Bài viết này, trên cơ sở phân tích tính năng động của dòng di dân nông thôn – đô thị, các quá trình đô thị hóa, sự đa dạng văn hóa và những khác biệt trong không gian sinh tồn của cư dân
Trang 11 Bài viết đã in trong: Khoa Lịch sử: Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2006-2011), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội 2011, tr 163-192.
(Construction and Deconstruction of Hanoi’s Cultural Identity)1
“người Tràng An” hay “người Hà Nội” thường được sử dụng như một khái niệm đương nhiên để chỉ lối sống thanh lịch một nét riêng nổi bật của người dân thủ đô, một lối sống đã được định hình trong lịch sử, là sự kết tinh giữa tầng lớp nho sỹ và thương nhân ở đất “kẻ chợ” để tạo nên một loại hình “văn hóa kinh kỳ”
Bài viết này, trên cơ sở phân tích tính năng động của dòng di dân nông thôn – đô thị, các quá trình
đô thị hóa, sự đa dạng văn hóa và những khác biệt trong không gian sinh tồn của cư dân Hà Nội,
đã đi đến nhận xét rằng không có một bản sắc Hà Nội với tư cách là một thực thể văn hóa xác định, bền vững và bất biến Tính chất “tứ chiếng” và dòng chảy liên tục của các lớp cư dân khác nhau, nơi hội tụ của tinh hoa và bình dân, nơi phô bầy sự tương phản giữa giàu sang và khốn cùng là những đặc điểm dễ nhận thấy trong suốt trường kỳ lịch sử của thành phố thủ đô, nhưng cũng là đặc trưng phổ biến có thể quan sát được ở nhiều đô thị “kinh kỳ” trên thế giới Khái niệm bản sắc văn hóa của một thành phố hay một quốc gia-dân tộc, thực ra chỉ là một cấu trúc có tính
nhân tạo (artificial construction), tùy thuộc vào thiên kiến chủ quan của nhà nghiên cứu và tác
động của bối cảnh chính trị xã hội cụ thể Nói cách khác, bản sắc văn hóa không phải là một thực
th ể tồn tại khách quan mà nó là kết quả của tư duy, một khái niệm được tạo nên thông qua nhận
th ức chủ quan của mỗi cá nhân hay cộng đồng.
Trang 2
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội thảo về bản sắc văn hoá Hà Nội trong văn học- nghệ thuật thế kỷ XX http://www.cpv.org.vn/cpv , ngày 24/09/2010.
3 “Cultural diffusionism” hay “theory of centre and periphery” là một lý thuyết được biết đến từ lâu trong nhân loại học văn hóa phương Tây Hầu hết các nghiên cứu về văn hóa Thăng Long – Hà Nội của các nhà nghiên cứu Việt Nam, dù có hay không đả động gì đến luận thuyết này thì vẫn chủ yếu xoay quanh hai khái niệm “hội tụ” và “lan tỏa” văn hóa, lấy đó làm điểm xuất phát cho các phân tích khoa học Xin đọc thêm: Ngô Đức Thịnh (2007), “Lý thuyết “trung tâm-ngoại vi” trong nghiên cứu không gian văn hóa”, Tạp chí
V ăn hóa Dân gian; và Ngô Đức Thịnh (2006), “Bốn luận điểm phương pháp luận trong nghiên cứu Thăng
Long – Hà Nội” Trong “Văn hóa, văn hóa tộc người, văn hóa Việt Nam”. Hà Nội, Nxb Khoa học Xã hội.
4 Hà Nội đã tiến hành một dự án đồ sộ có tên “Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến” nhằm thu thập toàn
bộ tư liệu liên quan đến thành phố Ngoài hàng ngàn sách/báo đã xuất bản, tủ sách dự kiến sẽ trình làng 100 đầu sách được biên soạn trên cơ sở nguồn tài liệu mới thu thập được http://vietbao.vn , ngày 25/8/2010.
5 Báo Hà Nội Mới (16/09/2010) cho biết trong Dự thảo Luật Thủ đô, 20 cơ chế chính sách đặc thù riêng cho Hà Nội đã được đề xuất, có nguy cơ biến thành phố này thành một “vương quốc” riêng.
