- Đối với các nước phát triển: mức độ mở cửa cao hơn, lộ trình ngắn hơn - Đối với các nước chậm phát triển: mức độ mở cửa thấp hơn, lộ trình dài hơn Thứ ba, nguyên tắc cạnh tranh công bằ
Trang 1Họ và tên: Nguyễn Thị Thảo Ly
Mã sinh viên: 18D130172
BÀI KIỂM TRA SỐ 1 MÔN: CHÍNH SÁCH KINH TẾ QUỐC TẾ
Câu 1: Phân tích các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động kinh tế quốc tế? Cho ví dụ liên hệ với Việt Nam?
Hoạt động kinh tế quốc tế thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia thông qua trao đổi hàng hóa, dịch vụ, sự lưu thông của các yếu tố sản xuất, sự chuyển đổi tiền tệ và thanh khoản giữa các quốc gia
Khi điều chỉnh hoạt động kinh tế quốc tế, cần phải đảm bảo các nguyên tắc:
Thứ nhất, nguyên tắc không phân biệt đối xử:
Các nước thành viên phải được đối xử thương mại như nhau Mục đích của nguyên tắc này là xoá bỏ phân biệt đối xử, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các nước, từ đó thúc đẩy kinh tế quốc tế
- Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc: Nếu một nước dành những ưu đãi thương mại cho một nước thành viên nào khác thì ngay lập tức và vô điều kiện dành những ưu đãi thương mại đó cho các nước thành viên còn lại
- Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia: Các nước dành cho hàng hoá, dịch vụ các nhà cung cấp dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ của các nước thành viên sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn đãi ngộ dành cho hàng hoá dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ và quyền
sở hữu trí tuệ trong nước
Như vậy, nguyên tắc không phân biệt đối xử có nghĩa là hàng hoá sau khi đã nhập khẩu và nộp thuế thì phải được đối xử bình đẳng như hàng hoá trong nước
Thứ hai, nguyên tắc tự do hoá thương mại
Các nước thực hiện mở cửa thị trường thông qua việc xoá bỏ và giảm dần các rào cản thuế quan và phi thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hoá của các nước thành viên xâm nhập thị trường
Trang 2Ý nghĩa của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ thông qua cạnh tranh lành mạnh chất lượng hàng hoá ngày càng được nâng cao cùng với năng suất lao động
Một khía cạnh nữa của nguyên tắc này đó là sự giảm thiểu tối đa sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động thương mại bằng các hình thức như trợ giá, bù lỗ
- Đối với các nước phát triển: mức độ mở cửa cao hơn, lộ trình ngắn hơn
- Đối với các nước chậm phát triển: mức độ mở cửa thấp hơn, lộ trình dài hơn
Thứ ba, nguyên tắc cạnh tranh công bằng:
- Hoạt động thương mại quốc tế phải được tự do cạnh tranh, cạnh tranh là động lực
để phát triển
- Cạnh tranh phải công khai, công bằng và không bị bóp méo, mới tạo điều kiện để kinh tế quốc tế phát triển
Có thể kể đến như,
Thứ tư, nguyên tắc minh bạch hoá:
Trong kinh tế quốc tế, nguyên tắc minh bạch hoá có nghĩa là các chính sách, luật pháp về kinh tế quốc tế phải rõ ràng, minh bạch, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng cho kinh tế quốc tế
