1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển kinh tế đất nước sẽ kéo theo sự phát triển của ngành bảo hiểm ví dụ ở việt nam

23 1,3K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 130,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển kinh tế đất nước sẽ kéo theo sự phát triển của ngành bảo hiểm ví dụ ở việt nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Nhận xét của giáo viên

Trang 3

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU.

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm bảo hiểm 6

2 Các loại hình bảo hiểm 6

PHẦN 2: SỰ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM 1 Thực trạng bảo hiểm trước năm 2006 7

2 Thực trạng bảo hiểm sau năm 2006 10

PHẦN 3: TRIỂN VỌNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM 1 Dân số và nhu cầu đào tạo 17

2 Phát triển kinh tế 18

3 Sự phát triển của thị trường tài chính 18

4 Sự ủng hộ của nhà nước Việt Nam 19

PHẦN MỞ RỘNG: SINGAPORE- MỘT QUỐC GIA PHÁT TRIỂN MẠNH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM 20

LỜI KẾT THÚC.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Trang 5

Bài tiểu luận này chúng em xin đưa ra vài ví dụ thực tiễn chứng minh sự tăng trưởngkinh tế đất nước sẽ kéo theo sự phát triển của ngành bảo hiểm.

Trang 6

PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Khái niệm Bảo hiểm :

Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (ngườitham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổchức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chitrả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra

Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng Hợp đồng bảo hiểm là sựthoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người thamgia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba(người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công tybảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng

2 Các loại hình bảo hiểm :

Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH),bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM)

a Bảo hiểm xã hội : BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mụcđích lợi nhuận BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trungnhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợcấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất

b Bảo hiểm y tế : Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mụcđích kinh doanh BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động

sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanhtoán chi phí khám chữa bệnh Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp:khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú

c Bảo hiểm thương mại : BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận BHTM là biệnpháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lậpbởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm Từ đây, nền kinh

tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm BHTM được chia thànhhai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

Trang 7

Bảo hiểm nhân thọ : là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số

tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của conngười BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trườnghợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hếthạn hợp đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật… Phí của một hợp đồngBHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công

ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác),các chi phí hoạt động khác của công ty

Bảo hiểm phi nhân thọ : BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không

phải là BHNT BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau: Bảo hiểm tài sản, bảo hiểmtrách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người Ngoài các đặc trưng giống như BHTM, BHPNTcòn có các đặc trưng chủ yếu sau: Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn:thường là một năm hoặc ngắn hơn BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi

ro được bảo hiểm xảy ra

PHẦN 2: SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1 Thực trạng bảo hiểm trước năm 2006:

Bảo hiểm có mặt ở nước ta từ năm 1963, lúc đó Bộ Tài chính đã tiến hành nghiên cứu,xúc tiến thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam với sự cộng tác của công ty bảo hiểm nhân dânTrung Hoa

Ngày 17/12/1964 bằng Quyết định số 179/CP của hội đồng Chính phủ, theo đề nghịcủa Bộ trưởng Bộ Tài chính, công ty bảo hiểm Việt Nam, tên giao dịch là Bảo Việt đượcthành lập và chính thức khai trương hoạt động ngày 15/01/1965 với số vốn điều lệ là 10 triệuđồng Việt Nam (tương đương 2 triệu USD vào thời điểm đó), dưới sự quản lý trực tiếp của

Bộ Tài chính Trong thời gian này, Bảo Việt mới chỉ triển khai mảng bảo hiểm phi nhân thọchủ yếu là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa xuất - nhập khẩu, bảohiểm tàu biển Doanh thu của Công ty tại thời điểm này chỉ đạt 800 nghìn đồng Việt Nam vớitổng tài sản là 900 triệu đồng Trong giai đoạn từ năm 1964 tới năm 1975, Bảo Việt chỉ phục

vụ một nhóm nhỏ khách hàng là các đơn vị kinh tế nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực xuất

Trang 8

nhập khẩu, tầu biển thuộc Miền Bắc Vì những năm này đất nước ta đang trong chiến tranh,nền kinh tế chưa phát triển, xã hội không ổn định nên rất ít người tham gia loại hình bảohiểm.