1 Đặt vấn đề
Phần lớn các nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Hà Nội cho đến nay thường bị ám ảnh bởi
ý nghĩ rằng thành phố này có một bản sắc văn hóa riêng với những “đặc trưng khác vớicác vùng miền khác”[2] Dẫu thừa nhận rằng cái bản sắc riêng ấy rất khó nhận diện vàthấu hiểu, người ta vẫn mặc nhiên cho rằng bản sắc văn hóa Hà Nội là một thực thể hiểnnhiên không có gì phải bàn cãi, và nhiệm vụ của nhà nghiên cứu chỉ là đi tìm cho ra cái
bản sắc ấy Nỗi ám ảnh của giả thuyết về một bản sắc văn hóa riêng của Hà Nội đã làmnảy sinh chủ nghĩa hoài cổ và biến các công trình khoa học thành những bản tụng ca, gáncho thành phố này những giá trị vượt thời gian và không gian, tạo ra một lớp sương mờ
ảo như huyền thoại phủ lên trên thành phố ngàn năm tuổi nhưng vẫn đang không ngừngđổi thay này
Nhìn lại các công trình nghiên cứu đã có về Hà Nội, chúng ta có thể nhận thấy dù rấtnhiều về số lượng nhưng chúng đều dựa trên các cách tiếp cận theo hướng luận giải duytình [moral interpretation], nặng về khoa trương hoặc phảng phất cái hơi hướng củathuyết văn hóa trung tâm và ngoại vi mà các nhà nghiên cứu phương Tây đã dầy côngphát triển [3] Tuy nhìn nhận Hà Nội như một trung tâm của hội tụ và lan tỏa văn hóanhưng rất hiếm khi các nhà nghiên cứu chỉ ra một cách rõ ràng họ đang nói về ThăngLong – Hà Nội với tư cách là một đô thị, một tỉnh (gồm cả khu vực nông thôn và đô thị),hay một vùng trong khi các thuật ngữ “người Hà Nội”, bản sắc Hà Nội”, “lối sống HàNội”, “ngôn ngữ Hà Nội”, v.v thường được sử dụng như một khái niệm hiển nhiên để từ
đó, hàng loạt các giá trị được dán vào Sự mơ hồ của khái niệm và sự thiếu vắng của một
cơ cấu lý luận khi tiếp cận văn hóa và lối sống đô thị có lẽ là một trong những nguyênnhân chính của tình trạng không sản sinh ra được những nhận thức mới về bản chất vănhóa và những ngụ ý thực tiễn cho bảo tồn và phát triển văn hóa của Hà Nội bất chấp số
lượng nghiên cứu về nó đang ngày càng trở nên đồ sộ[4] Gạt bỏ những khác biệt và đồng
nhất hóa tính đa dạng để tìm một mẫu số chung có tên gọi bản sắc văn hóa Hà Nội làmcho việc nhận diện các chiều kích văn hóa của thành phố - thủ đô trở nên khiên cưỡng vàđầy cảm tính Thêm vào đấy, việc lý tưởng hóa các giá trị văn hóa của thành phố lại đang
tạo ra sức ép vô hình lên các nhà quản lý mà hậu quả của nó là làm nảy sinh những đòihỏi về một cơ chế chính sách đặc thù như kiểu “Luật Thủ đô” mới được đưa ra thảo luận
gần đây [5]
Trang 36 Hồ Phương Lan (Bt.) Thăng Long Hà Nội Ngàn Năm Văn Hiến; Nxb Lao Động, Hà Nội 2009, tr 47, cũng xem thêm các trang 66-68.
7 Câu nói được truyền tụng phổ biến trong dân gian “thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến” thường được viện dẫn để chứng minh cho mức độ sầm uất của một đô thị thuộc vào hạng “Thượng Kinh” như Thăng Long,
cơ sở hình thành lối sống hào hoa thanh lịch
8 Hoàng Hưng, Lối sống người Hà Nội Đăng trên http://nguyentrongtao.org , cập nhật ngày 25/09/2010.
Trong bài viết nhỏ này tôi không có hy vọng cung cấp những tư liệu mới liên quan đến
lịch sử văn hóa xã hội của thành phố Thay vào đó, mong muốn của tôi là trên cơ sở
những tư liệu đã có, đề xuất một cách tiếp cận khác để nhận diện chân thực hơn bản sắcvăn hóa đô thị và góp phần trả lời câu hỏi liệu có hay không một bản sắc Hà Nội với tưcách là một thực thể văn hóa xác định, bền vững và bất biến mà các nhà nghiên cứu đãgán cho nó
Nếu chúng ta quan niệm văn hóa đô thị như là một cấu trúc (construction) thì trong cấu
trúc ấy có những yếu tố cấu thành, tạm gọi là các cấu trúc phụ (sub-constructions or