Tính dự báo được của các chính sách kinh tế quốc tế của quốc gia, nhằm giúp các nhà kinh doanh nắm rõ tình hình kinh tế quốc tế hiện tại cũng như trong tương lai gần để
họ có thể áp dụng hay sẽ áp dụng những đối sách phù hợp
Nguyên tắc này tạo sự ổn định cho môi trường kinh doanh kinh tế quốc tế, tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển:
- Các quy định, chính sách của Nhà nước phải được công bố, công khai
- Có lộ trình thực hiện để có thể chuẩn bị và tiên liệu được
- Phải phù hợp với các cam kết và các quy định quốc tế
Thứ năm, nguyên tắc khuyến khích phát triển và hội nhập kinh tế Các ưu đãi lớn hơn được đề ra thường dành cho các nước kém phát triển để khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của quốc gia đó, đồng thời đẩy mạnh hội nhập kinh tế để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của toàn câu
Trang 3Ví dụ có thể kể đên như Việt Nam gia nhập WTO, WTO điều chỉnh hoạt động kinh
tế quốc tế đảm bảo đủ 5 nguyên tắc trên Theo đó, các ưu đãi mà Việt Nam dành cho Trung Quốc thì Việt Nam cũng dành các ưu đãi như vậy cho các thành viên khác trong WTO như Pháp, Đức,… Bên cạnh đó, khi tham gia WTO, Việt Nam cũng phải cam kết giảm dần và gỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan theo lộ trình nhất định, đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài với nhau
Bên cạnh đó, WTO cũng ký kết rất nhiều Hiệp định (hơn 30 Hiệp định), đồng thời thông báo cụ thểm rõ ràng, nhanh chóng đến các quốc gia thành viên Chẳng hạn như Hiệp định Chống bán phá giá, Hiệp định về Tự vệ,… Ngoài ra, WTO còn có các quy tắc, luật lệ trong việc giải quyết tranh chấp
WTO cũng có những ưu đãi khuyến khích phát triển và hội nhập quốc tê Theo thông lệ chung và theo quy định của WTO, các quốc gia chậm phát triển là các quốc gia
có thu nhập bình quân ít hơn 1000USD/người/năm Các nước đang phát triển là quốc gia
có thu nhập từ 1000-6000USD/người/năm Hiện nay ¾ số nước trên thế giới là các quốc gia đang phát triển, vì vậy một trong những nguyên tắc cơ bản là dành những điều kiện đối xử đặc biệt cho các quốc gia này để khuyến khích phát triển và cải cách nền kinh tế của họ
Theo quy định của WTO thì các nước đang và chậm phát triển được hưởng các ưu đãi thương mại để khuyến khích các nước tham gia hội nhập Ưu đãi có thể là:
- Cho lùi lại thời gian thực hiện nghĩa vụ
- Được hưởng một số biện pháp trợ cấp cho xuất khẩu và nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa, các biện pháp trợ cấp khác nhằm làm giảm giá thành sản phẩm nội địa cũng như làm tăng giá thành của các sản phẩm nhập khẩu hay hoàn toàn không áp dụng các quy định về trợ cấp xuất khẩu cho các nước chậm phát triển
Theo nguyên tắc này, các nước chậm phát triển và đang phát triển có thêm một thời gian quý báu để sắp xếp lại sản xuất, thay đổi công nghệ và áp dụng những biện pháp khác để tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm của mình
Trang 4Câu 2: Phân tích loại hình chính sách kinh tế quốc tế theo mức độ can thiệp của nhà nước? Phân tích ví dụ cụ thể minh chứng cho từng loại hình chính sách?