Vào năm 1976, Bộ trưởng Bộ Kinh tế tài chính Chính phủ cách mạng lâm thời Cộnghoà miền Nam Việt Nam ra quyết định số 21/QĐ-BKT thành lập công ty bảo hiểm, tái bảohiểm Việt Nam (viết tắt là BAVINA), thuộc Tổng nha tài chính Chính phủ cách mạng lâmthời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Và vào năm 1977 Bộ trưởng Bộ Tài chính ra quyết định

số 61/TCQĐ/TCCB về việc sát nhập BAVINA thành chi nhánh của Bảo Việt tại thành phố

Hồ Chí Minh Như vậy, kể từ đây, Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các tỉnhmiền Nam

Chính sách mở cửa của nước ta vào năm 1987 đã tạo điều kiện cho ngành kinh tế pháttriển cũng như tạo cơ hội cho ngành bảo hiểm Việt Nam được học hỏi và tiếp cận với những

kỹ thuật bảo hiểm mới trên thế giới Từ kinh nghiệm các nước, BảoViệt (lúc đó vẫn là công tybảo hiểm duy nhất ở Việt Nam) đã thấy được tiềm năng to lớn của bảo hiểm nhân thọ ở nước

ta Vì vậy, Bảo Việt bắt đầu nghiên cứu triển khai bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam với đề án

“Bảo hiểm nhân thọ và điều kiện triển khai ở Việt Nam”, nhưng lúc đó chưa có đủ điều kiệnvì: Thu nhập dân cư còn thấp, kinh tế còn kém phát triển, tỷ lệ lạm phát còn cao, thị trường tàichính chưa phát triển, chưa có môi trường đầu tư và các công ty bảo hiểm chưa được phéphoạt động trong lĩnh vực đầu tư, chưa có văn bản pháp Luật điều chỉnh mối quan hệ giữa công

ty bảo hiểm và khách hàng, đội ngũ cán bộ bảo hiểm lúc đó chưa được trang bị những kiếnthức về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ Do đó, Bảo Việt chỉ triển khai một số sản phẩm bảohiểm như bảo hiểm sinh mạng có thời hạn 1 năm (bảo hiểm nhân thọ tử kỳ thời hạn 1 năm).Đây là loại hình bảo hiểm nhân thọ đơn giản nhất và có nhiều đặc điểm tương đồng với bảohiểm con người phi nhân thọ

Tuy nhiên sau thời kỳ đổi mới kinh tế được 10 năm, nền kinh tế Việt Nam đã cónhững bước phát triển vượt bậc, lạm phát đã được đẩy lùi, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạtmức cao từ 6% - 9%/năm, môi trường kinh tế_xã hội và môi trường pháp lý có nhiều thuận lợihơn cho các ngành nghề phát triển Đời sống người dân ngày càng được nâng cao và ở một bộphần quần chúng dân cư đã bắt đầu có tích luỹ Do đó năm 1996, công ty bảo hiểm đã thựchiện chủ trương mở rộng, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tới các tầng lớp dân cư, tiêu biểu

Trang 9

là Bảo Việt đã nghiên cứu và đưa ra thị trường dịch vụ bảo hiểm nhân thọ lần đầu tiên ở ViệtNam, thể hiện vai trò tiên phong của Bảo Việt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Ngày20/3/1996, Bộ Tài Chính đã chính thức quyết định cho phép Bảo Việt triển khai 2 sản phẩm:Bảo hiểm hỗn hợp nhân thọ và Bảo hiểm an sinh giáo dục

Tháng 8/1996, Bảo Việt đã bán những sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra thịtrường, đánh dấu sự khởi đầu cho chặng đường phát triển đầy hứa hẹn của BHNT ở ViệtNam