component parts) tạo nên hình hài và sắc thái của cấu trúc tổng thể Trong điều kiện củamột thành phố, chúng ta có thể quan sát các nhóm cư dân và lối sống của họ như là
những yếu tố cấu thành diện mạo văn hóa của thành phố mà ta hình dung như một cấutrúc tổng thể Vận dụng cách tiếp cận này vào trường hợp Hà Nội, tôi sẽ cố gắng mổ xẻlịch sử cư trú, không gian sinh tồn và đặc điểm xã hội của các cấu trúc phụ mà ở đây làcác nhóm cư dân chủ thể của văn hóa, để xem các bộ phận này có vai trò thế nào trong
việc tạo nên một ám ảnh về bản sắc văn hóa Hà Nội Tôi sẽ bắt đầu bằng việc khái niệmhóa không gian văn hóa Hà Nội, sau đó phân tích những năng động dân số học trong quátrình đô thị hóa, tính đa dạng về sắc tộc và chủng tộc của các bộ phận dân cư, những khác
biệt trong không gian sinh tồn và lối sống cũng như mối liên hệ của chúng mà tôi cho
rằng nó sẽ là những đầu mối giúp hiểu được bản chất của những giá trị được khái quátthành “bản sắc văn hóa” Hà Nội
2 N ông dân và thị dân
Thanh lịch, hào hoa và tinh tế thường được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh như nhữngđặc tính tiêu biểu cho lối sống của người Hà Nội, thậm chí nó còn được đề cao như mộtgiá trị “có tính mẫu mực, hay giá trị chuẩn của dân tộc, của đất nước”[6] Cơ sở của lập
luận như vậy có lẽ chủ yếu được khởi nguồn từ cảm hứng của hàng ngàn tác phẩm về HàNội dưới dạng các bài tản văn, thơ ca và hội họa hơn là từ những chứng cứ được thu thập
và phân tích có hệ thống Dù chịu ảnh hưởng của cảm xúc hay lý trí, các nhà nghiên cứunói chung có khuynh hướng gắn lối sống thanh lịch ấy với tầng lớp thị dân ở một trungtâm đô thị phát triển vào bậc nhất của đất nước [7], cho rằng “lối sống ấy kết tinh văn hóa
“Kinh kỳ” của giới nho sỹ và thương nhân “kẻ chợ” tập trung tại 36 phố phường, hòa với
những yếu tố văn minh Pháp được tiếp thu bởi trí thức Tây học và viên chức nhà nước
bảo hộ”[8]
Quan điểm về một lối sống “thanh lịch” như vậy được nói đến trong hầu hết các nghiên
cứu về văn hóa Hà Nội nhưng thực ra chưa bao giờ được phân tích một cách khoa học.Tôi cho rằng ít nhất có ba yếu tố để nghi ngờ cái biểu tượng văn hóa này:
Trang 49 Nguyễn Thừa Hỷ, “Thăng Long-Hà Nội, hôm qua và hôm nay’ http://www.diendan.nguoihanoi.net.
10 Những câu nói trong dân gian thường hay được viện dẫn như “thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”,
“giàu chốn quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ”, “ăn Bắc mặc Kinh”, “chẳng khôn cũng thể là người Thượng
Kinh” v.v., thực ra chỉ là một cách phản ánh những ước vọng của người dân quê lam lũ muốn đổi đời hơn là
để tụng ca một lối sống thanh lịch
11 Trần Văn Bính, “Nhận diện con người Hà Nội qua lăng kính văn hóa Thăng Long - Hà Nội, Tạp chí
Thông tin Công tác Tư tưởng, Lý luận; số ra tháng 10/2009.
(1) Các nghiên cứu đều xem đô thị như là “tiêu chí của sự phát triển, tiến bộ và vănminh” nhưng cho đến tận gần đây Hà Nội vẫn chưa trở thành một đô thị hoàn chỉnh, vẫn
chỉ ở “phía bên kia của làng xã” [9] Trong không gian của “thành phố” luôn có một phầnthuộc khu vực nông thôn và phần này lúc nào cũng ở vị thế lấn át so với phần thành thị.Điều này có nghĩa là không gian địa – văn hóa của Hà Nội luôn hàm chứa hai nhóm vănhóa và lối sống khác nhau song hành tồn tại Đó là văn hóa của thị dân và văn hóa nôngdân Chỉ lấy lối sống của một nhóm thị dân để khái quát thành lối sống chung của “người
Hà Nội” là một cách tiếp cận khiên cưỡng và không có cơ sở khoa học;