Chính sách kinh tế quốc tế là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp thích hợp của một nước dùng để điều chỉnh hoạt động kinh tế quốc tế của nước đó trong một thời gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội của nước đó
Theo mức độ can thiệp của nhà nước đến hoạt động kinh tế quốc tế, người ta phân
ra làm 3 chính sách, bao gồm chính sách bảo hộ mậu dịch, chính sách mậu dịch tự do và chính sách kết hợp giữa bảo hộ mậu dịch với mậu dịch tự do
Thứ nhât, đối với chính sách tự do hóa thương mại hay còn gọi là mậu dịch tự do
Tự do hóa thương mại là việc dỡ bỏ những hàng rào do các nước lập nên nhằm làm cho luồng hàng hóa di chuyển từ nước này sang nước nước khác được thuận lợi hơn dựa trên
cơ sở bình đẳng Do đó, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa cho hàng hóa được tự do lưu thông giữa trong nước và ngoài nước, tạo điều kiện cho kinh tế quốc tế phát triển trên cơ sở quy luật
tự do cạnh tranh Chính sách này cho phép các thương nhân hoạt động tự do không bị nhà nước can thiệp Chính sách này đem lại những lợi ích tích cực Tạo điều kiện cho người tiêu dùng được lựa chọn và sử dụng nhiều loại hàng hóa, bên cạnh đó, nó cũng đem lại lợi ích cho quốc gia xuất khẩu hàng hóa Bên cạnh đó, việc tự do hóa thương mại tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải đẩy mạnh hoạt động của mình nếu muốn tồn tại và phát triển, làm cho thị trường trong nước sôi nổi hơn, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp khi doanh nghiệp có thể trụ lại
và phát triển Tuy nhiên, nó cũng mang lại những ảnh hưởng tiêu cực Nếu sức ép cạnh tranh quá lớn, mà nền kinh tế trong nước dễ khủng hoảng, chưa ổn định thì sẽ khiến cho quốc gia đó bị phụ thuộc vào các quốc gia bên ngoài, đánh mất tính tự chủ của mình
Có thể kể đến việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức khu vực và thế giới, cam kết
gỡ bỏ và giảm dần các hàng rào thuế quan đối với các hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từ các nước trong khu vực (Ý 3) Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có quốc gia nào tiến hành mở cửa hoàn toàn vì những tác động tiêu cực mà nó mang lại
Trang 5Thứ hai, chính sách bảo hộ mậu dịch Là hình thức chính sách thương mại trong đó nhà nước áp dụng nhiều biện pháp cần thiết như nâng cao tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn, chất lượng, lao động, môi trường, xuất xứ,….hoặc áp đặt thuế nhập khẩu cao đối với một
số mặt hàng để bảo vệ thị trường nội địa, bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu Chính sách này làm hạn chế thương mại giữa các nước và sự xâm nhập thị trường nội địa từ các nước khác Chính sách cũng mang tính hai mặt Lợi ích mà nó mang lại có thể kể đến như bảo hộ sản xuất trong nước, đặc biệt là những ngành sản xuất còn non trẻ có khả năng phát triển và vươn ra thị trường mới Tuy nhiên, mặt tiêu cực của chính sách này là cản trở sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia, bên cạnh
đó, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước không cao, kém linh hoạt Chính vì vậy, trong dài hạn, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp không cao, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia
Có thể nói đến Việt Nam giai đoạn trước năm 1986, nước ta thực hiện chính sách đóng cửa, tự cung tự cấp, kế hoạch hóa tập trung để bảo hộ nền sản xuất trong nước Có thể thấy rằng, giai đoạn đó, nước ta tập trung vào phát triển nông nghiệp và công nghiệp nặng để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân Nước ta không bị lệ thuộc vào bất
cứ quốc gia nào Song thực tế là chúng ta vẫn ở trong tình trạng lạc hậu, không tiếp thu được những công nghệ, kỹ thuật, nền sản xuất, kinh tế và sự cạnh tranh trong nước là rất thấp Chính vì thế, nước ta sau này vẫn bị coi là nước lạc hậu, luôn đi sau các nước phát triển Song có thể thấy rằng, với nỗ lực cải cách chính sách cho phù hợp với sự phát triển toàn cầu, Việt Nam đã thoát kiếp “nước lạc hậu, kém phát triển” mà thay vào đó là nước đang phát triển với chỉ số được coi là khá cao trong khu vực và trên thế giới