Nền kinh tế dần phát triển, bảo hiểm cũng có những thay đổi to lớn về đa dạng hóanhững sản phẩm, doanh thu của công ty bảo hiểm tăng đáng kể Ví dụ như công ty bảo hiểmBảo Việt vào thời điểm năm 1989, tổng doanh thu đạt con số 78 tỷ, tổng tài sản đạt 73 tỷ, lợinhuận thu được là 6,6 tỷ đồng Việt Nam Xét về cơ cấu kinh doanh, nghiệp vụ bảo hiểm hànghải truyền thống chỉ chiếm 65% tổng doanh thu bảo hiểm gốc Các nghiệp vụ khác như bảohiểm con người, xe cơ giới đã chiếm khoảng 25% tổng doanh thu nhưng năm 1996, doanh sốcủa Bảo Việt đã tăng lên đáng kể đó là đạt 970 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ bảo hiểm phinhân thọ đạt 882 tỷ, doanh thu từ đầu tư tài chính đạt 80 tỷ đồng

Với môi trường đầu tư ngày càng được hoàn thiện thì nhiều công ty bảo hiểm trongnước và nước ngoài đã thành lập ở Việt Nam:

DNBH Phi nhân thọ VN: Bảo Minh (1994), PJICO (1995), Bảo Long (1995), PVI(1996), PTI (1998)…

DNBH Phi nhân thọ có vốn nước ngoài: VIA (1996), UIC (1997), Allianz (1999), Việt

Úc (1999)…

DNBH Nhân thọ VN: Bảo Việt Nhân thọ (1996 triển khai thí điểm)

DNBH Nhân thọ có vốn nước ngoài: Bảo Minh CMG (1999), Prudential (1999),Manulife (1999)…

DN môi giới BH AON (1999)…

DN tái BH VINARE (1994)

Trang 10

2 Thực trạng bảo hiểm sau năm 2006:

a Những điều kiện kinh tế - xã hội giúp bảo hiểm phát triển :

Năm 2006 là năm diễn ra các sự kiện lớn: Việt Nam tổ chức thành công hội nghịAPEC, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO mở ra một thời kỳ mới với nhiềuthời cơ vận hội cũng như thách thức cho sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và phát triểncủa ngành bảo hiểm nói riêng Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,2%, xuất khẩu 39,6 tỉ USD, đầu

tư nước ngoài, FDI đạt 10,2 tỉ USD, chỉ số CPI tăng gần 7% thấp hơn tăng GDP và thấp hơn

dự kiến, là tiền đề cơ bản để phát triển bảo hiểm Tuy nhiên, trong năm 2006 đã xảy ra 02 cơnbão gây thiệt hại nặng nề cho khu vực miền Trung và 01 cơn bão bất thường gây thiệt hại chokhu vực Nam Trung Bộ và miền Tây Nam Bộ, ảnh hưởng nhiều tới bảo hiểm Phi nhân thọ

Sự phát triển nóng của thị trường chứng khoán, giá vàng và đô la nhiều lúc biến động Lãisuất tiền gửi tiếp tục tăng đã ảnh hưởng tới thị trường bảo hiểm Nhân thọ Nền kinh tế ViệtNam tiếp tục mở cửa và hội nhập quốc tế với mức độ sâu rộng hơn, các ngành công nghiệpvận tải biển và đóng tàu, hàng không dân dụng, dệt may, giày da có những bước phát triển độtphá Với tăng trưởng GDP đạt 8,5% trong năm 2007, đầu tư trực tiếp nước ngoài tương đương20,3 tỉ USD, đầu tư toàn xã hội đạt 40% GDP, vốn ODA đạt 5,4 tỉ USD xuất khẩu đạt 48 tỉUSD cộng với thị trường tài chính tiền tệ tiếp tục phát triển theo xu thế ổn định sau một thờigian phát triển nóng như: tín dụng ngân hàng, chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm làm tiền đề