(2) Trong lịch sử và thậm chí là mới gần đây thôi, số lượng thị dân sống trong các khuphố luôn chiếm một tỷ lệ nhỏ hơn nhiều so với những người nông dân sống trong cáclàng xã truyền thống của Hà Nội Bộ phận nhỏ thị dân này cũng không đồng nhất, bên
cạnh tầng lớp quý tộc và quan chức thuộc tầng lớp cai trị là những trí thức, thương nhân,công chức, thợ thủ công và người buôn bán nhỏ Phần còn lại là những người nhập cư,làm các công việc tạp dịch và lao động chân tay Họ có mối liên hệ chặt chẽ với khu vựcnông thôn ở nhiều làng quê thuộc các vùng miền khác nhau, và có xu hướng lưu giữ lối
sống nông dân của mình ngay trong lòng thành phố Vậy là ngay trong bộ phận thị dânnhỏ bé ấy vẫn có sự hiện diện của văn hóa và lối sống nông dân đối lập với văn hóa thịdân;
3) Nếu cho rằng cái chất hào hoa thanh lịch được hình thành từ nhóm “tinh hoa” là thịdân và quý tộc thì nhóm này cũng chỉ có thể đại diện cho lối sống của tầng lớp trên và
giới trung lưu mà thôi Không có cơ sở để lấy văn hóa và lối sống của nhóm “tinh hoa”này làm đại diện cho văn hóa của một thành phố Lối sống của họ có thể là tiêu chuẩn để
vươn tới, là giấc mơ của đông đảo dân chúng ở dưới đáy xã hội nhưng không phải là lối
sống của số đông [10] Lập luận cho rằng có một sự giao thoa giữa “văn hóa dân gian” củaquần chúng nhân dân lao động bị áp bức và “văn hóa bác học” của giai cấp thống trị [11]
để khái quát một đặc tính chung cho bản sắc Hà Nội chỉ là một biện hộ yếu chưa được
chứng minh cả về lý luận và thực tế
Thực ra, các tài liệu đã có về Thăng Long xưa, Hà Nội nay có thể cho phép hình dungđược quy mô của khu vực đô thị, số lượng thị dân, và tính chất xen cài nông thôn – đô thịtrong cấu trúc dân cư của thành phố để từ đó xem xét vai trò và ảnh hưởng của văn hóa
thị dân được cho là bộ phận cốt lõi tạo nên bản sắc “thanh lịch” của người Hà Nội Tuynhiên các nhà nghiên cứu lại dường như không mấy quan tâm xem xét những khía cạnhnày
Trong một nghiên cứu công phu sử dụng phương pháp GIS/RS, các nhà nghiên cứu cho
biết thành Thăng Long gắn với các phố thị để tạo nên một đô thành cho đến trước thời
thực dân chỉ là một khu vực có diện tích rộng không quá 1,2 km2 Kiểu kết hợp giữa
Trang 512 Ho Dinh Duan and Shibabaya Mamorou, “Studies on Hanoi Urban Transition in the Late 20 th Century based on GIS/RS”; Southeast Asian Studies, Vol 46, No.4, March 2009, p 532-546.
13 Trần Quốc Vượng, “Đô thị cổ Việt Nam” In trong cuốn “Trong Cõi”, Nxb Tram Hoa, California, USA,
1993
14 “Công bố bản đồ Hà Nội 1831”; Tuoi Tre, ngày 25/9/2010 Trong chương viết về “Đông Kinh Kẻ Chợ thời Mạc và Lê Mạt”, UBND Hà Nội trong Hà Nội theo năm tháng (Website thành phố, 10/2010) trích nguồn từ Nhà truyền giáo người Pháp Alexandre de Rhodes nói rằng dân số Thăng Long khi đó ước tính vào khoảng 1 triệu người, còn William Dampier, nhà phiêu lưu người Anh lại cho biết Hà Nội khi ấy có chừng 2 vạn nóc nhà Những con số này không thực sự đáng tin Căn cứ vào dấu tích còn lại của khu đô thị buôn bán sầm uất của Hà Nội trước thời thực dân thì quy mô một thành phố có diện tích chừng 1,2 km2 làm sao chứa được số dân đông như vậy Phỏng đoán này có lẽ nói tới dân số của cả một vùng Thăng Long
Hà Nội rộng lớn hơn là quy mô của một thành thị.
15 Thành phố Hà Nội được Tổng thống Pháp Sadi Carnot chính thức ký sắc lệnh thành lập ngày 19/7/1888
và sau đó được sự công nhận của Triều đình Huế http://hanoi.org.vn
16 Baron & La Salle Dictionnaire des Communes administratif et militaire, France métropolitaine et France d'outre-mer Paris: Charles-Lavauzelle & Cie, 1949.
