tắm
3- Mật độ xây dựng: Tỷ lệ phần trăm giữa
diện tích đất xây dựng công trình kiến trúc và
diện tích toàn khu đất
MỞ ĐẦU
Đã nhiều thập kỷ qua cho tới ngày nay và cả
trong tương lai, dân số và sự tăng trưởng có tính chiến lược toàn cầu vẫn là một trong những vấn đề
trọng tâm cần phải chú ý Nó có tác động trực tiếp
tới sự phát triển môi sinh - môi trường dân cư đối
với mỗi quốc gia, đặc biệt tại các khu vực đô thị ở
các nước đang phát triển Hiểm hoạ của sự tăng
dân số là mối nguy cơ đe dọa đối với sự tồn tại lâu bền của loài người trên hành tịnh
Ngày nay thực tế ở nhiều nơi, nhiều nước đã cho thấy mối quan hệ giữa sự gia tăng dân số với
sự nghèo đói luôn gắn liền với nhau Các nước càng nghèo, càng chậm phát triển thường có tỷ lệ
sinh đẻ rất cao Đồng thời tỷ lệ gia tăng dân số lại
có quan hệ nghịch đảo với sự phát triển kinh tế -
xã hội, với đô thị hoá và môi trường sống của mỗi quốc gia Nhìn vào những nước có trình độ phát triển tiên tiến thì tỷ lệ gia tăng dân số rất thấp,
: tỷ lệ sinh ở mức độ ổn định còn dưới cả mức độ
thay thế Ví dụ ở một số nước châu A:
Hong Kong 1,4 % (1989)
Trang 71,6 % (1989) 1,8 % (1989) 2,1 % (1989)
Nhiều nước đang trên đà đạt được những
thành tựu nổi bật trong quá trình giảm sinh, và có
những thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội như:
- Trung Quốc 2,4 %
Việt Nam vẫn còn thuộc các nước có mức sinh
trung bình cao 2,8-3 %
Trong những năm qua, nhờ sự nỗ lực của
Chính phủ và nhân dân Việt Nam cùng với sự hỗ
trợ hữu hiệu của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc
(UNFPA) bằng những biện pháp tích cực và liên
tục của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, tỷ lệ
gia tăng đân số tự nhiên trong các đô thị đã giảm
nhiều: Tuy nhiên, tỷ lệ phát triển dân số của Việt
Nam vẫn ở trong nhóm các nước có tỷ lệ tăng cao
Năm 1993, tỷ lệ tăng tự nhiên là 2,18%
Bởi vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa sự
tăng trưởng dân số với đô thị hoá và sự biến đổi
môi trường sống của dân cư đô thị đang đặt ra một
cách nghiêm túc với sự quan tâm của nhiều cơ
quan và UNFPA tại Việt Nam nhằm có những biện
pháp chính sách hữu hiệu giải quyết vấn đề dân số
và phát triển đô thị hoá trong sự bảo đảm môi
trường sống của đô thị
I GIỚI THIỆU VỀ THỦ DO HA NOI
1.1 Sơ lược quá trình hình thành phát triển
thủ đô Hà Nội
Hà Nội được xem là một trong những đô thị cổ nhất ở Việt Nam - có hàng nghìn năm
văn hiến
_Năm 1010, Lý Công Uẩn đời đô từ Hoa Lư
ra Đại La, đặt tên là Thăng Long Hà Nội được
hình thành từ đó Tại thời này, quy mô đất đai còn nhỏ (có 6 phường), dân số còn ít, thưa thớt,
kết cấu hạ tầng hầu như chưa có gì
Qua các triều đại từ Lê Lợi (1428) đến Gia Long (1805), Hà Nội được đặt nhiều tên khác nhau như: Đông Đô, Thăng Long, với quy mô
ngày càng phát triển Năm1831, vua Minh
Trang 81,6 % (1989) 1,8 % (1989) 2,1 % (1989) Nhiều nước đang trên đà đạt được những
thành tựu nổi bật trong quá trình giảm sinh, và có
những thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội như:
- Trung Quốc 2,4 %
Việt Nam vẫn còn thuộc các nước có mức sinh
trung bình cao 2,8-3 %
Trong những năm qua, nhờ sự nỗ lực của
Chính phủ và nhân dân Việt Nam cùng với sự hỗ
trợ hữu hiệu của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc
(UNFPA) bằng những biện pháp tích cực và liên
tục của cuộc vận động sinh đề có kế hoạch, tỷ lệ
gia tang dan số tự nhiên trong các đô thị đã giảm
nhiều Tuy nhiên, tỷ lệ phát triển dân số của Việt
Nam vẫn ở trong nhóm các nước có tỷ lệ tăng cao
Năm 1993, tỷ lệ tăng tự nhiên là 2,18%
Bởi vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa sự
