MỤC LỤC 1 Khái niệm bình đẳng giới 1 2 Thực trạng của bình đẳng giới 2 2 1 Thực trạng trên thế giới hiện nay 2 2 2 Thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay 3 2 3 Mặt tích cực của bình đẳng giới 4.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 21 Khái niệm bình đẳng giới
Bình đẳng giới là việc phụ nữ và đàn ông có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và vị thế ngang nhau trên mọi phương diện của đời sống xã hội Tất cả chúng ta khi sinh ra và lớn lên, sẽ đều được hưởng quyền lợi như nhau trên những thành tựu phát triển chung của mỗi người Trên thực tế, bất bình đẳng giới là vấn đề nổi cộm ở đa số các quốc gia trên thế giới Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực châu Á vẫn còn tư tưởng này Nơi mà phụ nữ bị hạn chế về tiếng nói, về quyền hành, về
cơ hội học tập và phát triển Vai trò của đàn ông trong gia đình cũng như xã hội được đề cao, thậm chí được phóng đại quá mức
Vì thế cần thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách công bằng như: quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, sinh con trai hay con gái, chăm sóc nuôi dạy con cái… trên cơ sở chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau tạo sự đồng thuận… Sự quan tâm chia sẻ, giúp đỡ chia sẽ của cả vợ và chồng giúp cho sự phát triển của gia đình được ổn định và bền vững Phụ nữ chiếm tỷ lệ cao trong các cộng đồng nghèo phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên để kiếm sống, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, nơi họ gánh vác trách nhiệm chính về việc cung cấp nước cho hộ gia đình, năng lượng để đun nấu và sưởi ấm Ở khu vực Cận Đông, phụ nữ đóng góp tới 50% lực lượng lao động nông nghiệp Họ chịu trách nhiệm chính cho các công việc tốn nhiều thời gian và công sức hơn (được thực hiện thủ công hoặc sử dụng các công cụ đơn giản)
Ở khu vực Mỹ Latinh và Caribe, dân số nông thôn đang giảm dần trong những thập kỷ gần đây Phụ nữ chủ yếu làm nghề nông tự cung tự cấp, đặc biệt là làm vườn, gia cầm và chăn nuôi gia súc nhỏ để tiêu dùng trong gia đình Trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như hạn hán và lũ lụt, phụ nữ có xu
Trang 3hướng làm việc nhiều hơn để đảm bảo sinh kế trong gia đình Điều này sẽ khiến phụ nữ có ít thời gian tiếp cận việc giáo dục đào tạo, phát triển kỹ năng hoặc kiếm thu nhập Ở châu Phi, tỷ lệ mù chữ của phụ nữ là hơn 55% vào năm 2000, so với 41% ở nam giới
Nhằm đấu tranh cho quyền lợi, sự bình đẳng mà mọi tầng lớp xã hội luôn hướng tới, bình đẳng giới trở thành mục tiêu của nhiều quốc gia Trong
đó, không thể thiếu Việt Nam Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới, xem đó là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong tiến trình phát triển Cùng với sự nổ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, đến nay nhiều thành tựu về bình đẳng giới đã đạt được khẳng định Đặc biệt với sự ra đời của Luật bình đẳng giới
2 Thực trạng của bình đẳng giới
2.1 Thực trạng trên thế giới hiện nay
Số liệu từ Liên hợp quốc cho thấy, có tới 70% trong số 1,3 tỷ người sống trong cảnh nghèo đói trên thế giới là phụ nữ Tại khu vực thành thị, 40% số
hộ nghèo nhất do phụ nữ làm chủ hộ Trong khi đó, dù là nhân lực chính trong sản xuất lương thực trên thế giới – ở mức từ 50-80%, nhưng phụ nữ lại chỉ sở hữu chưa đến 10% đất đai Bên cạnh đó, 80% trong số những người phải di
cư do các thảm họa và thay đổi liên quan đến khí hậu trên thế giới là phụ nữ
và trẻ em gái
Mới đây của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, khoảng 2,4 tỷ phụ nữ trong độ tuổi lao động trên toàn cầu không có cơ hội kinh tế bình đẳng Chỉ có 118/194 nền kinh tế thế giới đảm bão 14 tuần nghỉ phép có lương cho các bà
mẹ 178 nước vẫn duy trì các rào cản pháp lý ngăn cản sự tham gia đầy đủ của phụ nữ đối với các hoạt động kinh tế Trong khi đó, khoảng cách thu nhập trọn đời dự kiến giữa nam giới và nữ giới trên toàn cầu lên tới 172.000 tỷ
Trang 4USD, gấp 2 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hằng năm của cả thế giới Phụ