thành (citadel), tức trung tâm hành chính - quốc phòng và thị- nơi buôn bán của ThăngLong là một dạng phổ biến thường thấy ở các đô thị phương Đông [12] Nhà nghiên cứu
nổi tiếng về Hà Nội Trần Quốc Vượng đã chỉ ra cấu trúc điển hình của thành Thăng Longgồm ba bộ phận: (1) Khu “thành thị quân vương”, tức khu vực hành chính, gồm thànhquách, đền miếu, và nơi thưởng ngoạn của triều đình Khu này chỉ chiếm một phần nhỏthuộc phần lõi của quận Ba Đình ngày nay; (2) Khu “thành thị dân cư” hay còn gọi là khu
phố thị mà cốt lõi là khu 36 phố phường còn lại đến hiện nay; (3) Khu vực thôn dã baogồm các làng ở phía Nam và Bắc của trung tâm hành chính [13] Kiến trúc kiểu phươngĐông như vậy cũng thể hiện rõ bản chất chuyên chế của tầng lớp cai trị vì nó không quantâm đến các công trình công cộng của thị dân Khu vực phố thị chủ yếu để cung cấp hànghóa cho nhu cầu của tầng lớp trên sinh sống trong khu hoàng thành hơn là nhu cầu pháttriển trên một nền tảng kinh tế phi nông nghiệp Đặt cái bộ phận đô thị và thị dân này vàotrong bối cảnh Hà Nội cho đến cuối thế kỷ 19, tức trước khi nó biến thành một thành phốkiểu châu Âu thì chúng ta mới thấy cái quy mô thành thị và thị dân này nhỏ bé biết chừngnào: Thành cũ Thăng Long chỉ là một bộ phận nhỏ của phủ Hòai Đức, lọt thỏm vào trong
cơ cấu của tỉnh Hà Nội thời Nguyễn một tỉnh được lập ra vào năm 1831 gồm 4 phủHoài Đức, Ứng Hòa, Thường Tín và Lý Nhân [14]
Không thể phủ nhận một thực tế là khu vực thành thị đã được mở mang rất nhiều dướithời thuộc Pháp Chính người Pháp đã mang đến cho Hà Nội một khuôn mặt khác bằngcách tạo ra một đô thị kiểu châu Âu[15] Khu lõi Ba Đình, nền cũ của Hoàng Thành hoang
phế, vẫn tiếp tục được lựa chọn để xây dựng thành khu hành chính của thành phố Khu 36phố phường vẫn được bảo tồn làm nơi buôn bán dân sinh Một khu vực hoàn toàn mới
gồm đường sá, cầu cống, công sở, các phố thương mại và dịch vụ, các công trình công
cộng như vườn hoa - công viên, nhà hát, và khu vực dành cho công chức, sỹ quan quânđội và các nhà tư bản đã được tạo ra Thành phố Hà Nội lúc này đã mở rộng gấp đôi với
63 phường nhưng cũng chỉ có diện tích xấp xỉ 3km2 so với diện tích vỏn vẹn 1.2 km2 ở
những thế kỷ trước Vào thuở hoàng kim của Hà Nội thời thực dân những năm 1940s, sốdân Hà Nội lúc cao nhất cũng chỉ có 132,145 người [16] Khi Việt Minh vào tiếp quản HàNội 1954, thành phố chỉ còn 37,000 người dân sống trong 34 khu phố thuộc 4 quận nộithành Lúc này, sau nhiều lần thay đổi địa giới, diện tích thành phố (bao gồm khu vực
Trang 617 UBND Thành phố Hà Nội,Khái quát về Hà Nội, mục “Nguồn gốc dân cư”; http://www.hanoi.gov.vn
18 Tổng cục Thống kê, Dân số và mật độ dân số năm 2009 phân theo địa phương” Tổng cục Thống kê Việt Nam, truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
19 ‘Vì sao hoàng thành bị chôn vùi’, Thanh Niên (27/9/2010).
20 Ho Dinh Duan & S Mamorou, 2009, “Studies on Hanoi , (đã dẫn).
21 Nguyễn Thừa Hỷ, ‘Thăng Long-Hà Nội ’ ( đã dẫn)
22 Trần Văn Giầu, Văn hóa Thăng Long thời đại Lý – Trần In trong: Hội Ngôn ngữ học “Hà Nội- Những
V ấn đề Ngôn ngữ Văn hóa’ Nxb Thời đại, Hà Nội, 2010 ; tr. 8-35.
nông thôn rộng lớn) đã mở rộng đến 152 km2 nhưng dân số lại giảm so với những năm
1940, có lẽ do ly tán nhiều trong chiến tranh [17]
So với thời thực dân, không gian Hà Nội thực ra chỉ mới được mở rộng thêm bằng biệnpháp hành chính trong vài thập kỷ qua, bắt đầu từ 1961 với việc nâng địa giới Hà Nội lên
584 km2 và dân số 91,000 người Năm 1978 Hà Nội lại mở rộng địa bàn bằng cách nâng
diện tích tự nhiên lên 2,136 km² Quá trình đô thị hóa cơ học bằng cách sát nhập các làngvào khu vực thành phố trong nhiều thập kỷ đã làm dân số Hà Nội tăng lên đến hơn haitriệu người vào năm 1999 Đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, Hà
Nội đã nâng dân số lên 6,4 triệu người, trong đó cư dân thành thị chỉ chiếm 41% và cưdân nông thôn chiếm đa số với 59% [18]
Một số nhà nghiên cứu đã từng đi tìm lời giải cho câu hỏi tại sao Thăng Long – Hà Nội
trải bao thế kỷ thăng trầm mà vẫn bé nhỏ với số thị dân khiêm nhường chừng ấy, tại saomột dân tộc vĩ đại với những chiến công hiển hách lẫy lừng mà lại không để lại cho hậu
