1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Dân số và môi trường ở đô thị thành phố hà nội pot

59 442 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dân số và môi trường ở đô thị thành phố Hà Nội Pot
Trường học Hanoi University of Science and Technology
Chuyên ngành Urban Environmental Studies
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó có tác động trực tiếp tới sự phát triển môi sinh - môi trường dân cư đối với mỗi quốc gia, đặc biệt tại các khu vực đô thị ở các nước đang phát triển.. Đồng thời tỷ lệ gia tăng dân số

Trang 1

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

24 Quang Trung - Hà Nội

Trang 2

DÂN SỐ

VA MOI TRUONG Ở ĐÔ THỊ

THÀNH PHÔ HÀ NỘI

Trang 3

BỘ XÂY DỰNG VIỆN QUI HOẠCH ĐÔ THỊ-NÔNG THÔN

DU AN VIE/93/PO2

DO THI THANH PHO HÀ NỘI

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Hà Nội - 1996

Trang 4

ae

a}

LOI NHA XUAT BAN

Gông trình nghiên cứu này được tiến hành

trong khuôn khổ của dự án VIE/93/P02: "Hỗ trợ

nghiên cứu về dân số và phát triển ở Viét Nam"

do Quy dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tài trợ với một phần đóng góp của Chính phủ Pháp Dự

án này bắt đầu tiến hành từ năm 1993 do 4 cơ quan nghiên cứu của Việt Nam thực hiện Mỗi cơ quan tiến hành một cuộc khảo sát định tính với quy mô nhỏ về một chủ đề dân số nhất định Việc phân tích kết quả được xuất bản thành 4 cuốn sách (bao gồm cả cuốn sách này) bằng hai thứ tiếng Việt và Anh

Chuyên khảo “Dân số và môi trường ở đô thị thành phố Hà Nội” do tác giả Đặng Xuân Đường thực hiện dưới sự giám sat cha Gs.T6 Thi

Minh Thông, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch

đô thị - nông thôn, Bộ xây dựng Trong quá

trình tổ chức nghiên cứu, phân tích kết quả và chuẩn bị báo cáo, dự án đã nhận được sự trợ giúp

cua ngai Patric Gubry, Nghiên cứu viên của Viện

Trang 5

eee

nae Nghiên cứu dân số và phát triển nước Cộng hoà

Pháp và ngài Jerrold W.Hunguet, Vụ đân số của ESCAP, Bangkok

Thang 8 ném 1996 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRI QUOC GIA CÁC ĐỊNH NGHĨA

- Di dân: là sự di chuyển nơi ở của dân số

ra khỏi phạm vi ranh giới hành chính cũ (tỉnh, huyện) tới định cư ở nơi mới

- Tăng tự nhiên: Dân số tăng tự nhiên là

số người tăng lên sau khi lấy số sinh trừ đi số chết trong 1 năm

- Không gian ở: là không gian xung quanh

nhà ở và không gian nhà ở có liên quan mật thiết với người ở

1- Mật độ dân số: là số đo số dân định cư trên 1 ha hoặc 1 km diện tích đất tự nhiên

2 Mật độ cư trú: là số đo của số người trên một ha diện tích đất ở

- Diện tích đất ở: là diện tích đất xây dựng nhà ở + diện tích đất sân vườn xung quanh nhà ở và diện tích lối ra vào của nhà ở

- Diện tích ở: là diện tích các phòng ở + diện tích phòng khách hay phòng sinh hoạt và

Trang 6

es

me):

phòng ăn (nếu có, không kể diện tích phụ như

bếp, xí, tắm)

- Diện tích phụ: là diện tích được thiết kế

theo một công năng riêng trong một căn hộ, được phục vụ các nhu cầu sinh hoạt thường ngày trong cuộc sống như bếp, xí, tắm

3- Mật độ xây dựng: Tỷ lệ phần trăm giữa

diện tích đất xây dựng công trình kiến trúc và

diện tích toàn khu đất

MỞ ĐẦU

Đã nhiều thập kỷ qua cho tới ngày nay và cả

trong tương lai, dân số và sự tăng trưởng có tính chiến lược toàn cầu vẫn là một trong những vấn đề

trọng tâm cần phải chú ý Nó có tác động trực tiếp

tới sự phát triển môi sinh - môi trường dân cư đối

với mỗi quốc gia, đặc biệt tại các khu vực đô thị ở

các nước đang phát triển Hiểm hoạ của sự tăng

dân số là mối nguy cơ đe dọa đối với sự tồn tại lâu bền của loài người trên hành tịnh

Ngày nay thực tế ở nhiều nơi, nhiều nước đã cho thấy mối quan hệ giữa sự gia tăng dân số với

sự nghèo đói luôn gắn liền với nhau Các nước càng nghèo, càng chậm phát triển thường có tỷ lệ

sinh đẻ rất cao Đồng thời tỷ lệ gia tăng dân số lại

có quan hệ nghịch đảo với sự phát triển kinh tế -

xã hội, với đô thị hoá và môi trường sống của mỗi quốc gia Nhìn vào những nước có trình độ phát triển tiên tiến thì tỷ lệ gia tăng dân số rất thấp,

: tỷ lệ sinh ở mức độ ổn định còn dưới cả mức độ

thay thế Ví dụ ở một số nước châu A:

Hong Kong 1,4 % (1989)

Trang 7

1,6 % (1989) 1,8 % (1989) 2,1 % (1989)

Nhiều nước đang trên đà đạt được những

thành tựu nổi bật trong quá trình giảm sinh, và có

những thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội như:

- Trung Quốc 2,4 %

Việt Nam vẫn còn thuộc các nước có mức sinh

trung bình cao 2,8-3 %

Trong những năm qua, nhờ sự nỗ lực của

Chính phủ và nhân dân Việt Nam cùng với sự hỗ

trợ hữu hiệu của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc

(UNFPA) bằng những biện pháp tích cực và liên

tục của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, tỷ lệ

gia tăng đân số tự nhiên trong các đô thị đã giảm

nhiều: Tuy nhiên, tỷ lệ phát triển dân số của Việt

Nam vẫn ở trong nhóm các nước có tỷ lệ tăng cao

Năm 1993, tỷ lệ tăng tự nhiên là 2,18%

Bởi vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa sự

tăng trưởng dân số với đô thị hoá và sự biến đổi

môi trường sống của dân cư đô thị đang đặt ra một

cách nghiêm túc với sự quan tâm của nhiều cơ

quan và UNFPA tại Việt Nam nhằm có những biện

pháp chính sách hữu hiệu giải quyết vấn đề dân số

và phát triển đô thị hoá trong sự bảo đảm môi

trường sống của đô thị

I GIỚI THIỆU VỀ THỦ DO HA NOI

1.1 Sơ lược quá trình hình thành phát triển

thủ đô Hà Nội

Hà Nội được xem là một trong những đô thị cổ nhất ở Việt Nam - có hàng nghìn năm

văn hiến

_Năm 1010, Lý Công Uẩn đời đô từ Hoa Lư

ra Đại La, đặt tên là Thăng Long Hà Nội được

hình thành từ đó Tại thời này, quy mô đất đai còn nhỏ (có 6 phường), dân số còn ít, thưa thớt,

kết cấu hạ tầng hầu như chưa có gì

Qua các triều đại từ Lê Lợi (1428) đến Gia Long (1805), Hà Nội được đặt nhiều tên khác nhau như: Đông Đô, Thăng Long, với quy mô

ngày càng phát triển Năm1831, vua Minh

Trang 8

1,6 % (1989) 1,8 % (1989) 2,1 % (1989) Nhiều nước đang trên đà đạt được những

thành tựu nổi bật trong quá trình giảm sinh, và có

những thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội như:

- Trung Quốc 2,4 %

Việt Nam vẫn còn thuộc các nước có mức sinh

trung bình cao 2,8-3 %

Trong những năm qua, nhờ sự nỗ lực của

Chính phủ và nhân dân Việt Nam cùng với sự hỗ

trợ hữu hiệu của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc

(UNFPA) bằng những biện pháp tích cực và liên

tục của cuộc vận động sinh đề có kế hoạch, tỷ lệ

gia tang dan số tự nhiên trong các đô thị đã giảm

nhiều Tuy nhiên, tỷ lệ phát triển dân số của Việt

Nam vẫn ở trong nhóm các nước có tỷ lệ tăng cao

Năm 1993, tỷ lệ tăng tự nhiên là 2,18%

Bởi vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa sự

tăng trưởng dân số với đô thị hoá và sự biến đổi

môi trường sống của dân cư đô thị đang đặt ra một

cách nghiêm túc với sự quan tâm của nhiều cơ

quan và UNFPA tại Việt Nam nhằm có những biện

pháp chính sách hữu hiệu giải quyết vấn đề dân số

và phát triển đô thị hoá trong sự bảo đảm môi

trường sống của đô thị

Hàn Quốc

Australia

New zealand

PHAN THU NHAT

MUC DICH VA PHUONG PHAP

NGHIEN CUU

I GIGI THIEU VE THU DO HA NOI

1.1 Sơ lược quá trình hinh thanh phat trién

thủ đô Hà Nội

Hà Nội được xem là một trong những đô thị cổ nhất ở Việt Nam - có hàng nghìn năm

văn hiến

"Năm 1010, Lý Công Uẩn đời đô từ Hoa Lu

ra Đại La, đặt tên là Thăng Long Hà Nội được

hình thành từ đó Tại thời này, quy mô đất đai còn nhỏ (có 6 phường), dân số còn ít, thưa thớt,

kết cấu hạ tầng hầu như chưa có gì

Qua các triều đại từ Lê Lợi (1428) đến Gia Long (1805), Hà Nội được đặt nhiều tên khác nhau như: Đông Đô, Thăng Long, với quy mô

ngày càng phát triển Năm1831, vua Minh

Trang 9

Mạng đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội,

tên đô thị “Hà Nội” chính thức được xác nhận

từ đó Sau này tuy Minh Mạng dời kinh đô vào

Huế, song Hà Nội vẫn là một trong những đô thị

đông đúc sầm uất nhất

- Năm 1888, Hà Nội được xếp là thành "phố

cap I

- Năm 1945, Hà Nội trở thành thủ đô của

nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa gồm 5 khu

phố - nội thành Năm 1954, Hà Nội gồm 4 quận

nội thành

- Năm 1976, Hà Nội được Quốc hội nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết

định chọn lại là thủ đô của nước Việt Nam

thống nhất

Từ đó, Hà Nội phát triển không ngừng,

đặc biệt từ năm 1986 tới nay, Hà Nội có những

bước phát triển nhanh chóng

1.2 Quá trình phát triển dân số của Hà Nội

Qua số liệu và kết quả nghiên cứu có thể

thấy tỷ lệ tặng dân số Hà Nội cao, đặc biệt các

giai đoạn của thời kỳ đầu hình thành và phát

12

triển Có thể chia các giai đoạn phát triển dân

số như sau:

a- Thời kỳ trước 1984:

Giai đoạn phát triển đột biến: tốc độ gia

tăng dân số rất nhanh Bình quân tăng 4,7%

năm Trong đó 10 năm từ 1918 - 1928 tăng

- Gia tăng dân số cơ học: di dân từ các

vùng đô thị khác và nông thôn nhập cư vào Hà

Nội

- Tăng dân số do quá trình mở mang, khai

khẩn, phát triển đô thị hoá các vùng ven đô |

- Đặc điểm tăng dân số tự nhiên lúc này:

sinh đẻ tự do, tuỳ tiện, không có kế hoạch

trong từng gia đình và cả quốc gia

- Đặc điểm dị dân tự do là chủ yếu các

dòng từ nông thôn vào Hà Nội, từ đô thị nhỏ

13

Trang 10

b- Thời kỳ từ 1954 - 1979:

- Dân số Hà Nội tăng lên gấp đôi trong

- Thời kỳ bùng nổ dân số trên bình điện

toàn quốc, tỷ lệ gia tăng dân số trên 3,5%

- Thành phần tăng trưởng dân số chủ yếu

do sinh để tự nhiên:

+ Năm 1954 - 1969 tỷ lệ gia tăng dân số

Hà Nội bình quân là 3,35%

+ Những năm 1970 - 1979, tỷ lệ trên là

228% (tuy có giảm, song vẫn nằm vào mức sinh

cao thuộc giai đoạn bùng nồ dan s6)

Thời kỳ này mới phát động phong trào

sinh đê có kế hoạch, nhưng tác động còn yếu

ớt, không thành chủ trương chính sách trong

chiến lược kinh tế- xã hội quốc gia và chưa

kiểm soát tới từng hộ gia đình Số con trung

bình của 1 phụ nữ ở tuổi sinh để còn cao

- Mức độ gia tăng dân số cơ học: chủ yếu

do điều động công tác, phân bổ có tổ chức của

Nhà nước Số người nhập cư vào Hà Nội rất hạn

chế, thường có tỷ lệ tăng cơ học bình quân là

14

0,4% Chính sách nhập cư được kiểm soát chặt

chẽ, cấp phép ngặt nghèo gắn với đăng ký hộ

khẩu Các chế độ chính sách về phân phối theo

tem phiếu dựa trên cơ sở hộ khẩu, nhiều gia

đình không được ở cùng một nơi Do vậy đã hạn

chế tối đa đi đân tự do vào Hà Nội, khống chế được sự gia tăng dân số

c- Thời kỳ từ 1980 - 1989:

Thời kỳ tốc độ tăng trưởng dân số chậm

dan, trong khoảng 10 năm, dân số tăng lên gân

100.000 người Đặc điểm chủ yếu của thời kỳ

này là:

- Sự tăng trưởng dân số Hà Nội chủ yếu: vẫn do su gia tang dan số theo sinh đẻ tự

nhiên Những do tác động của các chính sách quốc gia và cuộc vận động sâu rộng trong toàn quốc về phong trào kế hoạch hoá gia đình,

giảm nhanh tốc độ gia tăng dân số cùng với sự

tài trợ của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc

(UNFPA) cho các dự án quốc gia dân số, đã đưa

đến những kết quả rõ rệt: hạ thấp tỷ lệ sinh, giảm tốc độ gia tăng dân số từ 2,28% xuông tăng bình quân còn 1,39%

15

Trang 11

i

+ Tuổi kết hôn trung bình của nam nữ

thanh niên tăng cao ˆ

+ Số con trung bình của phụ nữ giảm

+ Số người sinh con thứ 3 giảm dần

- Về di dân cơ học: Giai đoạn này số lượng

người nhập cư vào Hà Nội cũng rất hạn chế,

chính quyền địa phương đã kiểm soát hành chính tình trạng nhập cư, chính sách dân SỐ,

chính sách kinh tế- xã hội đã tác động mạnh

tới việc khống chế sự bùng nổ phát triển dân số

Hà Nội ở giai đoạn này, cù thể là:

+ Tiêu chuẩn hoá, chỉ tiêu hoá người được nhập cư vào Hà Nội

+ Kiểm soát chặt chẽ thường xuyên đăng

ký hộ khẩu

+ Các quyền lợi kinh tế, học hành,v.v,,

gắn liền với hộ khẩu (đặc biệt thời kỳ còn chế

độ tem phiếu về nhu cầu tiêu dùng trong đời sống của mọi người dân)

Các chủ trương trên mới tác dụng đối vớ tầng lớp trí thức, cán bộ, những tâng lớp có hiếu biết, có ý thức chấp hành chủ trương chính sáoh

16

tốt, cuộc sống được bảo đảm bao cấp của Nhà nước, gắn liền với thu nhập từ tiền lương, từ các chế độ phân phối tem phiếu

Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này ở Hà

Nội đã xuất hiện các hiện tượng di dân và nhập:

cu tu phat, " cu trú lÿ " - định cư ngoài chỉ tiêu nhập cư, định cư không có hộ khẩu, hình thành một số xóm liều, một loại hình điểm dân cư do các luông di dân từ nông thôn vào đô thị, nhất

là các đô thị lớn, những người không có đời

sống ổn định ở nông thôn hoặc muốn ra thành phố kiếm việc làm để có thu nhập cao hơn

Họ mang theo lối sống nông thôn, chưa có văn mình đô thị khi họ sống ở ngay các đô thị

d- Thời kỳ từ 1990 tới nay:

Đây là thời kỳ dân số Hà Nội phát triển chịu sự tác động nhiều mặt của chính sách đổi

mới về kinh tế, xã hội của Nhà nước Đặc biệt

từ sự chuyển đổi của nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường có nhiêu thành phần Dân số

Hà Nội có xu hướng tăng nhanh so với giai

đoạn 1969-1989 Thời kỳ này dân số tăng theo

các yếu tố sau:

Trang 12

Gia tăng dân số tự nhiên: tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên đã và tiếp tục giảm, năm 1994 tỷ lệ

tăng tự nhiên đạt ở mức 1,276% Hà Nội hiện

nay là một trong những thành phố có tỷ lệ

tăng dân số tự nhiên thấp nhất toàn quốc, vấn

đề này cần duy trì và tiếp tục phát huy để có

thể đạt mức sinh thay thế vào những năm đầu

của thế kỷ XXI

- Tăng dân số do nhập cư: có chiều hướng

tăng cao do sự chi phối của cơ chế thị trường;

mặt khác, những năm gần đây sự kiểm soát

nhập cư cũng bị buông lỏng, các chế độ phân

phối lương thực, thực phẩm, hàng hoá không

còn nữa

Luồng di dân vào Hà Nội theo hướng chủ

yếu sau đây:

+ Từ các vùng nông thôn, các đô thị nhỏ

thuộc Bắc Trung Bộ trở ra nhập cư vào Hà Nội

Họ dựa vào người nhà, bà con thân thuộc sống

tại Hà Nội để tìm việc làm, kể cả trong khu vực

kinh tế nhà nước, tập thể, tư nhân và khu vực

không chính thống (Informal Sector), tự làm

việc, sản xuất hàng hoá tiêu thụ tại thị trường

Hà Nội,v:v Họ định cu lâu dài, đồng thời từng

18

bước chuyển gia đình nhập cư sinh sống tại Hà Nội Đương nhiên,

khẩu được, có người sống không cần hộ khẩu

Số này có người xin nhập

+ Từ những người hợp tác lao động nước

ngoài về Họ có tiền, có tay nghề, khi về nước

định cư lâu dài

và dan chuyển người nhà, vợ con định cư tại Hà

mua nhà, mua đất tại Hà Nội,

+ Do giá đất tăng cao khiến phần lớn các

hộ nông dân ven đô giàu lên nhanh chóng nhờ

chuyển quyền sử dụng đất đai cho người khác

+ Ngoài số dân định cư lâu dài còn phải kể

đến một bộ phận dân cư không nhỏ định cư không thường xuyên, gây mất trật tự, vệ sinh môi trường

Mỗi năm có hàng chục vạn khách du lịch,

trong và ngoài nước tới thăm Hà Nội

Trang 13

Thường xuyên có hàng vạn lao động tự do

II MỤC ĐÍCH ĐIỀU TRA

Cuộc điều tra được tiến hành nhằm nghiên

`

ện

ôi

trường và điều kiệ

hiên cứu môi

a

ội, và ng

môi

01 dan Ha N đô thị,

Trang 14

\

|

|

› _ pháp hệ thống, ngẫu nhiên để chọn, theo sơ đồ

Điều tra được tiến hành trên toàn bộ 4

quận nội thành va 3 thi trấn ngoại thành,

những khu vực này có mật độ xây dựng, mật

Quân—>Phường—>Tổ dân phế —> Hộ gia đình

đô dân số cao, nơi có nhiều vấn đề về dân số, ( thị trấn)

dược chọn trên cơ sở tổ dân phố, các tổ dân phố

Nội thành:

được chọn từ phường, các phường chọn từ quận

- Quận Hoàn Kiếm

d- Đơn vị phân tích:

- Quận Ba Đình

Theo phạm vi cấp quận nội thành và 3 thị

Quận Hai Ba Tr n6 tran được tính gộp lại như một đơn vị tiểu biểu

Các thị trấn ngoại thành:

1 Cầu Giấy (Huyện Từ Liêm) “Cuộc điều tra được tiến hành theo 2 loại

- Thi tran Thi A Gau 5 Glay â uyen y phiếu: phiếu điều tra đối với hộ gia đình và cá x ow v “ ` 2

+ Thị trấn Văn Điển (Huyện Thanh Trì) nhân,

c- Phương pháp chọn mẫu: "Phiếu điều tra hộ gia đình gồm các nội ;

Với 1200 phiếu không thể điều tra hết 83 dụng chính sau:

phường của 4 quận nội thành và 3 thị trấn - Điều kiện nhà ở

ngoại thành, do đó dự án đã áp dụng phương

Trang 15

Nai

- Điều kiện sống

- Môi trường vệ sinh va xã hội

Phiếu điều tra cá nhân thu thập các thôn; tin cá nhân về:

- Tuổi, giới tính, di cư

Cuộc điều tra do Viện Quy hoạch đô thị

nông thôn tổ chức trong khuôn khổ dự án VIE/93/P02 do UNFPA tài trợ Mười lăm cán bộ

của Viện Quy hoạch đô thị-nông thôn đã được chọn đi phỏng vấn Họ đã được dự một khoá

đào tạo trong một tuần về phương pháp phỏng

văn và về nội dung của các phiếu điều tra Các nhân viên phỏng vấn tới từng hộ gia đình được chọn và trực tiếp hỏi

Đôi khi không gặp được người cần phỏng văn, các nhân viên phỏng vấn phải đi lại tới

