1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nội soi hỗ trợ phẫu thuật giải ép dây thần kinh V

5 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 268,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội soi hỗ trợ trong phẫu thuật giải ép dây thần kinh V TÓM TẮT Mục đích: Nghiên cứu nhằm tìm những ưu điểm khi sử dụng nội soi hỗ trợ trong mổ giải ép thần kinh vi mạch điều trị đau dâ

Trang 1

Nội soi hỗ trợ trong phẫu thuật giải ép dây thần kinh V

TÓM TẮT

Mục đích: Nghiên cứu nhằm tìm những ưu điểm khi sử dụng nội soi hỗ trợ trong mổ

giải ép thần kinh vi mạch điều trị đau dây V nguyên phát

Phương pháp: Chúng tôi đã tiến hành trên 33 bệnh nhân Các bệnh nhân được mổ

giải ép vi mạch với kính vi phẫu (KVP), trong quá trình mổ, nội soi được đưa vào nhằm tăng độ tin cậy của chẩn đoán và kết quả giải ép So sánh trong mổ của kính vi phẫu với nội soi: Khả năng thực hiện, khả năng quan sát các vị trí của dây V, số lượng nguyên nhân, kết quả giảm đau

Kết quả: Nội soi hỗ trợ áp dụng thuận lợi 33/33 bệnh nhân Không có tai biến trong

mổ Nội soi quan sát các vị trí nhiều hơn so với KVP: góc cầu tiểu não (31/19), gần thân não (31/18), gần hạch Gasser (31/21), mặt trước (30/18) Nguyên nhân nội soi tìm được là

38 so với KVP là 31 Kết quả giảm đau là 90% Không có biến chứng sau mổ

Kết luận: Nội soi hỗ trợ trong mổ giải ép thần kinh điều trị đau dây V có tính khả thi,

tìm được nhiều nguyên nhân và quan sát các vị trí tốt hơn KVP

Từ khóa: Phẫu thuật giải ép vi mạch, nội soi hỗ trợ giải ép vi mạch, đau dây V.

Surgical outcomes of endoscope - assisted microvascular decompression (emd)

for the treatment of trigeminal neuralgia ABSTRACT

Objectives: This study aims to assess the usefulness of endoscope-assisted during

microvascular decompression (MVD) procedures for idiopathic trigeminal neuralgia (TN.)

Methods: 33 cases under went EMD procedures (Technique Microscope + Endoscope)

The informations have been noted: advantages, disadvantages, number cause of conflict, complications, pain relieve

Results: Of 33 patients who undergone endoscope-assisted microvascular decompression

for trigeminal neuralgia Endoscope explores 38 causes while Microscope explores 31 causes Endoscopic images are better than microscopeimages There are 90% patients with relief pain There are not any postoperative complications

Conclusion: EMD is a useful adjunct to MVD in the treatment of trigeminal neuralgia Keywords: Endoscopic microvascular decompression, andoscopic - assisted micro

decompression, trigeminal nẻualgia

bùi Huy Mạnh,

Đồng Văn Hệ,

Nguyễn Trọ

Khoa Phẫu thuật Thần kinh

bệnh viện HN Việt Đức

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau dây thần kinh V (Trigeminal neuralgia) là

một chứng bệnh với các đợt đau nhói rất khó chịu tại

vùng dây thần kinh này chi phối Những đợt phát bệnh

có thể xuất hiện đột ngột hoặc được kích hoạt bởi các

hoạt động thường ngày như ăn uống, nói hoặc chạm

vào da Mỗi đợt như thế kéo dài từ vài giây đến hàng

phút Người mắc bệnh đau dây V luôn sống trong sợ hãi

vì những cơn đau bất chợt không thể tiên liệu, dẫn đến

mất ngủ và suy nhược Hơn thế nữa, tình cảnh này còn

có thể dẫn đến tình trạng dễ bị kích động, lo âu và suy

sụp tinh thần [1,2]

Nguyên nhân của chứng bệnh này được cho là do

sự chèn ép dây thần kinh bởi các mạch máu liền kề Mặc

dù đã có khá nhiều loại thuốc để chữa căn bệnh này,

nhưng có một số khá đông bệnh nhân vẫn cần đến phẫu

thuật vì có kháng thuốc hoặc không chịu được thuốc

Các lựa chọn điều trị phẫu thuật bao gồm các giải

pháp như xạ phẫu (radiosurgery), sóng cao tần qua da

(percutaneous radiofrequency), ép bóng và giải ép vi

mạch (MVM: mivrovascular decompression) Ưu điểm

nổi bật của MVD so với các biện pháp khác là hiệu quả

làm mất đaucao hơn, ít tái phát cơn đau về lâu dài [3,4]