cơ bản cho ngành bảo hiểm Việt phát triển một cách thuận lợi

Nhưng cơn khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra vào năm 2008 đã ảnh hưởng sâu sắctới nền kinh tế nước ta khiến thị trường chứng khoán suy thoái, hoạt động đầu tư giảm sút, thịtrường bất động sản đóng băng, lãi suất biến động… gây ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt độngsản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng.Trong bối cảnh bất lợi đó, GDP của Việt Nam vẫn tăng trưởng ở mức 6.23% tuy thấp hơn sovới năm 2007 nhưng vẫn tạo ra những nhân tố ảnh hưởng tích cực đối với sự tăng trưởng củathị trường bảo hiểm Đầu năm 2009 nền kinh tế xã hội Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng

nề của khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt độnggiảm sút hoặc cầm chừng, công nhân thiếu việc làm giảm sút thu nhập dẫn đến không có đủkhả năng tài chính tham gia bảo hiểm Không ít khách hàng truyền thống của doanh nghiệpbảo hiểm không có tiền đóng phí bảo hiểm mặc dù nhu cầu bảo hiểm không hề giảm thậm chí

Trang 11

tăng lên như ngành vận tải biển, vận tải hàng không, than khoáng sản … Khách hàng tiềmnăng của bảo hiểm nhân thọ bị thu hẹp vì khó khăn tài chính thậm chí không ít khách hàngkhông có khả năng đóng phí bảo hiểm để duy trì hợp đồng bảo hiểm Trong năm 2009 nhiềuthiên tai giông tố lũ lụt xảy ra nhất là cơn bão số 9 & 11 liên tiếp gây thiệt hại nặng nề cho cáctỉnh miền Trung Thị trường chứng khoán đã có thời điểm xuống chỉ còn 235 điểm (ngày24/2), thị trường bất động sản, ngoại tệ mất ổn định ảnh hưởng lớn tới hiệu quả đầu tư củadoanh nghiệp bảo hiểm.

Trước tình hình trên các DNBH đã tìm cách tháo gỡ khó khăn vươn lên bằng nội lựccủng cố xếp sắp lại quản lý kinh doanh, cải tiến sản phẩm bảo hiểm hiện hành, nghiên cứuphát triển sản phẩm mới, mở rộng và nâng cao chất lượng kênh phân phối, chung tay vớikhách hàng giải quyết khó khăn và tài chính như giãn thời hạn nộp phí, cho vay để đóng phíbảo hiểm… Bắt đầu từ Quý II/2009 chính phủ thực hiện hàng loạt giải pháp kích cầu cho vay

hỗ trợ lãi suất, đẩy mạnh đầu tư công, giảm thuế VAT, thuế trước bạ cho một số mặt hàng,giảm và giãn thuế TNDN 2008, miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm 2009, Những giải pháptrên đã phát huy tác dụng tích cực Tăng trưởng kinh tế GDP năm 2009 đạt 5,32%, đầu tưtoàn xã hội chiếm 42,5% GDP, FDI thu hút được 20 tỉ USD, ODA thu hút 8,1 tỉ USD, xuấtkhẩu đạt 56,6 tỉ USD, nhập khẩu đạt 68,8 tỉ USD Ngành bảo hiểm nắm bắt những cơ hội trên

để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ là tấm lá chắn kinh tế của nền kinh tế xã hội trước nhữngrủi ro thiên tai tai nạn sự cố bất ngờ được bảo hiểm

Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam tiếp tục ổn định và phát triển vào năm 2010, GDPtăng trưởng 6,25% so với cùng kỳ năm ngoái, FDI tăng 5,9% Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng15,7%, nhập siêu ước tính 6.7 tỉ USD bằng 21%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,8%, tỉ giá hốiđoái, lãi suất ngân hàng, giá vàng, chứng khoán tuy có biến động nhỏ nhưng đã được xử lýkịp thời tạo thế ổn định phát triển kinh tế