tăng trưởng dân số với đô thị hoá và sự biến đổi
môi trường sống của dân cư đô thị đang đặt ra một
cách nghiêm túc với sự quan tâm của nhiều cơ
quan và UNFPA tại Việt Nam nhằm có những biện
pháp chính sách hữu hiệu giải quyết vấn đề dân số
và phát triển đô thị hoá trong sự bảo đảm môi
trường sống của đô thị
Hàn Quốc
Australia
New zealand
PHAN THU NHAT
MUC DICH VA PHUONG PHAP
NGHIEN CUU
I GIGI THIEU VE THU DO HA NOI
1.1 Sơ lược quá trình hinh thanh phat trién
thủ đô Hà Nội
Hà Nội được xem là một trong những đô thị cổ nhất ở Việt Nam - có hàng nghìn năm
văn hiến
"Năm 1010, Lý Công Uẩn đời đô từ Hoa Lu
ra Đại La, đặt tên là Thăng Long Hà Nội được
hình thành từ đó Tại thời này, quy mô đất đai còn nhỏ (có 6 phường), dân số còn ít, thưa thớt,
kết cấu hạ tầng hầu như chưa có gì
Qua các triều đại từ Lê Lợi (1428) đến Gia Long (1805), Hà Nội được đặt nhiều tên khác nhau như: Đông Đô, Thăng Long, với quy mô
ngày càng phát triển Năm1831, vua Minh
Trang 9Mạng đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội,
tên đô thị “Hà Nội” chính thức được xác nhận
từ đó Sau này tuy Minh Mạng dời kinh đô vào
Huế, song Hà Nội vẫn là một trong những đô thị
đông đúc sầm uất nhất
- Năm 1888, Hà Nội được xếp là thành "phố
cap I
- Năm 1945, Hà Nội trở thành thủ đô của
nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa gồm 5 khu
phố - nội thành Năm 1954, Hà Nội gồm 4 quận
nội thành
- Năm 1976, Hà Nội được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết
định chọn lại là thủ đô của nước Việt Nam
thống nhất
Từ đó, Hà Nội phát triển không ngừng,
đặc biệt từ năm 1986 tới nay, Hà Nội có những
bước phát triển nhanh chóng
1.2 Quá trình phát triển dân số của Hà Nội
Qua số liệu và kết quả nghiên cứu có thể
thấy tỷ lệ tặng dân số Hà Nội cao, đặc biệt các
giai đoạn của thời kỳ đầu hình thành và phát
12
triển Có thể chia các giai đoạn phát triển dân
số như sau:
a- Thời kỳ trước 1984:
Giai đoạn phát triển đột biến: tốc độ gia
tăng dân số rất nhanh Bình quân tăng 4,7%
năm Trong đó 10 năm từ 1918 - 1928 tăng
- Gia tăng dân số cơ học: di dân từ các
vùng đô thị khác và nông thôn nhập cư vào Hà
Nội
- Tăng dân số do quá trình mở mang, khai
khẩn, phát triển đô thị hoá các vùng ven đô |
- Đặc điểm tăng dân số tự nhiên lúc này:
sinh đẻ tự do, tuỳ tiện, không có kế hoạch
trong từng gia đình và cả quốc gia
- Đặc điểm dị dân tự do là chủ yếu các
dòng từ nông thôn vào Hà Nội, từ đô thị nhỏ
13
Trang 10b- Thời kỳ từ 1954 - 1979:
- Dân số Hà Nội tăng lên gấp đôi trong
- Thời kỳ bùng nổ dân số trên bình điện
toàn quốc, tỷ lệ gia tăng dân số trên 3,5%
- Thành phần tăng trưởng dân số chủ yếu
do sinh để tự nhiên:
+ Năm 1954 - 1969 tỷ lệ gia tăng dân số
Hà Nội bình quân là 3,35%
+ Những năm 1970 - 1979, tỷ lệ trên là
228% (tuy có giảm, song vẫn nằm vào mức sinh
cao thuộc giai đoạn bùng nồ dan s6)
Thời kỳ này mới phát động phong trào
sinh đê có kế hoạch, nhưng tác động còn yếu
ớt, không thành chủ trương chính sách trong
chiến lược kinh tế- xã hội quốc gia và chưa
kiểm soát tới từng hộ gia đình Số con trung
bình của 1 phụ nữ ở tuổi sinh để còn cao
- Mức độ gia tăng dân số cơ học: chủ yếu
do điều động công tác, phân bổ có tổ chức của
Nhà nước Số người nhập cư vào Hà Nội rất hạn
chế, thường có tỷ lệ tăng cơ học bình quân là
14
0,4% Chính sách nhập cư được kiểm soát chặt
chẽ, cấp phép ngặt nghèo gắn với đăng ký hộ
khẩu Các chế độ chính sách về phân phối theo
tem phiếu dựa trên cơ sở hộ khẩu, nhiều gia
đình không được ở cùng một nơi Do vậy đã hạn
chế tối đa đi đân tự do vào Hà Nội, khống chế được sự gia tăng dân số