Mổ giải áp vi mạch - PT Jannetta- [5] được chứng

minh là một trong những phương pháp điều trị hiệu quả

cao trong điều trị đau dây V nguyên phát Sử dụng kính

vi phẫu (KVP) trong mổ tìm nguyên nhân chèn ép mạch

máu thần kinh là nguyên tắc cơ bản của phẫu thuật Tuy

nhiên, số bệnh nhân gặp khó khăn và thất bại có thể lên

đến 12-34% [6] Trong một số trường hợp, không tìm

được nguyên nhân hoặc bỏ sót nguyên nhân làm thất bại

kết quả điều trị Nhiều tác giả trên thế giới đã đưa thêm

nội soi hỗ trợ nhằm tăng hiệu quả tìm nguyên nhân,

tránh bỏ sót Có một số nghiên cứu bắt đầu công bố các

kết quả ban đầu về mổ giải áp mạch có nội soi hỗ trợ

Từ 01 - 2014 đến tháng 06 - 2015, chúng tôi áp dụng nội

soi cho 33 bệnh nhân và đã có được một số kết quả ban

đầu rất đáng khích lệ

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân chẩn đoán xác

định đau dây V Phim cộng hưởng từ không có u vùng

hố sau Được điều trị bằng vi phẫu thuật giải ép tại

Bệnh viện Việt Đức Đầy đủ xét nghiệm, cộng hưởng từ

chẩn đoán vùng góc cầu - tiểu não Các bệnh nhân được khám lại tối thiểu trên 6 tháng Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu, tiến

hành trên 33 bệnh nhân được mổ giải ép vi mạch với kính vi phẫu (KVP) Đánh giá tính ưu việt của kỹ thuật, kết quả giảm đau sau mổ

Mô tả kỹ thuật [6]:

Sử dụng đường mổ sau xoang sigma (retrosigmoid) Bệnh nhân tư thế nằm ngửa đầu nghiêng, cố định đầu bằng khung Mayefield, có thể chuyển động được gáy Gây mê nội khí quản, rạch da 5cm sau tai, mở volet xương đường kính khoảng 2cm dưới chỗ nối của xoang ngang và xoang sigma Mở màng cứng lật phủ về phía xoang

- Bước 1: Mở xương.Kỹ thuật chuẩn vi phẫu, dây

V được nhận biết sau khi vén nhẹ tiểu não, hút bớt dịch não tủy ở bể lớn, phá màng nhện

- Bước 2 Bộc lộ góc cầu tiểu não (GCTN), dây

V: Sau khi khám phá dây V qua kính vi phẫu, ống kính cứng 300 đưa vào vùng góc cầu làm nổi bật hình ảnh Ống kính sử dụng là ống kính chuẩn, KarlStorz loại 300

dùng cho sọ não Ống kính nội soi đi vào theo đường thẳng hướng về phía dây V, giữ cán vị trí ngược với xoang màng cứng Ống kính được xoay bởi cổ tay phẫu thuật viên (PTV) cho phép nhìn rõ gốc dây V Hướng ống kính 300 bên, trung gian, trên hoặc dưới đến khi khám phá rõ ràng Để đạt được mỗi hình, ống kính được điều chỉnh bằng cách xoay tay cầm (rod lens) và camera

để giữ hình ảnh trên phải và trục lý tưởng Thì này quan trọng nhất, phẫu thuật viên trực tiếp cầm ống kính, vỏ não được che phủ bởi bông ướt Các động tác nhẹ nhàng

và chậm Khi khó khăn như chảy máu phải dừng lại và đưa kính vi phẫu để cầm máu ngay

Nếu mạch nhìn rõ ràng được phẫu kính vi phẫu, nội soi chỉ sử dụng định giá mức độ của giải ép và đoạn cuối của cuộc mổ Nếu chèn ép mạch được thấy tốt hơn (hoặc chỉ duy nhất thấy được) nhờ nội soi, nghĩa là mổ

vi phẫu được kiểm soát dưới nội soi

- Bước 3: Quan sát đánh giá nguyên nhân Xác

định nguyên nhân (mạch máu), mức độ chèn ép, số lượng chèn ép, các vị trí chèn ép góc cầu, thân não, hạch Gasser, mặt trước dây V