25

Trang 16

hai, ba, thậm chí tới bốn lần Bên cạnh đó các

câu trả lời về thu nhập có thể không đúng thực

tế

3.4 Xử lý và phân tích số liệu

Tất cả các phiếu điều tra được kiểm tra,

trong trường hợp cần thiết, người phỏng vấn

phải đi điều tra lại và hiệu chỉnh câu trả lời

Tỷ lệ trả lời là 99,75% Ba người đã tham gia

mã hoá vào máy tính và hai chuyên viên về vi

tính lập chương trình xử lý Dữ liệu được nhập

và phân tích trong chương trình SPSS, Tổng số

mười nhân viên đã được huấn luyện chương

ANH HƯỚNG TRỰC TIẾP TỚI MÔI

TRUONG GO CUA THU DO HA NOI

I1 NHÀ Ở VÀ KHÔNG GIÀN NƠI Ở

Trong những năm gần đây, nhà ở đã được cải thiện nhiều do tác động của việc xoá bỏ bao

cấp về nhà ở và các luật lệ xây dựng, sửa chữa

nhà ở được nới lỏng, đễ dàng hơn Nhiều khu

ở mới được hình thành, đặc biệt các khu ở Nhà nước cấp đất, dân tự xây dựng, nhà ở dep dé hon, khang trang hon, dién tich 6 rộng rãi hơn

Điều kiện ở của một bộ phận dân cư đã có bước thay đổi đáng kể, diện tích ở bình quân

5,6 và trên 6m”/người

2,

Tuy nhiên, diện tích ở mới được cải thiện ở

bộ phận dân cư có thu nhập cao, có chức, có quyền, những người có quyền thừa kế tài sản

27

Trang 17

đất do ông cha để lại và những người có khả

năng xin cấp đất xây dựng nhà 6

Một bộ phận lớn dân cư còn rất khó khăn

về điều kiện ở Đây là vấn đề nóng bỏng ở các

đô thị Việt Nam Đặc biệt tại các đô thị lớn,

trong đó có thủ đô Hà Nội

1.1 Không gian ở

a- Mật độ cư trú (ngườ/ha)(mật độ dân cư)

Mật độ cư trú tiêu chuẩn là chỉ số cho

phép số người ở trên 1 ha ở tương ứng với tầng

_ cao nhà ở trung bình tại khu ở đó

Hiện tại, tầng cao trung bình nhà ở còn

thấp, ngoài một số khu ở tập trung cao tầng

mới xây dựng giai đoạn sau 1954, còn phần lớn

có tầng cao trung bình trên 1 và trên 2 tầng

Như vậy nếu theo mật độ cư trú chuẩn tối đa

cho phép thì nhiều khu ở có mật độ cư trú rất

cao, điển hình tại một số phường như Hàng Bồ,

Hàng Đào, Hàng Mã, Hàng Bạc, Hàng Gai, Cửa

Đông, v.v., là những phường có mật độ cư trú

gấp gần hoặc hơn 2 lần so với mật độ cư trú tối

đa tiêu chuẩn được quy định cho một đô thị

hiện đại

28

Đương nhiên, các khu ở như vậy sẽ là một

sự quá tải một cách nghiêm trọng về mặt vệ

sinh, môi trường, dân số, do vậy diện tích nhà ở

bình quân đầu người không những không tăng

mà còn giảm

Từ năm 1986 tới nay, Nhà nước đã xoá cơ

bản bao cấp về nhà ở cho các đối tượng công nhân viên chức Nhà nước và người ăn theo

_Xoá bỏ bao cấp đã là động lực huy động: nguồn vốn tiềm năng trong dân chúng và khơi dậy trong họ tính năng động, tự lực để đầu tư

vào xây dựng và sửa chữa nhà ở Tuy nhiên, do yếu tố thị trường tác động,

giá đất, giá nhà ở tăng vọt, nên vấn đề nhà ở

đã bị phân hoá:

- Những người có thu nhập cao, có quyền

thừa kế quyền sử dụng đất đai và nhà ở thì

điều kiện ở được cải thiện, một bộ phận đân

số đã có diện tích ở bình quân 6, 7, 8 và thậm chi trén 10 m?/ngudi

- Những người có thu nhập thấp (đương nhiên bộ phận này chiếm đại đa số), điều kiện

ở không những không được cải thiện mà còn

29

Trang 18

gặp khó khăn, điện tích ở không những không

tăng mà còn giảm chất lượng, nhà ở không

những không được cải thiện mà còn xuống cấp

Hiện nay, diện tích ở bình quân tại nội

thành Hà Nội phân theo quận như sau:

- Hoàn Kiếm 4,87m ”/người

- Ba Đình 5,20 m”/người

- Đống Da 4,70 m”/người

- Hai Bà Trưng 5,24 m°/người

Đương nhiên trong số này có một bộ phận

dân cư sống trong những căn phòng chật hẹp,

diện tích ở bình quân rất thấp

Kết quả điều tra chọn mẫu cho thấy, ở 4

quận nội thành còn 28,7% số hộ có diện tích ở

bình quân dưới 4 m”/người; 2,31% có diện tích ở

bình quân đưới 2 m”/người; khoảng gần 30% số

hộ có diện tích ở bình quân từ 4 - 6 m?/ngudi va

39,42% số hộ sống trong những căn nhà có điện

tích ở bình quân trên 6 m?/người Điều d® cho

thấy tỷ lệ những người ở với diện tích bình quân

cao có chiều hướng tăng tỷ lệ thuận với nhịp độ

phát triển kinh tế (xem chỉ tiết bảng 2)