c- Thời kỳ từ 1980 - 1989:
Thời kỳ tốc độ tăng trưởng dân số chậm
dan, trong khoảng 10 năm, dân số tăng lên gân
100.000 người Đặc điểm chủ yếu của thời kỳ
này là:
- Sự tăng trưởng dân số Hà Nội chủ yếu: vẫn do su gia tang dan số theo sinh đẻ tự
nhiên Những do tác động của các chính sách quốc gia và cuộc vận động sâu rộng trong toàn quốc về phong trào kế hoạch hoá gia đình,
giảm nhanh tốc độ gia tăng dân số cùng với sự
tài trợ của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc
(UNFPA) cho các dự án quốc gia dân số, đã đưa
đến những kết quả rõ rệt: hạ thấp tỷ lệ sinh, giảm tốc độ gia tăng dân số từ 2,28% xuông tăng bình quân còn 1,39%
15
Trang 11i
+ Tuổi kết hôn trung bình của nam nữ
thanh niên tăng cao ˆ
+ Số con trung bình của phụ nữ giảm
+ Số người sinh con thứ 3 giảm dần
- Về di dân cơ học: Giai đoạn này số lượng
người nhập cư vào Hà Nội cũng rất hạn chế,
chính quyền địa phương đã kiểm soát hành chính tình trạng nhập cư, chính sách dân SỐ,
chính sách kinh tế- xã hội đã tác động mạnh
tới việc khống chế sự bùng nổ phát triển dân số
Hà Nội ở giai đoạn này, cù thể là:
+ Tiêu chuẩn hoá, chỉ tiêu hoá người được nhập cư vào Hà Nội
+ Kiểm soát chặt chẽ thường xuyên đăng
ký hộ khẩu
+ Các quyền lợi kinh tế, học hành,v.v,,
gắn liền với hộ khẩu (đặc biệt thời kỳ còn chế
độ tem phiếu về nhu cầu tiêu dùng trong đời sống của mọi người dân)
Các chủ trương trên mới tác dụng đối vớ tầng lớp trí thức, cán bộ, những tâng lớp có hiếu biết, có ý thức chấp hành chủ trương chính sáoh
16
tốt, cuộc sống được bảo đảm bao cấp của Nhà nước, gắn liền với thu nhập từ tiền lương, từ các chế độ phân phối tem phiếu
Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này ở Hà
Nội đã xuất hiện các hiện tượng di dân và nhập:
cu tu phat, " cu trú lÿ " - định cư ngoài chỉ tiêu nhập cư, định cư không có hộ khẩu, hình thành một số xóm liều, một loại hình điểm dân cư do các luông di dân từ nông thôn vào đô thị, nhất
là các đô thị lớn, những người không có đời
sống ổn định ở nông thôn hoặc muốn ra thành phố kiếm việc làm để có thu nhập cao hơn
Họ mang theo lối sống nông thôn, chưa có văn mình đô thị khi họ sống ở ngay các đô thị
d- Thời kỳ từ 1990 tới nay:
Đây là thời kỳ dân số Hà Nội phát triển chịu sự tác động nhiều mặt của chính sách đổi
mới về kinh tế, xã hội của Nhà nước Đặc biệt
từ sự chuyển đổi của nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường có nhiêu thành phần Dân số
Hà Nội có xu hướng tăng nhanh so với giai
đoạn 1969-1989 Thời kỳ này dân số tăng theo
các yếu tố sau:
Trang 12Gia tăng dân số tự nhiên: tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên đã và tiếp tục giảm, năm 1994 tỷ lệ
tăng tự nhiên đạt ở mức 1,276% Hà Nội hiện
nay là một trong những thành phố có tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên thấp nhất toàn quốc, vấn
đề này cần duy trì và tiếp tục phát huy để có
thể đạt mức sinh thay thế vào những năm đầu
của thế kỷ XXI
- Tăng dân số do nhập cư: có chiều hướng
tăng cao do sự chi phối của cơ chế thị trường;
mặt khác, những năm gần đây sự kiểm soát
nhập cư cũng bị buông lỏng, các chế độ phân
phối lương thực, thực phẩm, hàng hoá không
còn nữa
Luồng di dân vào Hà Nội theo hướng chủ
yếu sau đây:
+ Từ các vùng nông thôn, các đô thị nhỏ
thuộc Bắc Trung Bộ trở ra nhập cư vào Hà Nội
Họ dựa vào người nhà, bà con thân thuộc sống
tại Hà Nội để tìm việc làm, kể cả trong khu vực
kinh tế nhà nước, tập thể, tư nhân và khu vực
không chính thống (Informal Sector), tự làm
việc, sản xuất hàng hoá tiêu thụ tại thị trường
Hà Nội,v:v Họ định cu lâu dài, đồng thời từng
