Bài làm Câu 1 Chính sách kinh tế quốc tế là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp tích hợp của một nước dùng để điều chỉnh hoạt động kinh tế quốc tế của nước đó trong một thời gian nhất đ
Trang 1Trường Đại học Thương Mại
Họ và tên: Lã Thị Nga
Mã SV: 18D130245
Lớp: K54E4
Kiểm tra Chính Sách Kinh Tế Quốc Tế
Câu 1: Phân tích các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động kinh tế quốc tế? Cho ví dụ liên
hệ với Việt Nam
Câu 2; Phân tích loại hình chính sách kinh tế quốc tế theo mức độ can thiệp của nhà nước? Phân tích ví dụ cụ thể minh chứng cho từng loại chính sách
Bài làm
Câu 1
Chính sách kinh tế quốc tế là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp tích hợp của một nước dùng để điều chỉnh hoạt động kinh tế quốc tế của nước đó trong một thời gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế- chính trị - xã hội của nước đó
Có 5 nguyên tắc điều chỉnh hoạt động kinh tế quốc tế, cụ thể là:
Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Các nước thành viên phải được đối xử thương mại như nhau Mục đích của nguyên tắc này là xóa bỏ phân biệt đối xử, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các nước, từ đó thúc đầy kinh tế quốc tế
- Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc ( MFN - Most Favoured Nation treatment) Nếu một nước dành những ưu đãi thương mại cho một nước thành viên nào khác thì ngay lập tức và vô điều kiện dành những ưu đãi thương mại đó cho các nước thành viên còn lại
- Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT - National treatment): Các nước dành cho hàng hoá, dịch vụ các nhà cung cấp dịch vụ và QSHTT của các nước thành viên sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn đãi ngộ dành cho hàng hoá dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ và QSHTT trong nước
Trang 2 Ví dụ khi Việt Nam gia nhập WTO, vì Pháp và Thái Lan đều là thành viên của WTO nên sự ưu đãi của Việt Nam dành cho Pháp cũng phải giống như
ưu đãi dành cho Thái Lan, nếu không có thỏa thuận gì khác
Tương tự những ưu đãi dành cho doanh nghiệp trong nước cũng phải giống như doanh nghiệp nước thành viên WTO
Nguyên tắc tự do hoá thương mại
Các nước thực hiện cần thuế và phị thuế, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hoá, của các nước thảnh viên xâm nhập thị trường
- Các nước thực hiện mở cửa thị trường
- Giảm thiểu tối đa sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế
Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
- Tự do cạnh tranh , cạnh tranh là động lực để phát triển
- Cạnh tranh phải công khai , công bằng và không bị bóp méo
Nguyên tắc minh bạch hoá
- Các quy định , chính sách của nhà nước phải được công bố công khai
- Có lộ trình thực hiện để có thể chuẩn bị và tiên liệu được
- Phải phù hợp với các cam kết và các quy định quốc tế
Nguyên tắc minh bạch hoá
Hoạt động TMQT phải được minh bạch hóa Bằng nguyên tắc này WTO quy định các nước thành viên có nghĩa vụ phải bảo đảm tính ổn định rõ ràng và có thể dự báo được trong kinh tế quốc tế, có nghĩa là các chính sách, luật pháp về kinh tế quốc tế phải rõ ràng, minh bạch, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng cho kinh tế quốc tế Ví dụ các quốc gia không thể đơn phương tăng thuế nhập khẩu, mà chỉ có thể tăng thuế nhập khẩu sau đã tiến hành đàm phán lại và
đã đền bù thỏa đáng cho lợi ích của các bên bị thiệt hại do chính sách tăng thuế đó
- Các quy định , chính sách của nhà nước phải được công bố công khai
- Có lộ trình thực hiện để có thể chuẩn bị và tiên liệu được
- Phải phù hợp với các cam kết và các quy định quốc tế
Nguyên tắc khuyến khích phát triển và hội nhập kinh tế
Các nước đang và chậm phát triển được hưởng các ưu đãi thương mại để khuyến khích các nước tham gia hội nhập Theo nguyên tắc này các nước chậm phát triển và đang phát triển có thêm một thời gian quý báu để sắp xếp lại sản xuất , thay đổi công nghệ và áp dụng những biện pháp khác để tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm của mình Ưu đãi có thể là
- Cho lùi lại thời gian thực hiện nghĩa vụ
- Được hưởng một số ưu đãi nhất định
Liên hệ Việt Nam:
Trang 3Kể từ sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thử 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/1/2007, Việt Nam được hưởng đầy
đủ các quyền mà các hiệp định của WTO dành cho, đồng thời Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với tư cách là thành viên tham gia các hiệp định cũng như các cam kết bổ sung đối với các thành viên khác của WTO trước khi được các nước thành viên chấp nhận cho Việt Nam gia nhập WTO
Cụ thể với các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động kinh tế quốc tế: Việt Nam
đã đưa ra cam kết tiếp cận thị trường cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ thương mại của các thành viên theo 4 phương thức tương đối mở và tính cho đến ngày 1/1/2009, một số hạn chế về hiện diện thương mại, tỷ lệ góp vốn đã được thu hẹp dần Nhưng Việt Nam vẫn được quyền đưa ra một
số ngoại trừ trong cam kết đãi ngộ tối huệ quốc chung phù hợp với quy định của Điều II (2 và 3) của GATS
Việt Nam dã xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật tương dối đầy đủ làm
cơ sở pháp lý cho phép Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và dễ dàng thực hiện các cam kết quốc tế về thương mại Điển hình là Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế được Quốc hội thông qua năm 2005; Nghị quyết số 71/2006 ngày 29/11/2006, phê chuẩn Nghị định thu gia nhập Hiệp định thành lập WTO của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết 71) Liên quan đến thương mại, chúng ta có Pháp lệnh về đối
xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua năm 2002 và một loạt các văn bản pháp lý như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Giáo dục, Luật Xây dụng, Luật Chuyển giao công nghệ v.v chứa đựng nguyên tắc chung về không phân biệt đối xử và ưu tiên áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế trong trường hợp có quy định khác nhau giữa pháp luật trong nước
và điều ước quốc tế về cùng một vấn đề
Câu 2.