Trang 3

- Bước 4: Giải ép mạch được thực hiện bằng cách

đặt miếng Neuro-Patch được tạo hình phù hợp, ngăn

giữa mạch máu chèn ép (offending vessel) và đoạn gốc

dây V Khi có thể được, miếng ngăn cách được gập một

nửa dưới áp lực làm tách hơn mạch máu và thần kinh

- Bước 5: Kiểm tra lại bằng nội soi, đánh giá lại kết

quả của miếng ngăn cách, vị trí, tư thế

- Bước 6: Đóng vết mổ.Kỹ thuật chuẩn bao gồm

kiểm tra chảy máu, dùng nước đuổi khí, đóng kín màng

cứng, đặt lại xương, đóng vết mổ các lớp cân cơ, da

Lưu ý: Ống kính nội soi được đưa vào hố sọ sau

một cách nhẹ nhàng, cẩn thận, dọc theo cạnh ống hút

nhỏ Dụng cụ được duy trì để đầu ống kính luôn nhìn

rõ trong mọi thời gian, tránh có thể không nhìn thấy

va chạm với cấu trúc mềm mại mạch máu TK Một số

trường hợp chỉnh sửa miếng giải ép qua nội soi: dùng

một tay phẫu tích và thao tác với miếng giải ép với dụng

cụ nội soi ở một tay và dụng cụ mổ ở tay còn lại Đa số

các trường hợp hút bớt dịch não tủy, phẫu tích màng

nhện, đặt bông che phủ bề mặt tiểu não là đủ thao tác,

do đó không cần dụng cụ vén não

Đánh giá kết quả:

- Trong mổ tìm các nguyên nhân mạch máu chèn

ép thần kinh, thống kê số lượng các nguyên nhân Các vị trí quan sát trên dây V: Vùng góc cầu tiểu não (GCTN), vùng gần thân não (REZ), gần hạch Gasser, mặt trước thân não Hình ảnh quan sát gồm Rất tốt: hình ảnh rõ nét dễ dàng chẩn đoán, Tốt: hình ảnh nhìn đủ chẩn đoán, Kém: hình ảnh không rõ ràng, không đủ chẩn đoán

- Kết quả giảm đau đánh giá ngay sau mổ, thời gian bệnh nhân trong viện Giảm đau theo thang điểm Roland

Apfenbaum [7]: A1(hết đau, không dùng thuốc); A2

(thỉnh thoảng đau, có thể dùng thuốc liều thấp, không

có tác dụng của thuốc); A3 (đau phụ thuộc thuốc, hoặc

có tác dụng phụ của thuốc); A4 (đau như cũ) Gọi là

giảm đau khi A1 hoặc A2 Gọi là không giảm đau khi A3 hoặc A4

KẾT QUẢ

Kết quả áp dụng trong mổ

Bảng 1: Đánh giá khả năng thực hiện trong mổ

Nhận xét: Áp dụng nội soi thuận lợi trên tất cả các bệnh nhân (33/33 BN) Với kỹ thuật không vi phẫu (KVP),

có 3 trường hợp áp dụng khó khăn Số nguyên nhân KVP phát hiện được là 38; NS phát hiện được 31 nguyên nhân

Bảng 2: Đánh giá khả năng quan sát trong mổ

Rất tốt Tốt Kém Rất tốt Tốt Kém Góc cầu tiểu não

Gần thân não (REZ)

Gần hạch Gasser

Mặt trước dây V

19 18 21 18

14 13 12 13

0 3 0 2

31 31 31 30

2 2 2 3

0 0 0 0

Nhận xét: Quan sát vùng GCTN của NS tốt hơn KVP (31/19), đoạn dây V phía thân não (REZ) của NS cũng

tốt hơn KVP (31/18) Tương tự với đoạn gần ra hạch Gasser (31//21) Đặc biệt đoạn REZ có 3 trường hợp và mặt trước dây V có 2 trường hợp KVP quan sát kém, khi dùng NS quan sát rất tốt

Trang 4

Kết quả giảm đau

Bảng 3: Kết quả giảm đau sau mổ

Giảm đau Không giảm đau

ngay sau mổ

sau 1 tháng

sau 3 tháng

sau 6 tháng

30 30 30 29

90,9 90,9 90,9 87,9

3 3 3 4

9,1 9,1 9,1 12.1

Nhận xét: Sau mổ có gần 91% (30/33) trường hợp

giảm đau Sau 6 tháng khám lại, số giảm đau có giảm đi

chút ít, còn gần 88% (29/33)