18
bước chuyển gia đình nhập cư sinh sống tại Hà Nội Đương nhiên,
khẩu được, có người sống không cần hộ khẩu
Số này có người xin nhập
+ Từ những người hợp tác lao động nước
ngoài về Họ có tiền, có tay nghề, khi về nước
định cư lâu dài
và dan chuyển người nhà, vợ con định cư tại Hà
mua nhà, mua đất tại Hà Nội,
+ Do giá đất tăng cao khiến phần lớn các
hộ nông dân ven đô giàu lên nhanh chóng nhờ
chuyển quyền sử dụng đất đai cho người khác
+ Ngoài số dân định cư lâu dài còn phải kể
đến một bộ phận dân cư không nhỏ định cư không thường xuyên, gây mất trật tự, vệ sinh môi trường
Mỗi năm có hàng chục vạn khách du lịch,
trong và ngoài nước tới thăm Hà Nội
Trang 13Thường xuyên có hàng vạn lao động tự do
II MỤC ĐÍCH ĐIỀU TRA
Cuộc điều tra được tiến hành nhằm nghiên
`
ện
ôi
trường và điều kiệ
hiên cứu môi
a
ội, và ng
môi
01 dan Ha N đô thị,
Trang 14\
|
|
Ị
› _ pháp hệ thống, ngẫu nhiên để chọn, theo sơ đồ
Điều tra được tiến hành trên toàn bộ 4
quận nội thành va 3 thi trấn ngoại thành,
những khu vực này có mật độ xây dựng, mật
Quân—>Phường—>Tổ dân phế —> Hộ gia đình
đô dân số cao, nơi có nhiều vấn đề về dân số, ( thị trấn)
dược chọn trên cơ sở tổ dân phố, các tổ dân phố
Nội thành:
được chọn từ phường, các phường chọn từ quận
- Quận Hoàn Kiếm
d- Đơn vị phân tích:
- Quận Ba Đình
Theo phạm vi cấp quận nội thành và 3 thị
Quận Hai Ba Tr n6 tran được tính gộp lại như một đơn vị tiểu biểu
Các thị trấn ngoại thành:
1 Cầu Giấy (Huyện Từ Liêm) “Cuộc điều tra được tiến hành theo 2 loại
- Thi tran Thi A Gau 5 Glay â uyen y phiếu: phiếu điều tra đối với hộ gia đình và cá x ow v “ ` 2
+ Thị trấn Văn Điển (Huyện Thanh Trì) nhân,
c- Phương pháp chọn mẫu: "Phiếu điều tra hộ gia đình gồm các nội ;
Với 1200 phiếu không thể điều tra hết 83 dụng chính sau:
phường của 4 quận nội thành và 3 thị trấn - Điều kiện nhà ở
ngoại thành, do đó dự án đã áp dụng phương
Trang 15Nai
- Điều kiện sống
- Môi trường vệ sinh va xã hội
Phiếu điều tra cá nhân thu thập các thôn; tin cá nhân về:
- Tuổi, giới tính, di cư
Cuộc điều tra do Viện Quy hoạch đô thị
nông thôn tổ chức trong khuôn khổ dự án VIE/93/P02 do UNFPA tài trợ Mười lăm cán bộ
của Viện Quy hoạch đô thị-nông thôn đã được chọn đi phỏng vấn Họ đã được dự một khoá
đào tạo trong một tuần về phương pháp phỏng
văn và về nội dung của các phiếu điều tra Các nhân viên phỏng vấn tới từng hộ gia đình được chọn và trực tiếp hỏi
Đôi khi không gặp được người cần phỏng văn, các nhân viên phỏng vấn phải đi lại tới
25
Trang 16hai, ba, thậm chí tới bốn lần Bên cạnh đó các
câu trả lời về thu nhập có thể không đúng thực
tế
3.4 Xử lý và phân tích số liệu
Tất cả các phiếu điều tra được kiểm tra,
trong trường hợp cần thiết, người phỏng vấn
phải đi điều tra lại và hiệu chỉnh câu trả lời
Tỷ lệ trả lời là 99,75% Ba người đã tham gia
mã hoá vào máy tính và hai chuyên viên về vi
tính lập chương trình xử lý Dữ liệu được nhập
và phân tích trong chương trình SPSS, Tổng số
mười nhân viên đã được huấn luyện chương
ANH HƯỚNG TRỰC TIẾP TỚI MÔI
TRUONG GO CUA THU DO HA NOI
I1 NHÀ Ở VÀ KHÔNG GIÀN NƠI Ở
Trong những năm gần đây, nhà ở đã được cải thiện nhiều do tác động của việc xoá bỏ bao
cấp về nhà ở và các luật lệ xây dựng, sửa chữa
nhà ở được nới lỏng, đễ dàng hơn Nhiều khu
ở mới được hình thành, đặc biệt các khu ở Nhà nước cấp đất, dân tự xây dựng, nhà ở dep dé hon, khang trang hon, dién tich 6 rộng rãi hơn
Điều kiện ở của một bộ phận dân cư đã có bước thay đổi đáng kể, diện tích ở bình quân
5,6 và trên 6m”/người
2,
Tuy nhiên, diện tích ở mới được cải thiện ở