Theo mức độ can thiệp của nhà nước đến hoạt động kinh tế quốc tế, có thể chia chính sách kinh tế quốc tế thành hai loại hình:
- Chính sách bảo hộ mậu dịch
Trang 4- Chính sách mậu dịch tự do
- Chính sách kết hợp
Về chính sách bảo hộ mậu dịch, đây là hình thức chính sách thương mại trong
đó nhà nước áp dụng nhiều biện pháp cần thiết để bảo vệ thị trường nội địa, bảo
vệ nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu Chính sách này làm hạn chế thương mại giữa các nước và sự xâm nhập thị trường nội địa từ các nước khác
- Quan điểm ủng hộ chính sách này cho rằng chính sách này sẽ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ sản xuất trong nước, thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Đồng thời họ lập luận rằng các quốc gia mong muốn bảo vệ người lao động, tao việc làm và phân phối lại thu nhập, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ đời sống thực vật, môi trường,…
- Tuy nhiên quan điểm không ủng hộ lại cho rằng bảo hộ thương mại cản trở tăng trưởng kinh tế quốc gia cũng như toàn cầu Các ngành sản xuất trong nước, kể cả ngành non trẻ khó có thể phát triển bền vững bởi nó cần đến chi phí không nhỏ từ nhà nước và các nguồn lực khác Ngoài ra, bảo hộ mậu dịch còn giảm lợi ích người tiêu dùng, dẫn đến chiến tranh thương mại giữa các quốc gia
Ví dụ điển hình của chính sách này là tại Mỹ, một trong các hành động lập pháp đầu tiên của Tổng thống Donald Trump là tuyên bố rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đàm phán lại Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), ngừng đàm phán FTA với EU, tiếp đó là
áp đặt thuế nhập khẩu khá cao đối với sản phẩm của nhiều nước như nhôm, thép cuốn; đặt ra yêu sách với Trung Quốc cắt giảm thặng dư thương mại với Mỹ bằng cách mở cửa thị trường nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ
Đứng trước chủ trương của Mỹ áp đặt thuế nhập khẩu khá cao đối với một số mặt hàng như 25% với thép, 10% với nhôm, các nước có phản ứng khá gay gắt, thậm chí một số chính khách Mỹ cuxngc không ủng hộ quan điểm này bởi lẽ nếu Myc tăng thuế quan với hàng nhập khẩu từ các nước, xuất khẩu của Mý sẽ giảm từ 40-50% Tuy nhiên chính sách này lại có hiệu quả tích cực làm hạn chế thương mại với các nước đang xâm nhập thị trường Mỹ, đặc biệt là Trung Quốc, đồng thờ cũng được coi là sự trừng phạt của Mỹ đối với nước này
Trang 5 Về chính sách mậu dịch tự do, đây là hình thức chính sách thương mại trong đó Nhà nước không can thiệp trưc tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa cho hàng hóa được tự do lưu thông giữa trong
và ngoài nước, tạo điều kiện chỗ kinh tế quốc tế phát triển trên cơ sở quy luật tự
do cạnh tranh Chính sách này cho phép các thương nhân hoạt động tự do không bị nhà nước can thiệp Lý thuyết lợi thế so sánh cho phép các bên tham gia kinh tế quốc tế để được hưởng lợi từ hoạt động này
- Quan điểm ủng hộ chính sách này cho rằng nó sẽ giúp các nước được tiếp cận với những hàng hóa mình không sản xuất được, đồng thời đưa ra xá tiêu chuẩn văn hóa hay tiêu chuẩn đạo đức của hàng hóa để cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trên toàn lãnh thổ hay toàn cầu quan trọng hơn là tự do hóa thương mại sẽ giúp thúc đẩy toàn bộ tiến trình cải cách xã hội
- Tuy nhiên một số quan điểm không ủng hộ lại cho rằng tự do hóa thương mại làm nảy sinh những vấn đề rất phức tạp đòi hỏi phải giải quyết một cách đồng bộ, dẫn đến sự ra đời của các hiệp ước thuế quan Đồng thời khi ngân sách nhà nước xây dựng chủ yếu trên thuế thu nhập doanh nghiệp thì không khuyến khích tự do hóa