Tai biến, biến chứng sau mổ

Không có tai biến trong mổ; cũng không có biến

chứng nặng hay đặc biệt nào sau mổ Không có di

chứng nặng sau mổ

BÀN LUẬN

Kết quả áp dụng trong mổ: Với khả năng áp

dụng bao gồm khả năng triển khai kỹ thuật, các thao

tác, trang thiết bị, dụng cụ, bộc lộ trường mổ Kỹ

thuật nội soi vi phẫu đã thực hiện được trên tất cả các

bệnh nhân (33/33 trường hợp) Với KVP có 3 trường

hợp khó khăn chủ yếu tập trung vào khâu thao tác bộc

lộ vùng góc cầu tiểu não, do đã có tiền sử mổ cũ C.Teo

áp dụng thành công 113/114 trường hợp [6] Thì kính

vi phẫu bộc lộ rõ được góc cầu tiểu não làm thuận lợi

đưa nội soi vào, do đó nội soi áp dụng được ở tất cả các

trường hợp Nếu nội soi ngay thì đầu (nội soi toàn bộ)

thì sẽ khó khăn thì bộc lộ hơn là nội soi hỗ trợ Đây là

lý do chúng tôi dùng nội soi hỗ trợ sẽ khả thi hơn nhất

là trong điều kiện hiện nay

Các vị trí quan sát trong mổ tương đối dễ theo thứ

tự là mặt sau của dây V, vùng gần hạch Gasser, mặt

trước [8] Khó nhất là mặt gần thân não (REZ) [9,10],

do tiểu não che khuất, làm hạn chế tầm nhìn KVP Do

đó nội soi hy vọng sẽ khắc phục được nhược điểm này

và thực tế là nội soi cho thấy kết quả nhìn rất tốt vùng

REZ là 31 trường hợp so với KVP chỉ có 18 trường

hợp Ngoài ra KVP quan sát kém vùng REZ có 3 trường

hợp, vùng mặt trước dây V là 2 trường hợp, trong khi đó

nội soi thấy được các trường hợp đó Khi dùng nội soi,

khuyến khích dùng ống kính 00 trước, làm thao tác dễ dàng và quen cảm giác tay Sau đó dùng 300 để tìm các hình ảnh mặt thân não, mặt trước của dây V, là những vùng khó quan sát của KVP [11,12] Kỹ thuật rất quan trọng vì ống kính dài, dễ bị dập não hay chảy máu, bao giờ cũng có lớp bông phủ vỏ não bảo vệ và đi dọc theo mặt xương đá chỗ tiếp giáp với lều làm mốc

Khi quan sát sẽ thấy các hình ảnh nội soi đẹp và

rõ ràng, Có thể quan sát được những nguyên nhân mà KVP không thấy được Do đó với 33 bệnh nhân chúng tôi phát hiện được 38 nguyên nhân trong khi đó KVP thấy được 31 nguyên nhân Có 5 trường hợp không

có nguyên nhân mạch máu: 2 dày dính màng nhện,

2 không thấy nguyên nhân, 1 do miếng Teflon gây ra -mổ cũ Bỏ sót các nguyên nhân có thể gây tái đau hoặc không khỏi đau, tìm được nhiều nguyên nhân sẽ làm giảm nguy cơ đó Các nghiên cứu kính nội soi hỗ trợ đều cho kết luận tăng khả năng tìm được các nguyên nhân như nhận xét của Jarrahy R, El Garem, King WA, Rak R [13,14,15,16]

Nghiên cứu của cúng tôi có 2 trường hợp nội soi không thấy nguyên nhân nhưng khi đưa nội soi vào đều tìm thấy: 1 là động mạch nhỏ ở phía REZ, 1 là tĩnh mạch phía trước Jannetta nhận xét một số mạch máu nhỏ chưa chắc có thể là nguyên nhân gây đau, nhưng tìm được để cách ly sẽ tốt hơn là bỏ qua [17]

Kết quả giảm đau: Kết quả giảm đau ngay sau mổ

là 90%, một tỷ lệ không quá cao, tương đương với sử dụng KVP đơn thuần Với số lượng chưa nhiều trong nghiên cứu này nên cũng có thể cần thời gian theo dõi tiếp Với một số nghiên cứu khác nhiều bệnh nhân hơn,

tỷ lệ giảm đau đến 95% [6]

KẾT LUẬN

Với 33 bệnh nhân mổ giải ép thần kinh điều trị đau dây V có nội soi hỗ trợ, chúng tôi thu được một số kết quả ban đầu đáng khích lệ Nội soi hỗ trợ triển khai thuận lợi hơn KVP (33 so với 30 trường hợp) Các vị trí quan sát dây V (góc cầu, thân não, hạch Gasser, mặt trước), nội soi đều tốt hơn và cho hình ảnh rõ nét hơn Nội soi tìm được nhiều nguyên nhân hơn 38 nguyên nhân so với KVP có 33 nguyên nhân Kết quả giảm đau sớm sau mổ là 90% Kết quả cần thời gian dài và số lượng nhiều hơn để theo dõi và đánh giá kết quả

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Castro AR, Siqueira SR, Perissinotti DM, Siqueira JT (2008) Psychological evaluation and cope with

trigeminal neuralgia and temporomandibular disorder Arq Neuropsiquiatr; 66: 716-9.