bộ phận dân cư có thu nhập cao, có chức, có quyền, những người có quyền thừa kế tài sản
27
Trang 17đất do ông cha để lại và những người có khả
năng xin cấp đất xây dựng nhà 6
Một bộ phận lớn dân cư còn rất khó khăn
về điều kiện ở Đây là vấn đề nóng bỏng ở các
đô thị Việt Nam Đặc biệt tại các đô thị lớn,
trong đó có thủ đô Hà Nội
1.1 Không gian ở
a- Mật độ cư trú (ngườ/ha)(mật độ dân cư)
Mật độ cư trú tiêu chuẩn là chỉ số cho
phép số người ở trên 1 ha ở tương ứng với tầng
_ cao nhà ở trung bình tại khu ở đó
Hiện tại, tầng cao trung bình nhà ở còn
thấp, ngoài một số khu ở tập trung cao tầng
mới xây dựng giai đoạn sau 1954, còn phần lớn
có tầng cao trung bình trên 1 và trên 2 tầng
Như vậy nếu theo mật độ cư trú chuẩn tối đa
cho phép thì nhiều khu ở có mật độ cư trú rất
cao, điển hình tại một số phường như Hàng Bồ,
Hàng Đào, Hàng Mã, Hàng Bạc, Hàng Gai, Cửa
Đông, v.v., là những phường có mật độ cư trú
gấp gần hoặc hơn 2 lần so với mật độ cư trú tối
đa tiêu chuẩn được quy định cho một đô thị
hiện đại
28
Đương nhiên, các khu ở như vậy sẽ là một
sự quá tải một cách nghiêm trọng về mặt vệ
sinh, môi trường, dân số, do vậy diện tích nhà ở
bình quân đầu người không những không tăng
mà còn giảm
Từ năm 1986 tới nay, Nhà nước đã xoá cơ
bản bao cấp về nhà ở cho các đối tượng công nhân viên chức Nhà nước và người ăn theo
_Xoá bỏ bao cấp đã là động lực huy động: nguồn vốn tiềm năng trong dân chúng và khơi dậy trong họ tính năng động, tự lực để đầu tư
vào xây dựng và sửa chữa nhà ở Tuy nhiên, do yếu tố thị trường tác động,
giá đất, giá nhà ở tăng vọt, nên vấn đề nhà ở
đã bị phân hoá:
- Những người có thu nhập cao, có quyền
thừa kế quyền sử dụng đất đai và nhà ở thì
điều kiện ở được cải thiện, một bộ phận đân
số đã có diện tích ở bình quân 6, 7, 8 và thậm chi trén 10 m?/ngudi
- Những người có thu nhập thấp (đương nhiên bộ phận này chiếm đại đa số), điều kiện
ở không những không được cải thiện mà còn
29
Trang 18gặp khó khăn, điện tích ở không những không
tăng mà còn giảm chất lượng, nhà ở không
những không được cải thiện mà còn xuống cấp
Hiện nay, diện tích ở bình quân tại nội
thành Hà Nội phân theo quận như sau:
- Hoàn Kiếm 4,87m ”/người
- Ba Đình 5,20 m”/người
- Đống Da 4,70 m”/người
- Hai Bà Trưng 5,24 m°/người
Đương nhiên trong số này có một bộ phận
dân cư sống trong những căn phòng chật hẹp,
diện tích ở bình quân rất thấp
Kết quả điều tra chọn mẫu cho thấy, ở 4
quận nội thành còn 28,7% số hộ có diện tích ở
bình quân dưới 4 m”/người; 2,31% có diện tích ở
bình quân đưới 2 m”/người; khoảng gần 30% số
hộ có diện tích ở bình quân từ 4 - 6 m?/ngudi va
39,42% số hộ sống trong những căn nhà có điện
tích ở bình quân trên 6 m?/người Điều d® cho
thấy tỷ lệ những người ở với diện tích bình quân
cao có chiều hướng tăng tỷ lệ thuận với nhịp độ
phát triển kinh tế (xem chỉ tiết bảng 2)
Trang 19Ở Hà Nội, số thế hệ và số khẩu sống trong
một căn hộ, một ngôi nhà là cao (xem chi tiết
bảng 3) Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nhiều
gia đình trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế từ
bao cấp sang thị trường hoá nhà ở không có
khả năng xây thêm nhà mới để tách hộ Nhà
nước thiếu vốn đầu tư, tốc độ xây dựng nhà ở
chậm, kém đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển
dân số, với nhu cầu tách hộ gia đình mới hình
thành Mặt khác ở Việt Nam vẫn có truyền
thống cùng ở chung nhiều thế hệ: bố, mẹ già
cùng ở với một gia đình con đã có các cháu cũng
phù hợp; nếu nhiều thế hệ như bố mẹ với nhiều
con khác chung sống trong một căn hộ sẽ không
phù hợp, không thoải mái vì nhiều thế hệ sẽ
không đồng nhất về tác phong, nếp sống, sinh