Trang 19

Ở Hà Nội, số thế hệ và số khẩu sống trong

một căn hộ, một ngôi nhà là cao (xem chi tiết

bảng 3) Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nhiều

gia đình trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế từ

bao cấp sang thị trường hoá nhà ở không có

khả năng xây thêm nhà mới để tách hộ Nhà

nước thiếu vốn đầu tư, tốc độ xây dựng nhà ở

chậm, kém đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển

dân số, với nhu cầu tách hộ gia đình mới hình

thành Mặt khác ở Việt Nam vẫn có truyền

thống cùng ở chung nhiều thế hệ: bố, mẹ già

cùng ở với một gia đình con đã có các cháu cũng

phù hợp; nếu nhiều thế hệ như bố mẹ với nhiều

con khác chung sống trong một căn hộ sẽ không

phù hợp, không thoải mái vì nhiều thế hệ sẽ

không đồng nhất về tác phong, nếp sống, sinh

hoạt và đương nhiên diện tích ở bình quân sẽ

thấp Qua điều tra xã hội học mới đây thì hầu

hết các chuyên gia được hỏi trả lời rằng đại đa

số người dân thích được tách hộ khi có người

con đã trưởng thành, nhưng họ muốn ở gần

nhau

*

Số liệu điều tra cho thấy số thế hệ sống

trong một căn hộ như sau:

Trang 20

Số thế hệ 4 quận nội thành Thị trấn ngoại thành

Số người ở trong một căn hộ

Số người 4 quận nội thành Ngoại thành

Số căn hộ (hoặc ngôi nhà) có 4-5 người là

chủ yếu (51,4%), có trên 6 người vẫn còn nhiều

hộ (chiếm 30%) và số căn hộ có 3 người trở

xuống chiếm 21,7% (xem chỉ tiết bảng 3)

b- Mật độ xây dựng: Do dân số tăng

nhanh, tầng cao trung bình nhà ở thấp, hiện

34

tượng mật độ xây dựng quá cao là vấn đề phố biến và nghiêm trọng hiện nay

Tại khu 36 phố phường được xây dựng từ

trước năm 1954, đặc biệt tại khu phố cổ hoặc các

khu vực đô thị hóa từ các làng trong đô thị, mật

độ xây dựng quá cao, phần lớn đất đều được;xây cất các công trình dầy đặc, đường sá không mở

rộng, chịu lệ thuộc vào các nhà ở cũ, không có vỉa hè, nhiều khi các đường hẻm ngõ, xóm tồn tại lâu đời trong đô thị, không đám động tới nơi

ở cũ của dân, để nguyên tình trạng chật hẹp,

dân tự xây nhà mới và cơi nới tu do

Không có không gian thoáng đãng cần

thiết trong khu nhà ở, rất thiếu cây xanh Đối

với một đô thị vùng nhiệt đới thì diện tích cây

xanh là rất cần thiết

Theo thống kê, ở Hà Nội diện tích cây

xanh công viên bình quân đầu người rất thấp,

có 1,1mỀ/người, đặc biệt tại quận trung tâm

Hoàn Kiếm chỉ có 0,68 m”/người, và đương

nhiên tại nhiều khu vực ở nhiều phường không

có diện tích cây xanh Điều đáng lo ngại là

ngay cả các khu vực mới xây dựng vào những

35

Trang 21

năm gần đây theo kiểu chia lô đất cũng có hiện

tượng như vậy

Trong số 4 quận nội thành, thì quận Hoàn

Kiếm có mật độ xây dựng cao nhất Trong tổng

số 18 phường có 13 phường có mật độ xây dựng

cao (chiếm 72%), trong đó có những phường rất

cao như Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng

Đào và Hàng Buồm (từ 85-87%) Những khu vực

ày được xây dựng trước những năm 1954, chỉ

chú ý tới yếu tố buôn bán, ở, không chú ý tới

các yếu tố cần thiết khác về môi trường ở, cũng

như yếu tố quy hoạch phát triển của Hà Nội

(xem chi tiết bảng 4) ,

Bang 4: Các quận phân (theo mật độ xây dựng

Cơ cấu phường phân theo

Chất lượng nhà ở là một yếu tố quan trọng

tác động tới điều kiện ở của mỗi hộ gia đình

Quỹ nhà ở Hà Nội ngoài một số diện tích do dân và Nhà nước xây dựng mới đây và dân tự

sửa chữa, còn phần lớn là nhà cũ loại cấp IV hoặc 4-5 tầng ngày càng xuống cấp, do:

- Trước năm 1986 và cả giai đoạn xóa bỏ

bao cấp về nhà ở hiện nay, giá thuê nhà vẫn quá thấp, do đó không có khả năng đầu tư tu bổ sửa chữa, đặc biệt là các khu chung cư, các khu nhà

do Nhà nước quản lý

37

Trang 22

Trong thời gian dài theo chế độ bao cấp về

nhà ở và hiện nay Nhà nước đầu tư cải tạo, sửa

chữa hạn chế, chủ trương thanh lý chuyển quyền

sở hữu nhà ở cho dân dién ra cham chap, do dé

nha ở xuống cấp hư hồng, không ai quan tâm Sở

nhà đất không đủ lực đầu tư cải tạo, dân thì

không được phép sửa chữa Các cấp, các ngành

chưa coi trọng công tác duy tu bảo dưỡng cải tạo,

sửa chữa thể hiện qua tỷ trọng đầu tư vốn cho

sửa chữa, cải tạo nâng cấp nhà còn rất ít

- Nhiều nhà ở tập thể xây dựng khu phụ

chung, hoặc xây dựng nhà không đồng bộ với

nước,v.v., nhiều gia đình sử dụng chung khu

xây dung trang thiết bị cấp,

phụ dẫn đến tình trạng " cha chung không ai

khóc " tắc ống thoát nước,v.v

- Do vật liệu xây dung:

Nhà ở xây dựng bằng vật liệu tạm (gỗ,

tường toóc xi ) và quỹ nhà ở xây dựng thời kỳ

chiến tranh, chế độ bao cấp đã dẫn tới hiện

tượng thất thoát vật liệu xây đựng (chủ yếu

ximăng, sắt thép), thi công ấu, không bảo đảm

tiêu chuẩn, quy trình xây lắp

_= Do nhà ở bao cấp từ quá khứ vẫn còn tiếp

tục duy trì ở số đông dân cư, không phân rõ trách nhiệm, phạm vi bảo quản, mặt khác số

đông luôn nghĩ tới chuyện ở một thời gian rồi

sẽ chuyển đổi, không có quyền sở hữu rõ ràng,

đã dẫn tới tình trạng thờ ơ trong việc bảo quản,

tu bổ nhà ở Nhà ở có chất lượng kém đã gây nhiều phiền toái cho người ở `

- Nhà xây dựng không có hoặc thiếu vật

liệu cách âm, cách nhiệt, nóng về mùa hè, rét

về mùa đông, dột nát, gây ẩm thấp về mùa

mưa

- Có nhiều khu nhà xây dựng bằng vật liệu tạm từ những năm 1956 niên hạn sử dụng đã

hết từ những năm 1970-1975, nay vẫn còn sử

dụng bình thường, có nguy cơ đổ sập trong

những trận bão, mưa to, tai nạn, hoả hoạn dé

xảy ra

Theo kết quả điều tra, chất lượng nhà như

Sau:

+ Nhà bền vững chiếm 44,5%

Trang 23

Đối với nhà ở, chiếu sáng tự nhiên là một yêu câu quan trọng Chiếu sáng tự nhiên có tác dụng:

+ Bảo đảm ánh sáng cho sinh hoạt, học tập, làm việc thường xuyên đối với người ở

Hơn một nửa số hộ được điều tra có nhà ở bảo đảm điều kiện chiếu sáng tự nhiên tốt (65,7% số hộ điều tra ở nội thành và 57% ở

ngoại thành)

4I

Trang 24

biệt tại khu phố cổ Hà Nội như phường Đồng Xuân, phố Thuốc Bắc, Hàng Bồ, v.v Theo kết quả điều tra 4 quận nội thành, vẫn còn trên 40% số hộ thiếu ánh sáng tự nhiên và đặc biệt

2,7% số hộ gia đình ở trong tình trạng hoàn

toàn không có ánh sáng tự nhiên (xem chi tiết

bảng 6)

vi 1-4 Các khu phụ

Khu phụ bao gồm diện tích bếp, nơi ăn, xí,

tắm, nơi để xe đạp hoặc dụng cụ, ban công,v.v Các căn hộ khép kín diện tích phụ thường

chiếm 20-45% diện tích sử dụng (tuỳ theo thiết kế) Tuy là diện tích phụ song thực sự cần thiết

trong sinh hoạt hàng ngày

Trang 25

- Sử dụng bếp chung với một số hộ hoặc

bếp công cộng nhiều hộ hoặc không có bếp phải

đun nấu ngay tại phòng ở, tại ban công, hành

thiếu tiện nghi nghiêm trọng, cơ bản trong

sinh hoạt

- Mặt khác, đun trong phòng ở, ban công,

hành lang cũng gây ô nhiễm đáng kể tới môi

trường sống hàng ngày, đặc biệt các hộ đun

bằng than hoặc dầu

Qua điều tra cho thấy, còn tới 6,6% số hộ

không có bếp phải đun ở các vị trí tạm (như

nêu trên)

Số hộ sử dụng bếp chung chiếm tỷ lệ cao:

76%

b- Chất liệu đun:

Hiện nay Hà Nội dùng nhiều chất liệu đun

khác nhau tuỳ theo điều kiện kinh tế và vị trí

bếp của các hộ gia đình

- Dùng điện, gaz đun nấu được xem là hình

thức đun nấu hiện đại, sạch môi trường, mới có

Trang 26

Nguyên nhân giá điện cao, dùng bếp gaz

đầu tư ban đầu cao so với thu nhập của nhiều hộ

gia đình

- Phần lớn nhà dân do điều kiện kinh tế

còn khó khăn nên vẫn dùng chất đốt như: than

tổ ong tới 47,9%, đầu hoả 29%, lá 11,2%, là

những chất làm bẩn môi trường Nếu tính hằng

ngày mỗi hộ gia đình dùng bình quân 2 viên

than tổ ong, mỗi viên nang 0,3-0,5 kg (chưa kể

số hộ làm dịch vụ ăn uống) thì nội thành Hà Nội

dùng tới 85-90 tấn than cho việc đun nấu Lượng

CO; thải ra từ than ảnh hưởng trực tiếp trong

các khu nhà ở, là nguồn ô nhiễm môi trường rất

trầm trọng trên khắp mọi nơi, mọi khu nhà ở Hà

Nội, gây khói, bụi, hơi, mùi, dễ gây hoá hoạn,

v.v (xem chi tiết bảng 7)