2 Gronseth G, Cruccu G, Alksne J, Argoff C, Brainin M, Burchiel K, et al (2008) Practice parameter: the diagnostic evaluation and treatment of trigeminal neuralgia (an evidence-based review): report of the Quality Standards Subcommittee of the American Academy of Neurology and the European Federation of Neurological

Societies Neurology; 71: 1183-90

3 Barker FG, Jannetta PJ, Bissonette DJ, Larkins MV, Jho HD (1996) The long-term outcome of microvascular

decompression for trigeminal neuralgia N Engl J Med; 334: 1077-83

4 Miller JP, Magill ST, Acar F, Burchiel KJ (2009) Predictors of long-term success after microvascular

decompression for trigeminal neuralgia J Neurosurg; 110: 620-6.

5 Jannetta PJ (1967) Arterial compression of the trigeminal nerve at the pons in patients with trigeminal

neuralgia Journal of Neurosurgery;26: 159-162

6 Teo C (2006) Endoscope-assisted microvascular decompression for trigeminal neuralgia: Technique case

report Neurosurgery, 59(4): 489-490.

7 Apfelbaum RI (2000) Neurovascular decompression: the procedure of choice? Clin Neurosurg; 46:473 - 98.

8 Lee SH, Levy EI, Scarrow AM, Kassam A, Jannetta PJ (2000) Recurrent trigeminal neuralgia attributable

to veins after microvascular decompression Neurosurgery;46:356- 361

9 Boecher-Schwarz HG, Bruehl K, Kessel G, Guenthner M, Perneczky A, Stoeter P (1998) Sensitivity and specificity of MRA in the diagnosis of neurovascular compression in patients with trigeminal neuralgia A

correlation of MRA and surgical findings Neuroradiology40:88-95.

10 Meaney JF, Eldridge PR, Dunn LT, Nixon TE, Whitehouse GH, Miles JB (1995) Demonstration of neurovascular compression in trigeminal neuralgia with magnetic resonace imaging Comparison with surgical

findings in 52 consecutive operative cases J Neurosurg;83:799-805.

11 Friedman WA, Kaplan BJ, Gravenstein D, Rhoton AL Jr (1985) Intraoperative brain-stem auditory evoked

potentials during posterior fossa microvascular decompression J Neurosurg;62:552-557.

12 Fukushima T (1978) Endoscopy of Meckel’s cave, cisterna magna, and cerebellopontine angle Technique

note J Neurosurg; 48:302-306.

13 Jarrahy R, Berci G, Shahinian HK (2000) Endoscope-assisted microvascular decompression of trigeminal

nerve Otolaryngol Head Neck Surg;123:218-223.

14 King WA, Wackym PA, Sen C, Meyer GA, Shiau J, Deutsh H (2001) Adjunctive use of endoscopy during

posterior fossa surgery to treat cranial neuropathies Neurosurgery; 49:108-115.

15 El Garem HF, Badr-El-Dine M, Talaat AM, Magnan J (2002) Endoscopy as a tool in minimally invasive

trigeminal neuralgia surgery Otol Neurotol;23:132-135.

16 Rak R, Sekhar LN, Stimac D, Hechl (2004) Endoscope-assisted microsurgery for microvascular

compression syndromes Neurosurgery;54:876-881.

17 Baker FG, Jannetta PJ, Bissonette DJ, Larkins MV, Jho HD (1996) The long-term outcome of microvascular

decompression for trigeminal neuralgia N Engl J Med;334:1077-1083.

Ngày đăng: 10/10/2022, 13:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đánh giá khả năng thực hiện trong mổ - Nội soi hỗ trợ phẫu thuật giải ép dây thần kinh V
Bảng 1 Đánh giá khả năng thực hiện trong mổ (Trang 3)
Bảng 3: Kết quả giảm đau sau mổ - Nội soi hỗ trợ phẫu thuật giải ép dây thần kinh V
Bảng 3 Kết quả giảm đau sau mổ (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w