nữ chiếm tỷ lệ cao trong các cộng đồng nghèo phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên để kiếm sống, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, nơi họ gánh vác trách nhiệm chính về việc cung cấp nước cho hộ gia đình, năng lượng để đun nấu và sưởi ấm
Ở khu vực Cận Đông, phụ nữ đóng góp tới 50% lực lượng lao động nông nghiệp Họ chịu trách nhiệm chính cho các công việc tốn nhiều thời gian và công sức hơn (được thực hiện thủ công hoặc sử dụng các công cụ đơn giản)
Ở khu vực Mỹ Latinh và Caribe, dân số nông thôn đang giảm dần trong những thập kỷ gần đây Phụ nữ chủ yếu làm nghề nông tự cung tự cấp, đặc biệt là làm vườn, gia cầm và chăn nuôi gia súc nhỏ để tiêu dùng trong gia đình.Trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như hạn hán và lũ lụt, phụ nữ có xu hướng làm việc nhiều hơn để đảm bảo sinh kế trong gia đình Điều này sẽ khiến phụ nữ có ít thời gian tiếp cận việc giáo dục đào tạo, phát triển kỹ năng hoặc kiếm thu nhập Ở châu Phi, tỷ lệ mù chữ của phụ nữ là hơn 55% vào năm 2000, so với 41% ở nam giới
Những con số trên phần nào cho thấy sự chênh lệch và bất bình đẳng mà phụ nữ đang phải đối mặt trong xã hội ngày nay
2.2 Thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề bình đẳng giới vẫn là một vấn đề đáng quan ngại Thực tế cho thấy, cả nam giới và nữ giới đều chịu những tác động từ bất bình đẳng giới, nhưng phụ nữ và trẻ em gái vẫn là nhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơn Mặc dù các chính sách đã được triển khai, và cũng đã đem lại những kết quả nhất định khi phụ nữ ngày càng có tiếng nói trong xã hội và được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội
Trang 52.3 Mặt tích cực của bình đẳng giới
Về chính trị
Trong khu vực châu Á- Thái Bình dương, Việt Nam là một trong số các nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội chiếm tỉ lệ trên 25% Tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội nhiệm kỳ 2016 – 2021 đạt 26,72%, tăng hơn nhiệm kỳ trước 2,62%; Lần đầu tiên trong lịch sử Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội khóa XIV là nữ Tính đến hết tháng 8/2017, có 12/30 bộ, ngành có lãnh đạo chủ chốt là nữ Nhiệm kỳ 1999-2004, tỷ lệ đại biểu nữ tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 21,57% lên 26,54% Nhiệm kỳ 2016 – 2021, tỷ lệ đại biểu nữ tham gia Hội đồng nhân dân cấp huyện đạt 27,85%, cấp xã 26,59% Đặc biệt, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam nằm trong nhóm cao nhất trong 3 nhóm trên toàn cầu
Về kinh tế
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 (Tổng điều tra) của Tổng cục Thống kê cho thấy, nữ giới chiếm đến 47,3% lực lượng lao động chính của cả nước Tính đến tháng 10/2019, có khoảng trên 285,6 nghìn doanh nghiệp do nữ doanh nhân đứng đầu, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp
cả nước
Về xã hội
Tỷ lệ nữ giới biết chữ trong độ tuổi từ 15-60 đạt 97,33%, tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 54,25%, tỷ lệ tiến sỹ đạt 30,8% Nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội là nữ đã thành công trong sự nghiệp, đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển đất nước
Trang 62.4 Mặt tiêu cực của bình đẳng giới
Tuy nhiên, ở đâu đó bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại và kìm hãm sự phát triển tốt nhất của xã hội.Trên thực tế, phụ nữ và các bé gái ở Việt Nam vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới
Thứ nhất là, những định kiến giới về “đàn ông nông nổi giếng khơi; đàn
bà sâu sắc như cơi đựng trầu” hay “đàn bà thì biết gì” đã đi sâu vào cuộc sống, thói quen, phong tục tập quán từ hàng nghìn năm khiến nhiều người không tin tưởng vào khả năng của phụ nữ Trong các cuộc bầu cử, người ta thường chú ý đến các ứng cử viên là nam giới mà ít chú ý đến các ứng cử viên
là nữ giới Nhiều nơi phải đặt ra cơ cấu để đưa nữ giới vào diện bầu cử Đặc biệt, trong các cuộc bầu cử ở cấp xã hiện nay, tư duy dòng họ đã khiến người dân quan tâm tới việc bỏ phiếu cho dòng họ mình mà quên cả việc bầu cho nữ giới, vì vậy số lượng ứng cử viên là nữ trúng cử quá thấp và thường được đặt trong vòng “ưu tiên”