Đến nay tất cả các DNBH đều đóng đủ vốn pháp định theo đúng lộ trình 3 năm saungày ban hành NĐ 46/2007/NĐ-CP, hầu hết các DNBH đã sửa đổi bổ sung quy trình và thủtục khai thác bảo hiểm, giám định tổn thất và giải quyết bồi thường Nhiều DNBH đã đưa dữliệu trên vào phần mềm quản lý phát huy được hiệu quả nhanh chóng, kịp thời chính xác CácDNBH đã tích cực phát triển sản phẩm bảo hiểm mới, mở rộng kênh phân phối sản phẩm,tăng cường dịch vụ chăm sóc khách hàng, xây dựng uy tín thương hiệu

Trang 12

b Sự phát triển của bảo hiểm :

 Sự gia nhập ngày càng nhiều của các công ty trong ngành:

Nhờ những điều kiện kinh tế phát triển dẫn đến môi trường kinh doanh ngày càngđược hoàn thiện và mang đến thuận lợi cho nhà đầu tư thì ngày càng có nhiều doanh nghiệpgia nhập ngành bảo hiểm hơn Cụ thể tính đến hết năm 2006, trước thời điểm cam kết WTO

có hiệu lực, thị trường BHVN đã có 21 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (trong đó có 2DNBH nhà nước, 4 DNBH liên doanh, 5 DNBH có 100% vốn nước ngoài), 7 doanh nghiệpbảo hiểm Nhân thọ (trong đó có 1 DNBH nhà nước và 6 DNBH 100% vốn nước ngoài), 8 DNmôi giới BH (trong đó có 5 công ty cổ phần và 3 công ty 100% vốn nước ngoài), 1 DN tái bảohiểm là công ty cổ phần

Trong khi đó tính đến hết tháng 6/2010 số lượng công ty bảo hiểm có mặt trên thịtrường tăng gần gấp đôi thể hiện nhà đầu tư nhận thức đây là một thị lĩnh vực tiềm năng và cóthể phát triển Cụ thể có 50 doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động trong đó gồm 28 doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (trong đó có 7 DNBH 100% vốn nước ngoài, 4 DNBH liêndoanh), 11 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (trong đó 10 DNBH 100% vốn nước ngoài), 10doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (trong đó 4 DNBH 100% vốn nước ngoài), và 1 doanhnghiệp tái bảo hiểm Hiện tại Bộ Tài Chính đã chấp nhận về nguyên tắc việc cấp giấy phépthành lập và hoạt động cho 1 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ_Công ty bảo hiểm CathayViệt Nam và 1 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ_Công ty bảo hiểm nhân thọ Fubon Việt Nam

 Sự đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm:

Do có nhiều công ty gia nhập ngành dẫn đến số lượng sản phẩm bảo hiểm ngày càngnhiều, đa dạng, phong phú cơ bản hơn đáp ứng nhu cầu và tạo được sự lựa chọn mang tínhcạnh tranh cho khách hàng Nếu như năm 1999 mới chỉ có 20 sản phẩm bảo hiểm, thì đến naykhối Phi nhân thọ đã có 3 sản phẩm bảo hiểm bắt buộc và 600 sản phẩm BH do DNBH đăng

kí với Bộ Tài chính; Khối NT có gần 200 sản phẩm BH được Bộ Tài chính phê duyệt nângtổng số sản phẩm bảo hiểm lên rất nhiều so với trước đây Ngoài ra, giữa các sản phẩm BHcũng có sự khác biệt giữa DNBH này với DNBH khác mang lại nhiều tiện ích và sự lựa chọnhơn cho khách hàng Đã có nhiều sản phẩm BH đòi hỏi kĩ thuật công nghệ BH cao như BHhàng không, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm đóng tàu, bảo hiểm công trình 70tầng, bảo hiểm các công trình ngầm Đặc biệt, BHNT đã ra đời, phát triển sản phẩm BH liên

Ngày đăng: 10/03/2014, 09:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w