hoạt và đương nhiên diện tích ở bình quân sẽ
thấp Qua điều tra xã hội học mới đây thì hầu
hết các chuyên gia được hỏi trả lời rằng đại đa
số người dân thích được tách hộ khi có người
con đã trưởng thành, nhưng họ muốn ở gần
nhau
*
Số liệu điều tra cho thấy số thế hệ sống
trong một căn hộ như sau:
Trang 20Số thế hệ 4 quận nội thành Thị trấn ngoại thành
Số người ở trong một căn hộ
Số người 4 quận nội thành Ngoại thành
Số căn hộ (hoặc ngôi nhà) có 4-5 người là
chủ yếu (51,4%), có trên 6 người vẫn còn nhiều
hộ (chiếm 30%) và số căn hộ có 3 người trở
xuống chiếm 21,7% (xem chỉ tiết bảng 3)
b- Mật độ xây dựng: Do dân số tăng
nhanh, tầng cao trung bình nhà ở thấp, hiện
34
tượng mật độ xây dựng quá cao là vấn đề phố biến và nghiêm trọng hiện nay
Tại khu 36 phố phường được xây dựng từ
trước năm 1954, đặc biệt tại khu phố cổ hoặc các
khu vực đô thị hóa từ các làng trong đô thị, mật
độ xây dựng quá cao, phần lớn đất đều được;xây cất các công trình dầy đặc, đường sá không mở
rộng, chịu lệ thuộc vào các nhà ở cũ, không có vỉa hè, nhiều khi các đường hẻm ngõ, xóm tồn tại lâu đời trong đô thị, không đám động tới nơi
ở cũ của dân, để nguyên tình trạng chật hẹp,
dân tự xây nhà mới và cơi nới tu do
Không có không gian thoáng đãng cần
thiết trong khu nhà ở, rất thiếu cây xanh Đối
với một đô thị vùng nhiệt đới thì diện tích cây
xanh là rất cần thiết
Theo thống kê, ở Hà Nội diện tích cây
xanh công viên bình quân đầu người rất thấp,
có 1,1mỀ/người, đặc biệt tại quận trung tâm
Hoàn Kiếm chỉ có 0,68 m”/người, và đương
nhiên tại nhiều khu vực ở nhiều phường không
có diện tích cây xanh Điều đáng lo ngại là
ngay cả các khu vực mới xây dựng vào những
35
Trang 21năm gần đây theo kiểu chia lô đất cũng có hiện
tượng như vậy
Trong số 4 quận nội thành, thì quận Hoàn
Kiếm có mật độ xây dựng cao nhất Trong tổng
số 18 phường có 13 phường có mật độ xây dựng
cao (chiếm 72%), trong đó có những phường rất
cao như Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng
Đào và Hàng Buồm (từ 85-87%) Những khu vực
ày được xây dựng trước những năm 1954, chỉ
chú ý tới yếu tố buôn bán, ở, không chú ý tới
các yếu tố cần thiết khác về môi trường ở, cũng
như yếu tố quy hoạch phát triển của Hà Nội
(xem chi tiết bảng 4) ,
Bang 4: Các quận phân (theo mật độ xây dựng
Cơ cấu phường phân theo
Chất lượng nhà ở là một yếu tố quan trọng
tác động tới điều kiện ở của mỗi hộ gia đình
Quỹ nhà ở Hà Nội ngoài một số diện tích do dân và Nhà nước xây dựng mới đây và dân tự
sửa chữa, còn phần lớn là nhà cũ loại cấp IV hoặc 4-5 tầng ngày càng xuống cấp, do:
- Trước năm 1986 và cả giai đoạn xóa bỏ
bao cấp về nhà ở hiện nay, giá thuê nhà vẫn quá thấp, do đó không có khả năng đầu tư tu bổ sửa chữa, đặc biệt là các khu chung cư, các khu nhà
do Nhà nước quản lý
37
Trang 22Trong thời gian dài theo chế độ bao cấp về
nhà ở và hiện nay Nhà nước đầu tư cải tạo, sửa
chữa hạn chế, chủ trương thanh lý chuyển quyền
sở hữu nhà ở cho dân dién ra cham chap, do dé
nha ở xuống cấp hư hồng, không ai quan tâm Sở
nhà đất không đủ lực đầu tư cải tạo, dân thì
không được phép sửa chữa Các cấp, các ngành
chưa coi trọng công tác duy tu bảo dưỡng cải tạo,
sửa chữa thể hiện qua tỷ trọng đầu tư vốn cho
sửa chữa, cải tạo nâng cấp nhà còn rất ít
- Nhiều nhà ở tập thể xây dựng khu phụ
chung, hoặc xây dựng nhà không đồng bộ với
nước,v.v., nhiều gia đình sử dụng chung khu
xây dung trang thiết bị cấp,
phụ dẫn đến tình trạng " cha chung không ai
khóc " tắc ống thoát nước,v.v
- Do vật liệu xây dung:
Nhà ở xây dựng bằng vật liệu tạm (gỗ,
tường toóc xi ) và quỹ nhà ở xây dựng thời kỳ