Thứ hai là, sự phân công lao động theo giới còn rất bất công trong gia đình và xã hội Quan niệm coi việc nhà là đương nhiên chỉ dành cho phụ nữ vẫn còn phổ biến trong xã hội Sau giờ làm việc, ở các quán bia, quán ăn thường tràn ngập nam giới Họ đi giải trí sau một ngày lao động vất vả, hoặc đôi khi trao đổi công việc ngay tại bàn bia Ngược lại, sau giờ lao động, người phụ nữ tất tưởi đi đón con và về nhà làm các công việc gia đình như nấu cơm, dọn dẹp Đối với họ, tan giờ làm việc ở công sở, nhà máy chỉ là sự thay đổi hình thức lao động từ việc sản xuất sang việc gia đình Do đó, sức khỏe của phụ nữ bị vắt kiệt, thời gian bị bào mòn Họ hầu như không có thời gian giải trí, đọc sách hay sinh hoạt văn hóa, không được tái sản xuất sức lao động cho ngày hôm sau Ngày qua ngày, trí tuệ của phụ nữ dần dần trì trệ và bận rộn vì các công việc nội trợ khiến họ không đủ năng lực như nam giới để vươn lên trong công việc Điều này đã kéo lùi vị thế của phụ nữ trong suy nghĩ của lãnh
Trang 7đạo và đồng nghiệp Các cuộc điều tra xã hội học ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam từ những năm 1990 đến nay đã khẳng định rằng: phụ nữ Việt Nam làm việc khoảng 14-16 tiếng/ ngày, trong khi nam giới là 8-9 tiếng/ngày Sự phân công lao động như vậy cũng đồng nghĩa với việc phụ nữ phải làm các công việc không được trả công (sinh đẻ, nuôi con, việc nhà) quá nhiều và điều này
đã đưa vai trò của họ lên cao nhưng kéo lùi vị thế của họ xuống thấp Trong hoàn cảnh như vậy, phụ nữ phải có nghị lực rất lớn mới có thể đạt được vị trí như nam giới trong công việc và số này rất hiếm hoi Thậm chí, xã hội còn rất khắt khe khi thừa nhận những cố gắng của họ Xã hội đã gán cho phụ nữ rất nhiều chức năng: người vợ, người mẹ, người con dâu hoàn hảo, người tiếp phẩm, người cấp dưỡng, thầy thuốc gia đình, người sản xuất giỏi bằng danh hiệu “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, trong khi đàn ông chỉ cần “giỏi việc nước” là đủ Với thân thể yếu mềm, sức lực có hạn của phụ nữ thì điều này thật không tưởng và xã hội cũng không thể đòi hỏi trí tuệ của phụ nữ phải đạt ngang tầm nam giới
3 Nguyên nhân gây nên vấn đề bất bình đẳng giới
Nhận thức của xã hội về giới và bình đẳng giới còn hạn chế Nhiều cán
bộ lãnh đạo, chính quyền chưa có sự quan tâm đúng mức tới vấn đề giới, dẫn đến việc chưa thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, Nhà nước về giới
và bình đẳng giới, chưa quan tâm tới quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ, chưa quan tâm giao việc cho phụ nữ, thiếu công bằng giới
Với tính gia trưởng, nam giới tự cho mình có quyền “dạy vợ”, nam giới
có quyền đòi hỏi vợ con phục vụ, thực hiện những yêu cầu của mình Người phụ nữ với vị thế lệ thuộc, phải phục tùng, làm theo Nếu trái ý hoặc chậm trễ
họ dễ bị người chồng đối xử thô bạo, xúc phạm nhân phẩm
Trong gia đình
Trang 8Trong gia đình truyền thống, ông bà, cha mẹ truyền dạy cho cháu con những nguyên mẫu về các quan niệm và hành vi mong đợi được cho là thích hợp đối với mỗi giới và các kỳ vọng của xã hội đối với nam giới và nữ giới Chẳng hạn, quan niệm chung về đặc điểm tính cách của nữ giới là dịu dàng, nam giới là mạnh mẽ, quyết đoán.Sự phân biệt đối xử giữa nam giới và phụ
nữ, tư tưởng trọng nam khinh nữ có thể xem như yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Do vậy, phụ nữ được quan niệm là gắn liền với vai trò của người mẹ, người vợ, người nội trợ, là người phụ thuộc không quan tâm đến việc họ có thu nhập cao hay thấp; nam giới trở thành trụ cột về kinh tế, là tấm gương đạo đức, là chỗ dựa về tinh thần của phụ nữ và trẻ em, là người chủ gia đình, đại diện cho gia đình trong các quan hệ xã hội và cộng đồng
Trong xã hội
Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội là sự đa dạng và khác nhau giữa các xã hội và nền văn hoá, gắn liền với những đặc điểm của giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ…Tuy nhiên, theo các nhà Xã hội học, dù cho những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội có đa dạng và khác nhau thì người ta vẫn có thể quy chúng về 3 nhóm cơ sở chủ yếu:
Những cơ hội trong cuộc sống: là những thuận lợi vật chất có thể cải thiện chất lượng cuộc sống như của cải, tài sản, thu nhập, công việc, lợi ích chăm sóc sức khoẻ hay đảm bảo an ninh xã hội Trong xã hội, một nhóm người có thể có những cơ hội, trong khi các nhóm khác lại không, mặc dù các thành viên trong nhóm có nhận thức được điều đó hay không Đây là cơ sở khách quan của bất bình đẳng
Do sự khác nhau về địa vị xã hội: bất bình đẳng về địa vị xã hội do thành viên của các nhóm xã hội tạo nên và thừa nhận chúng Nó có thể
là bất cứ cái gì mà một nhóm xã hội cho là ưu việt và được các nhóm
Trang 9xã hội khác thừa nhận Tuy nhiên, địa vị xã hội chỉ có thể được giữ vững bởi những nhóm nắm giữ địa vị đó và các nhóm xã hội khác tự giác thừa nhận sự ưu việt đó
Do sự khác nhau về ảnh hưởng chính trị: Bất bình đẳng do ảnh hưởng chính trị là khả năng của một nhóm xã hội thống trị những nhóm khác hay có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc ra quyết định và thu được lợi từ các quyết định đó
Bất bình đẳng trong ảnh hưởng chính trị có thể được nhìn nhận như là
có được từ những ưu thế về vật chất hoặc địa vị xã hội cao Trên thực
tế, bản thân chức vụ chính trị có thể tạo ra cơ sở để đạt được địa vị và những cơ hội trong cuộc sống, đặc biệt đối với các cá nhân có chức vụ chính trị cao
4 Hệ quả của bất bình đẳng giới
Về kinh tế
Chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ cùng một vị trí công việc vẫn tồn tại, cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao vẫn thấp hơn so với nam giới, lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực
Ví dụ: mức lương bình quân thực tế theo giờ công lao động của phụ nữ chỉ bằng khoảng 80% so với nam giới
Số giờ công lao động hưởng lương của nam giới và phụ nữ là tương đương nhau Tuy nhiên thời gian phụ nữ dành cho việc nhà lại gấp đôi nam giới, đây là những công việc không được thù lao Do đó, họ không có thời gian để tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí, văn hoá, xã hội và tiếp tục nâng cao trình độ học vấn
Trang 10Tỷ lệ nữ giới làm công tác quản lý, lãnh đạo tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung, so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng
Trong gia đình
Phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu; vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình Ngoài ra, phụ nữ còn gặp phải những vấn đề khác như bạo lực gia đình, nạn nhân của buôn bán người, bóc lột lao động, xâm hại tình dục Mỗi phụ nữ Việt Nam sử dụng khoảng 5 giờ/ngày để làm việc nhà, chăm sóc gia đình, cao hơn nam giới từ 2 đến 2,5 giờ/ngày Trẻ em gái dành thời gian cho việc học ít hơn trẻ em trai khoảng 4-6 giờ/tuần
Ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, ngoài việc giảm số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình được trả công của phụ nữ, các chỉ tiêu đặt ra yêu cầu đến năm 2025, có 80% số người bị bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện, được tiếp cận ít nhất một trong các dịch vụ hỗ trợ cơ bản và 50% người gây bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ
sở giới được phát hiện ở mức chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự được tư vấn, tham vấn Con số này phấn đấu đến năm 2030 lần lượt là 90% và 70%
Về vị thế xã hội, sở hữu tài sản
Nam giới chiếm ưu thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản giá trị cao Hầu hết các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mang tên chủ hộ là nam giới Tình trạng này có thể khiến phụ nữ bị mất quyền sở hữu trong trường hợp ly hôn hay hưởng thừa kế Nam giới thường ra quyết định về đầu
tư kinh doanh của hộ gia đình và việc sử dụng thu nhập Hạn chế trong sở hữu tài sản làm giảm khả năng tiếp cận của phụ nữ tới các cơ hội tín dụng và đầu tư