II VỆ SINH - PHÂN RÁC

2.1 Nhà vệ sinh

Vệ sinh, phân rác là.vấn đề cần quan tâm

trong môi trường ở hiện nay ở Hà Nội, phần

lớn các hộ gia đình có xí riêng: 48% ở nội

thành, 51% ở ngoại thành Số hộ dân cư này

phần lớn ở các nhà chung cư cao tầng được

thiết kế xây dựng theo dạng căn hộ khép kín hoặc các khu vực Nhà nước cấp đất dân tự xây

dung nha 6

Có 22,6% số hộ điều tra ở nội thành, ˆ 24,6% ở thị trấn ngoại thành còn sử dụng xí

chung (từ 2 tới nhiều hộ), thậm chí còn 28,0%

số hộ gia đình phải sử dụng vệ sinh công cộng

Đây là vấn đề nan giải Nhiều nhà vệ sinh công

cộng ở ngay trong khu ở, dột nát, hỏng, mất vệ

sinh, là các ổ gây , truyền dịch bệnh, gây mùi

hôi thối, gây ô nhiễm môi trường cho dân cư xung quanh (xem chỉ tiết bảng 8)

Hiện nay tại các điểm dân cư sử dụng mấy

loại nhà vệ sinh chủ yếu sau đây:

cải tạo từ các dạng xí 2 ngăn, xí thùng

Từ năm 1978, chính quyền thành phố đã

có chủ trương cải tạo các loại xí 2 ngăn, xí

Trang 27

10.000 hố xí nói trên thành xí bán tự hoại và 3 3 =

xí thùng vẫn còn tồn tại ở nhiều điểm dân cư, 8 y

9

tập trung nhất tại các khu vực phố cổ, phố cũ, = x é s#

các khu tập thể với loại nhà cấp IV, nhà tạm, ở g 8 i

những khu ngõ xóm, các làng đô thị hóa hoặc = E ==

và Vụ quản lý kiến trúc va quy hoah thì ở Hà m $

Nội vẫn còn tồn tại 11.000.xí 2 ngăn, xí thùng 2

khéng hop vé sinh va 800 xi công cộng (xí 2

Trang 28

2.9 Rác và việc thu gom các chất thải rắn

2.2.1 Nguồn rác:

Nguồn rác chủ yếu hiện nay ở Hà Nội gồm:

Bác nhà: Qua nghiên cứu phân loại thì chủ

yếu là chất hữu cơ (khoảng 2/3), phần còn lại là

vải vụn, giấy, bìa, rác quét nhà, da, cao su,

nhựa, tro

Rác chợ: Bao gồm rác từ các chợ và các

nơi công cộng (bến tàu, bến xe, nhà hàng, cửa

hàng, khách sạn) Rác loại này có tính chất đa

Bác thải từ các cơ quan: Rác từ nguồn nay

chủ yếu là giấy, băng bông, thủy tỉnh tại các

bệnh viện, khu tập thể, các trường, cũng bao

- hàm nhiều rác hữu cơ

Bác xây dựng: quá trình đỡ bỏ và xây dựng

thường thải ra nhiều loại vật liệu xây dựng: vôi,

vữa, cát, đá sỏi, gạch , ngói, gỗ vụn

Nác thải công nghiệp: tùy theo chủng loại công nghiệp, thành phần rác thải khác nhau

- Công nghiệp thực phẩm chủ yếu là rác hữu

- Công nghiệp cơ khí, chế tạo: chất thái

chú vếu là các chất như phoi bào, tiện, kim loại, nhựa, v.v

Ở Hà Nội, khối lượng rác phát sinh hiện

tại ước tính khoảng 0,6 - 0,8 kg/người/ngày, vào khoảng 0,22 - 0,3 tấn/người/năm Theo các nhà chuyên môn, đây là số lượng lớn

Thành phần, tính chất của chất thải rắn tại

Ha Nội:

Theo điều tra, nghiên cứu, thành phần và

tính chất chủ yếu của chất thải như sau:

Trang 29

Đô dm của réc khoang 67%

Với hàm lượng chất hữu cơ lớn (50,27%) tồn

tại trong khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm nên quá

trình lên men và thối rữa xảy ra nhanh chóng

Nhu cầu thu gom, vận chuyển phế thải hàng

ngày là một nhu cầu cấp thiết để bảo vệ môi

trường sống không bị ô nhiễm

2.2.3 Công tác thu gom, 0uận chuyên, chúa,

xử lý phân rác tại thử đô Hà Nói :

Thu gom rác do Công ty Môi trường thành

phố đảm nhiệm, lượng rác thải hằng ngày tại

52

4 quận nội thành khoảng 1980 mỶ/ngày, hiện

_tại mới bảo đảm thu gom được 42,9% khối lượng

rác của thành phổ

Thu gom rác sinh hoạt: thu gom bằng phương

- pháp thủ công kết hợp với cơ giới:

- Xe gom rác đẩy tay tới các điểm dân cư gom rác và đổ tại 92 điểm tập trung rác đêm trong thành phố để xe tải chở tới bãi chôn của

thành phố Phương pháp này đã gây mất vệ sinh

môi trường nghiêm trọng đối với các điểm dân

cư tại các khu vực tập kết rác

- Tại các khu tập thể, rác được đổ vào các

bể chứa rác xây cố định, hoặc các thùng có thể

tích lớn, 1-2 ngày xe của Công ty Môi trường tới đọn

- Thu rác ngày: Công ty Môi trường tổ chức

‘thu gom rac đổ ban ngay 6 cdc phé chinh

Trên một số phố chính, quanh một số trung

tâm đã bố trí các thùng rác nhỏ ven đường để

thu rác vụn

Về thu gom rác tại các gia đình: qua điều tra chọn mẫu cho thấy tại 4 quận nội thành đã

53

Ngày đăng: 10/03/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w