thế những công trình kiến trúc xứng tầm? Hoàng Ngọc Kỷ cho rằng quá trình biển tiến và
việc lấy đất đắp đê đã tạo nên những cái hồ Hà Nội, và chúng là những nhân chứng sốnggiúp lý giải tại sao hoàng thành lại bị chôn vùi, hết lớp này đến lớp khác chồng lấp lênnhau [19] Ho Dinh Duan & Mamorou lại đưa ra kiến giải do vị thế bao bọc của sông hồ
và đầm nước, thành Thăng Long khó mà mở rộng ra được [20] Trong khi đó, sử giaNguyễn Thừa Hỷ cho biết thành phố bị lụi tàn vì nạn binh đao trong suốt thế kỷ 18 [21]
Trần Văn Giầu tìm kiếm câu trả lời ở triết lý văn hóa Thăng Long coi trọng tinh thần hơn
vật chất, rằng “những kiến trúc tinh thần mang tính chất vĩ đại, vĩnh hằng sáng rực hơn
bất kỳ đền đài nào khác”[22] Những điều được viện dẫn ở trên đều ít nhiều liên quan đến
sự thăng trầm và còi cọc về quy mô vật chất của khu vực đô thị Hà Nội trong lịch sử Tuynhiên, không gian của một thành phố và số lượng thị dân chủ yếu phụ thuộc vào điều
kiện phát triển của nền kinh tế bởi vì chỉ khi nền kinh tế hàng hóa đủ mạnh để nuôidưỡng khu vực không trực tiếp sản xuất thì mới tạo ra được một tầng lớp thị dân vàdoanh nhân đông đảo làm cho khu vực đô thị được mở mang Với nền kinh tế nôngnghiệp tự cấp là chủ đạo, và phần lớn người dân vẫn sống trong các làng quê, thì chúng ta
có thể hiểu được tại sao quy mô của một đô thị bậc nhất trời Nam lại chỉ khiêm nhườngđến thế
Bằng cách cung cấp các dẫn liệu trên, tôi không có ý cho rằng chỉ với một tầng lớp thịdân nhỏ bé thì không đủ sức “lan tỏa văn hóa” ra cả một “đại dương” nông dân Điều tôi
muốn nhấn mạnh ở đây là khi nói đến Hà Nội như một thực thể văn hóa có bản sắc riêng,chúng ta không được quên rằng có một Hà Nội nhà quê và một Hà Nội kẻ chợ Hai bộphận cư dân này tuy tồn tại trong một cái khung của cơ cấu hành chính chung nhưng có
văn hóa và lối sống khác nhau Trong suốt trường kỳ lịch sử hàng ngàn năm của mình, bộ
phận thị dân của Thăng Long-Hà Nội luôn nhỏ bé và yếu ớt, lại bị phân hóa thành cácnhóm khác nhau với quyền lợi, thân phận và lối sống không đồng nhất Sẽ là một thiếu
Trang 723 Lê Văn Lan, "Hà Nội đâu phải nơi tá túc để kiếm chác", trả lời phỏng vấn trang Tuần Việt Nam, ngày 30/9/2010.
24 Trả lời phỏng vấn Thể thao Văn hóa, in trong : ‘Nhà nghiên cứu Giang Quân với 30 đầu sách về Hà Nội’;
Th ể thao Văn hóa, ngày 24/08/2010.
25 Lê Phú Khải, ‘Như thế nào là người Hà Nội’, BBCVietnamese, 10/6/2010 Cũng xem Vương Trí Nhàn,
‘Người Hà Nội thứ thiệt không nói thế’ ; http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/2010/09/
26 Hoàng Hưng, ‘Lối sống người Hà nội”, 2010 (đã dẫn) Nguyễn Thừa Hỷ (đã dẫn) cũng cho rằng đô thị
Hà Nội đến thời thực dân, thành phố dần chuyển sang mô hình thời cận đại, đã làm xuất hiện ‘một giai tầng mới với lối sống lịch lãm, phóng khoáng của một « Hà Thành hoa lệ » đối lập với một « Hà thành lầm than »
27 Nguyễn Thừa Hỷ, trong ‘Thăng long Hà Nội ’ (đã dẫn) cũng cho rằng đến thời thực dân, Hà nội dần chuyển sang mô hình một thành phố thời cận đại, bắt đầu xuất hiện ‘một giai tầng mới với lối sống lịch lãm, phóng khoáng của một « Hà Thành hoa lệ », đối lập với một « Hà thành lầm than ».
sót khi phân tích bản sắc văn hóa Hà Nội mà lờ đi bộ phận văn hóa nông dân chiếm sốđông trong khi có thiên hướng đề cao quá đáng văn hóa của tầng lớp thị dân và quý tộc
nhỏ bé so với các tầng lớp xã hội khác Với cách nhìn như vậy, tôi tán đồng nhận xét đíchđáng của một nhà sử học khi ông cho rằng văn hóa nông dân mới là hằng số của lịch sử
văn hóa Việt Nam:
Chính đất nước này, dân tộc hình chữ S này là đại dương của 3 chữ Nông: Nông thôn, Nông dân và Nông nghiệp Ba chữ nông ấy là bản chất của dân tộc này, của văn minh văn hóa này GS Trần Quốc Vượng còn gọi 3 chữ Nông này là hằng số của lịch sử văn hóa Việt Nam Trên cái mênh mông như thế, trong lịch sử có thực nổi lên lác đác những hòn
cù lao, lác đác, hiếm ít và nổi lên cũng không được cao lắm, đó chính là những đô thị Trong số đó, hòn cù lao lớn nhất là Thăng Long- Hà Nội [ 23 ].