Thứ ba, đó là chính sách kết hợp giữa mậu dịch tự do và bảo hộ thương mại Theo
đó, chính sách đề ra những biện pháp để tự do hóa thương mại có lộ trình, đồng thời bảo
hộ những lĩnh vực kinh tế cần thiết Các quốc gia cũng nhận thức được rằng, thương mại
tự do hay bảo hộ thương mại đều có mặt lợi và hại Chính vì vậy, không có quốc gia nào thực hiện chính sách mở cửa hoàn toàn hay bảo hộ hoàn toàn Họ sẽ lựa chọn mức độ kết hợp giữa bảo hộ và tự do mậu dịch, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế Song, hầu hết các quốc gia đều có xu hướng bảo hộ những lĩnh vực mà nó tác động nhiều đến an
Trang 6ninh quốc phòng và an sinh xã hội, công ăn việc làm của người dân, sự tự do thương mại chỉ được chấp nhận khi nó mang lại lợi ích cho quốc gia
Cụ thể, phải kể đến cải cải chính sách kinh tế quốc tế vào năm 1986, đây được coi là một dấu mốc quan trọng trong quá trình thay đổi xu hướng kinh tế của nước ta Trước năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đóng cửa, bảo hộ thương mại hoàn toàn, thì đến năm 1986, đã có cuộc cải cách Trong đó, chính sách đề ra:
Cụ thể nới lỏng các biện pháp hạn chế tham gia hoạt động ngoại thương bao gồm xoá bỏ sự biến dạng của tỷ giá hối đoái, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, triển khai các công cụ bảo hộ trong chính sách thương mại trong giai đoạn đầu; sau đó lại tự do hoá thương mại đáng kể nhằm cải thiện các động cơ khuyến khích xuất khẩu
Tiếp đến xoá bỏ rào cản tham gia kinh doanh ngoại thương như 1988 đưa ra định hướng nới lỏng dần các quy định hạn chế việc thành lập các công ty ngoại thương; 1989 bãi bỏ qui định các doanh nghiệp nhà nước phải hoàn thành chỉ tiêu xuất khẩu sang CMEA trước khi xuất khẩu sang khu vực ngoại tệ có khả năng chuyển đổi, các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng có thể xuất khẩu được phép bán hàng cho bất kỳ công ty ngoại thương nào có giấy phép phù hợp 1991, các công ty tư nhân được cấp phép sẽ trực tiếp tham gia XNK 1995, bãi bỏ qui định các nhà nhập khẩu phải có giấy phép nhập khẩu trên cơ sở hàng chuyến đối với nhiều hàng hóa tiêu dùng và sản xuất 1998, Nghị định 58/1998/NĐ-CP cho phép các DN được quyền xuất khẩu trực tiếp những mặt hàng xuất khẩu không thuộc diện quản lý điều tiết trong giấy phép kinh doanh của mình 2001, cho phép mọi pháp nhân và thể nhân (công ty và cá nhân) xuất khẩu hầu hết mặt hàng trong giấy phép kinh doanh của mình
Bên cạnh đó còn hội nhập kinh tế khu vực và thế giới như năm 1992, ký kết hiệp định thương mại với EU thiết lập hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may và quần áo sang EU cũng như ưu đãi thuế quan đối với các mặt hàng nhập khẩu chọn lọc từ EU 1993, Việt Nam gia nhập Hội đồng Hợp tác Thuế quan (CCC) 1994, Việt Nam đạt tư cách quan sát viên GATT 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và là thành viên AFTA 2000, ký kết hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ 2002, Tổ đàm phán của chính phủ bắt đầu các phiên làm việc về gia nhập WTO ở Geneva (tháng 4-2002) Ngoài ra, đối với Hiệp định
Trang 7thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT/AFTA): Giảm thiểu thuế quan xuống còn từ 0-5% trong vòng 10 năm (đến 2003), loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan, hài hoà các thủ tục hải quan
Có thể thấy, Việt Nam đã rất nỗ lực để tiền chính sách mở cửa Tuy nhiên, nhà nước vẫn bảo hộ các ngành, lĩnh vực quan trọng, liên quan đến an ninh trật tự quốc gia, đời sống của người dân… Có thể kể đến như lĩnh vực an ninh quốc phòng, phát hành tem, bưu chính, in đúc tiền, phát hành xổ số kiến thiết, sản xuất vàng miếng, truyền tải, điều
độ hệ thống điện quốc gia, bưu chính viễn thông, cơ sở hạ tầng công cộng,…
Việt Nam là một nước áp dụng có thể nói là khá tốt trong việc áp dung giữa chính sách bảo hộ mậu dịch và mậu dịch tự do Nhờ vậy, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển với tốc độ tăng trưởng khá cao trong khu vực và trên thê giới, và chắc chắn còn phát triển hơn nữa trong tương lai