Ví dụ như Việt Nam đã thể hiện chính sách mậu dịch tự do của mình thông qua việc tham gia 12 FTA, 1 FTA đã ký nhưng chưa có hiệu lực (EVFTA), 3 FTA đang đàm phán (Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); Việt Nam - EFTA FTA; Việt Nam - I-xra-en FTA) Các FTA này đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn và có quan hệ thương mại với trên 230 thị trường, trong đó có FTA với 60 nền kinh tế, qua
đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng tiếp cận thị trường toàn cầu, là cơ hội để Việt Nam kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu Tuy nhiên doanh nghiệp Việt Nam cũng phai chật vật đối phó với sự cạnh tranh từ nước ngoài với công nghệ hiện đại, sản phẩm mẫu mã đẹp, đa dạng, tiện lợi,…
Chính bởi những ưu điểm và nhược điểm kể trên, sự kết hợp giữa hai chính sách tự do thương mại và bảo hộ thương mại được rất nhiều nước áp dụng
Về lý thuyết, trong điều kiện nguồn lực tự do di chuyển, tự do thương mại và cản bằng cán cân thanh toán giữa các nước thì mở rộng cửa thương mại để trao đổi hàng hoá với nước khác, cái gid nước mình có lợi thế cạnh tranh tương đổi
Trang 6thi tập trung làm rồi trao đổi với tác khác để thế giới được nhiều hàng hoá hơn, mức sống nâng cao hơn Trên thực tế, các nền kinh tế thể giới không mở cửa tự
do hoàn toàn mà nhiểu nước, bằng nhiều cách khác khau họ bảo hộ những ngành sản xuất của nước mình, và một số nước phát trên luôn tim cách bảo vệ
và trợ cấp cho ngành nông nghiệp thay vi dẹp ngành nông nghiệp và đưa những nông dẫn đi làm nghe khác nơi må nước họ có cạnh tranh tuơng đối Tất nhiên, thương mại tự do sẽ chỉ hiệu quả khi diễn ra dưới sự công bằng và tự do Thực
tế là những điều kiện để đảm bảo thươmg mại tự do và công bằng không điễn
ra Nước nào cũng bảo vệ lợi ích kinh tế của nuớc mình Sự mở cửa tự do thưong mại do đó chi tương đối
Đóng cửa hoàn toàn cũng không tốt mà mở toang cánh của ty do thuơng mại cũng chưa chắc là giai pháp tối ưu Do đó, lựa chọn của các chính quyền thường
là họ sẽ bảo vệ những lĩnh vực mà ở đó tác động nhiều đến an ninh quốc phòng
và sinh xã hội, công ăn việc làm của người dân sự tự do thương mại do đó chi được cởi bỏ nếu đánh giá tổng quan mang lại lợi ich kinh tế cho nuóc họ Các quốc gia phải thực hiện tự do hóa theo một lộ trình dựa trên phân tích lợi ích và chi phí kể hợp với những phân tích khác
Ví dụ cụ thể như ở Việt Nam khi rà lại những cam kết mà chúng ta đã ký, có thể thấy không gian để chính phủ hỗ trợ, bảo vệ cho doanh nghiệp đã hẹp lại không đáng kể Hầu như không còn không gian để bảo vệ sản xuất trong nước bằng thuế quan hay các biện pháp phi thuế, trừ một số sản phẩm nhạy cảm Cũng không còn nhiều lắm không gian để ưu đãi cho nhà đầu tư trong nước nhiều hơn nước ngoài Chúng ta cũng không còn được áp dụng những gói trợ cấp tín dụng riêng cho những ngành, những lĩnh vực mà chúng ta mong muốn, đồng thời cũng sẽ không thể ưu tiên doanh nghiệp nội địa trong các cuộc đấu thầu mua sắm bằng tiền ngân sách, hay không thể tự do áp dụng các tiêu chuẩn lao động, môi trường phù hợp với sức chịu đựng của doanh nghiệp nội địa
Mặc dù vậy, Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng hàng rào kỹ thuật (TBT), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) để bảo vệ sản phẩm nội địa chất lượng tốt, bảo vệ nông sản nội địa an toàn Chúng ta cũng có thể dùng các công cụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ (TR) nếu hàng hóa nước ngoài
Trang 7cạnh tranh không lành mạnh hay nhập khẩu ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất trong nước
Thậm chí Việt Nam vẫn có thể dùng biện pháp trợ cấp tài chính d=cho doanh nghiệp một ngành nhất định miễn đó không phai trợ cấp xuất khẩu hay ưu tiên dùng hàng nội địa, thậm chí các biện pháp ưu đãi tài chính không nhằm nhóm riêng biệt nào
Như vậy, bên cạnh việc mở cửa, Việt Nam vẫn có những chính sách nhất định để bảo hộ nền kinh tế nội địa