3. Chính cư và ngụ cư
Nhà nghiên cứu Giang Quân, người đã viết tới 30 đầu sách về Hà Nội cho biết “trước đây
có khoảng 9% người Hà Nội gốc, còn sau khi Hà Nội mở rộng thì có lẽ con số đó giảm
xuống chỉ còn 5% (tính theo 6,3 triệu dân) Vì thế mà tính hào hoa, thanh lịch của người
Hà Nội đang ngày một phôi pha”[ 24 ].
Thực ra, không có cơ sở khoa học nào khả dĩ có thể phân biệt được người Hà Nội gốc và
người Hà Nội nhập cư Câu hỏi đặt ra là một gia đình sống ở Hà Nội bao nhiêu lâu thìđược xem là người Hà Nội gốc? Ngoài thời gian định cư ở Hà Nội thì còn có tiêu chí nàokhác để xác định tính chất “gốc” của người Hà Nội? Chưa có nhà nghiên cứu nào có ýđịnh làm rõ câu hỏi này nhưng dường như đang có một cách hiểu ngấm ngầm rằng người
Hà Nội gốc là người có lối sống thanh lịch, đối lập với cách sống xô bồ và hỗn tạp củangười Hà Nội nhập cư [25] Vì vậy người ta mới la lên rằng cái chất hào hoa thanh lịch
của Hà Nội nay đang mất đi là do làn sóng di dân ào ạt vào thành phố Cách nói như vậy,theo tôi, chỉ là để thể hiện một ước vọng muốn phổ biến và phát triển những lối sống vàthế ứng xử có văn hóa của người dân thành phố hơn là một thuộc tính phổ quát có thật đã
từng tồn tại ở Hà Nội mà nay đã mất đi Về một phương diện nào đó, có thể đồng ý với
giả thiết của Hoàng Hưng [26] và Nguyễn Thừa Hỷ [27] rằng cái thuộc tính hào hoa thanhlịch mà ngày nay người ta xem là bản sắc chung của người Hà Nội thực ra chỉ trở nên
phổ biến và được nói đến nhiều dưới thời cận đại, trong những gia đình trí thức, quan lại
Trang 828 Hoàng Hành, ‘Tiếng Hà Nội- sự hội tụ của bốn phương, tinh hoa của một nền văn hóa In trong : Hội
Ngôn ngữ học: ‘Hà Nội Những Vấn đề Ngôn ngữ Văn hóa’ Nxb Thời Đại, Hà Nội 2010, tr 139-151.
và công chức Tây học, trên cơ sở tiếp nối truyền thống kẻ sỹ của những đạo đức nho học
trước đó Nói như vậy cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng cái nếp sống thanh lịch
ấy thực ra cũng không có tính chất “gốc” mà chủ yếu được hình thành và phát triển trên
cơ sở của những gia đình nhập cư, vì phần lớn những người làm quan, học hành đỗ đạt vàlàm công chức trong bộ máy công quyền ở Hà Nội đều được tuyển dụng từ nơi khác đến
người Hà Nội gốc không còn chỉ là cư dân của hai huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương nữa,
mà còn gồm cả những người từ bốn trấn quanh đó về định cư ở nội thị”[28] Điều này cónghĩa rằng tìm hiểu tiếng Hà Nội gốc tức là tìm hiểu cái ngôn ngữ đã được phát triển trên
cơ sở hòa trộn tiếng nói của cư dân hai huyện này với những người nhập cư đến từ cácvùng khác chứ không phải cái ngôn ngữ đã tồn tại từ trước khi có thành Thăng Long Nói
như vậy để thấy rằng cuộc tranh luận về thành phần gốc và mới của cư dân Hà Nội khôngchỉ phức tạp mà còn có nguy cơ đi vào ngõ cụt Hơn thế, nó còn có thể dẫn tới cái bẫy
của sự phân biệt đối xử giữa những người được xem là dân gốc với những người bị gáncho cái nhãn nhập cư Câu chuyện này cũng giống như sự phân biệt chính cư và ngụ cưtrong các làng truyền thống ở đồng bằng sông Hồng, nơi những người ngụ cư phải chịunhiều thiệt thòi, phải trải qua nhiều đời với thân phận và vị thế chính trị rất thấp để được
nhận cái danh là dân chính cư. Hà Nội đương nhiên không phải là một cái làng
Nhìn lại quá trình tụ cư và cấu trúc dân số của Hà Nội từ trong lịch sử cho đến hiện tại, ta
thấy tồn tại hai khu vực dân cư với độ tương phản rõ rệt trong các năng động dân số học.Khu vực nông thôn gồm các làng mạc thôn ấp thuộc các quận huyện ngoại thành về cơbản không có xáo trộn lớn về dân cư Lịch sử đời sống và ghi chép về lai lịch của cácdòng họ sống trong các làng mạc mà người ta còn lưu giữ được đến ngày nay cho thấy