chiến tranh, chế độ bao cấp đã dẫn tới hiện
tượng thất thoát vật liệu xây đựng (chủ yếu
ximăng, sắt thép), thi công ấu, không bảo đảm
tiêu chuẩn, quy trình xây lắp
_= Do nhà ở bao cấp từ quá khứ vẫn còn tiếp
tục duy trì ở số đông dân cư, không phân rõ trách nhiệm, phạm vi bảo quản, mặt khác số
đông luôn nghĩ tới chuyện ở một thời gian rồi
sẽ chuyển đổi, không có quyền sở hữu rõ ràng,
đã dẫn tới tình trạng thờ ơ trong việc bảo quản,
tu bổ nhà ở Nhà ở có chất lượng kém đã gây nhiều phiền toái cho người ở `
- Nhà xây dựng không có hoặc thiếu vật
liệu cách âm, cách nhiệt, nóng về mùa hè, rét
về mùa đông, dột nát, gây ẩm thấp về mùa
mưa
- Có nhiều khu nhà xây dựng bằng vật liệu tạm từ những năm 1956 niên hạn sử dụng đã
hết từ những năm 1970-1975, nay vẫn còn sử
dụng bình thường, có nguy cơ đổ sập trong
những trận bão, mưa to, tai nạn, hoả hoạn dé
xảy ra
Theo kết quả điều tra, chất lượng nhà như
Sau:
+ Nhà bền vững chiếm 44,5%
Trang 23Đối với nhà ở, chiếu sáng tự nhiên là một yêu câu quan trọng Chiếu sáng tự nhiên có tác dụng:
+ Bảo đảm ánh sáng cho sinh hoạt, học tập, làm việc thường xuyên đối với người ở
Hơn một nửa số hộ được điều tra có nhà ở bảo đảm điều kiện chiếu sáng tự nhiên tốt (65,7% số hộ điều tra ở nội thành và 57% ở
ngoại thành)
4I
Trang 24biệt tại khu phố cổ Hà Nội như phường Đồng Xuân, phố Thuốc Bắc, Hàng Bồ, v.v Theo kết quả điều tra 4 quận nội thành, vẫn còn trên 40% số hộ thiếu ánh sáng tự nhiên và đặc biệt
2,7% số hộ gia đình ở trong tình trạng hoàn
toàn không có ánh sáng tự nhiên (xem chi tiết
bảng 6)
vi 1-4 Các khu phụ
Khu phụ bao gồm diện tích bếp, nơi ăn, xí,
tắm, nơi để xe đạp hoặc dụng cụ, ban công,v.v Các căn hộ khép kín diện tích phụ thường
chiếm 20-45% diện tích sử dụng (tuỳ theo thiết kế) Tuy là diện tích phụ song thực sự cần thiết
trong sinh hoạt hàng ngày
Trang 25- Sử dụng bếp chung với một số hộ hoặc
bếp công cộng nhiều hộ hoặc không có bếp phải
đun nấu ngay tại phòng ở, tại ban công, hành
thiếu tiện nghi nghiêm trọng, cơ bản trong
sinh hoạt
- Mặt khác, đun trong phòng ở, ban công,
hành lang cũng gây ô nhiễm đáng kể tới môi
trường sống hàng ngày, đặc biệt các hộ đun
bằng than hoặc dầu
Qua điều tra cho thấy, còn tới 6,6% số hộ
không có bếp phải đun ở các vị trí tạm (như
nêu trên)
Số hộ sử dụng bếp chung chiếm tỷ lệ cao:
76%
b- Chất liệu đun:
Hiện nay Hà Nội dùng nhiều chất liệu đun
khác nhau tuỳ theo điều kiện kinh tế và vị trí
bếp của các hộ gia đình
- Dùng điện, gaz đun nấu được xem là hình
thức đun nấu hiện đại, sạch môi trường, mới có
Trang 26Nguyên nhân giá điện cao, dùng bếp gaz
đầu tư ban đầu cao so với thu nhập của nhiều hộ
gia đình
- Phần lớn nhà dân do điều kiện kinh tế
còn khó khăn nên vẫn dùng chất đốt như: than
tổ ong tới 47,9%, đầu hoả 29%, lá 11,2%, là
những chất làm bẩn môi trường Nếu tính hằng
ngày mỗi hộ gia đình dùng bình quân 2 viên
than tổ ong, mỗi viên nang 0,3-0,5 kg (chưa kể
số hộ làm dịch vụ ăn uống) thì nội thành Hà Nội
dùng tới 85-90 tấn than cho việc đun nấu Lượng
CO; thải ra từ than ảnh hưởng trực tiếp trong
các khu nhà ở, là nguồn ô nhiễm môi trường rất
trầm trọng trên khắp mọi nơi, mọi khu nhà ở Hà
Nội, gây khói, bụi, hơi, mùi, dễ gây hoá hoạn,
v.v (xem chi tiết bảng 7)
II VỆ SINH - PHÂN RÁC
2.1 Nhà vệ sinh
Vệ sinh, phân rác là.vấn đề cần quan tâm
trong môi trường ở hiện nay ở Hà Nội, phần
lớn các hộ gia đình có xí riêng: 48% ở nội
thành, 51% ở ngoại thành Số hộ dân cư này
phần lớn ở các nhà chung cư cao tầng được
thiết kế xây dựng theo dạng căn hộ khép kín hoặc các khu vực Nhà nước cấp đất dân tự xây
dung nha 6
Có 22,6% số hộ điều tra ở nội thành, ˆ 24,6% ở thị trấn ngoại thành còn sử dụng xí
chung (từ 2 tới nhiều hộ), thậm chí còn 28,0%
số hộ gia đình phải sử dụng vệ sinh công cộng
Đây là vấn đề nan giải Nhiều nhà vệ sinh công
cộng ở ngay trong khu ở, dột nát, hỏng, mất vệ
sinh, là các ổ gây , truyền dịch bệnh, gây mùi
hôi thối, gây ô nhiễm môi trường cho dân cư xung quanh (xem chỉ tiết bảng 8)
Hiện nay tại các điểm dân cư sử dụng mấy
loại nhà vệ sinh chủ yếu sau đây:
cải tạo từ các dạng xí 2 ngăn, xí thùng
Từ năm 1978, chính quyền thành phố đã
có chủ trương cải tạo các loại xí 2 ngăn, xí
Trang 2710.000 hố xí nói trên thành xí bán tự hoại và 3 3 =
xí thùng vẫn còn tồn tại ở nhiều điểm dân cư, 8 y
9
tập trung nhất tại các khu vực phố cổ, phố cũ, = x é s#
các khu tập thể với loại nhà cấp IV, nhà tạm, ở g 8 i
những khu ngõ xóm, các làng đô thị hóa hoặc = E ==
và Vụ quản lý kiến trúc va quy hoah thì ở Hà m $
Nội vẫn còn tồn tại 11.000.xí 2 ngăn, xí thùng 2
khéng hop vé sinh va 800 xi công cộng (xí 2
Trang 282.9 Rác và việc thu gom các chất thải rắn
2.2.1 Nguồn rác:
Nguồn rác chủ yếu hiện nay ở Hà Nội gồm:
Bác nhà: Qua nghiên cứu phân loại thì chủ
yếu là chất hữu cơ (khoảng 2/3), phần còn lại là
vải vụn, giấy, bìa, rác quét nhà, da, cao su,
nhựa, tro
Rác chợ: Bao gồm rác từ các chợ và các
nơi công cộng (bến tàu, bến xe, nhà hàng, cửa
hàng, khách sạn) Rác loại này có tính chất đa
Bác thải từ các cơ quan: Rác từ nguồn nay
chủ yếu là giấy, băng bông, thủy tỉnh tại các
bệnh viện, khu tập thể, các trường, cũng bao
- hàm nhiều rác hữu cơ
Bác xây dựng: quá trình đỡ bỏ và xây dựng
thường thải ra nhiều loại vật liệu xây dựng: vôi,
vữa, cát, đá sỏi, gạch , ngói, gỗ vụn
Nác thải công nghiệp: tùy theo chủng loại công nghiệp, thành phần rác thải khác nhau
- Công nghiệp thực phẩm chủ yếu là rác hữu
cơ
- Công nghiệp cơ khí, chế tạo: chất thái
chú vếu là các chất như phoi bào, tiện, kim loại, nhựa, v.v
Ở Hà Nội, khối lượng rác phát sinh hiện
tại ước tính khoảng 0,6 - 0,8 kg/người/ngày, vào khoảng 0,22 - 0,3 tấn/người/năm Theo các nhà chuyên môn, đây là số lượng lớn
Thành phần, tính chất của chất thải rắn tại
Ha Nội:
Theo điều tra, nghiên cứu, thành phần và
tính chất chủ yếu của chất thải như sau:
Trang 29Đô dm của réc khoang 67%
Với hàm lượng chất hữu cơ lớn (50,27%) tồn
tại trong khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm nên quá
trình lên men và thối rữa xảy ra nhanh chóng
Nhu cầu thu gom, vận chuyển phế thải hàng
ngày là một nhu cầu cấp thiết để bảo vệ môi
trường sống không bị ô nhiễm
2.2.3 Công tác thu gom, 0uận chuyên, chúa,
xử lý phân rác tại thử đô Hà Nói :
Thu gom rác do Công ty Môi trường thành
phố đảm nhiệm, lượng rác thải hằng ngày tại
52
4 quận nội thành khoảng 1980 mỶ/ngày, hiện
_tại mới bảo đảm thu gom được 42,9% khối lượng
rác của thành phổ
Thu gom rác sinh hoạt: thu gom bằng phương
- pháp thủ công kết hợp với cơ giới:
- Xe gom rác đẩy tay tới các điểm dân cư gom rác và đổ tại 92 điểm tập trung rác đêm trong thành phố để xe tải chở tới bãi chôn của
thành phố Phương pháp này đã gây mất vệ sinh
môi trường nghiêm trọng đối với các điểm dân
cư tại các khu vực tập kết rác
- Tại các khu tập thể, rác được đổ vào các
bể chứa rác xây cố định, hoặc các thùng có thể
tích lớn, 1-2 ngày xe của Công ty Môi trường tới đọn
- Thu rác ngày: Công ty Môi trường tổ chức
‘thu gom rac đổ ban ngay 6 cdc phé chinh
Trên một số phố chính, quanh một số trung
tâm đã bố trí các thùng rác nhỏ ven đường để
thu rác vụn
Về thu gom rác tại các gia đình: qua điều tra chọn mẫu cho thấy tại 4 quận nội thành đã
53