mức độ tương đối ổn định về dân số trong một khoảng thời gian nhất định Ngược lại,khu vực đô thị bao gồm các khu hành chính, các phường thủ công và buôn bán có dân sốkhông đông, nhưng mức độ xáo trộn và thay đổi dân số lại diễn ra thường xuyên hơn.Bên cạnh tính năng động của một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa thì Hà Nội cũngthường xuyên là mục tiêu hủy diệt của các cuộc chiến tranh, loạn lạc và ly tán Thêm vào
đó, phần lớn thị dân và thợ thủ công làm việc trong các khu phố thường vẫn giữ mối liên
hệ chặt chẽ với làng quê gốc của họ Những khi triều đình có biến hay bị thất bát trongkinh doanh thì nơi họ lui về vẫn là các làng quê gốc gác của cha ông Trong khi đó, bộ
phận trí thức, công chức và quan lại thì được tiếp nhận đến hoặc chuyển đi theo yêu cầu
của nhà nước Như đã nói tới ở trên, vào lúc hoàng kim của đô thị Hà Nội thời cận đại hồiđầu những năm 1940, tổng số dân sống trong khu vực đô thị cũng chưa tới 14 vạn người.Tuy nhiên con số này có lẽ chưa bao gồm những người dân di cư sống trong thành phố
nhưng không có đăng ký chính thức Bộ phận này chắc chắn không nhỏ Họ chủ yếu là
những người buôn thúng bán bưng, giúp việc nhà, làm các công việc nặng nhọc như phu
xe hay khuân vác. Và nơi tá túc của họ thường ở những khu lao động tồi tàn vùng ven đô
Trang 929 Theo Masaya Shiraishi, trong công trình nghiên cứu “State, Village and Vagabonds: Vietnamese Rural Society and the Phan Ba Vanh Rebellion,” đăng trong Andrew Turton and Shigeharu Tanabe (eds.) “History
and Peasant Consciousness in Southeast Asia”; Osaka: National Museum of Ethnography, 1984, 345–400,
thì trong lịch sử Việt nam, có một nhóm cư dân mà ông gọi là “vagabonds” Về bản chất họ là những du
dân nhưng không được thừa nhận và quản lý bởi nhà nước hay làng xã Nhóm này có số lượng đông đảo và thường dễ được tập hợp, là nguy cơ gây bất ổn xã hội mà trường hợp khởi nghĩa Phan Bá Vành là một ví dụ điển hình.
30 UBND Thành phố Hà Nội 2010, phần “Nguồn gốc dân cư”, trong Khái quát về Hà Nội… (đã dẫn).
31 “Cần tính kỹ việc hạn chế nhập cư vào Hà Nội”; http://vnexpress.net/ Thứ Hai, 12/5/2010.
Cũng giống như nhiều đô thành trên thế giới, Thăng Long – Hà Nội luôn luôn là mộtđiểm đến hấp dẫn của nhiều luồng di cư Luồng thứ nhất bao gồm những thành phần tinhhoa của đất nước Họ là những người có tài năng, học vấn và vốn liếng, được tuyển dụng
hoặc tự tìm đến chốn kinh kỳ để phát triển và thi thố với đời Luồng thứ hai là những
người dân cùng khổ từ các vùng nông thôn, do lao dịch, thuế má, thất bát, dịch bệnh vàbóc lột, bị đẩy đến tình trạng bần cùng Họ đổ về Thăng Long tìm cơ hội thay đổi cuộcđời và tạo nên những khu cư trú tồi tàn của người lao động vùng ngoại ô Luồng di cư thứ
ba là sự hiện diện của những người nước ngoài đủ mọi thành phần sắc tộc và chúng tộc,
từ những thương nhân, nhà truyền giáo, nhà ngoại giao cho đến những người lao độngnghèo hèn Họ di chuyển vào các thành phố lớn để tìm kiếm cơ hội phát triển sự nghiệp
hoặc chỉ đơn giản là để tìm kế sinh nhai Bên cạnh luồng di cư đến thành phố, cũng có
luồng di cư ra khỏi thành phố dù là tự nguyện hay cưỡng bức Đặc biệt, các cuộc chiếntranh binh lửa, xung đột và cướp bóc đẫm máu thường là nguyên nhân làm cho số lượng
cư dân khu vực đô thị giảm đi nhanh chóng Chính sách của các nhà nước ở mỗi thời kỳ
cũng khuyến khích hoặc ngăn chặn các luồng di dân vào thành phố làm cho dân số khu
vực đô thị thay đổi thất thường Tuy nhiên, hiện tượng nổi bật của các năng động dân sốhọc khu vực đô thị chính là các dòng di cư
Mặc dù các luồng di cư vào Hà Nội trong lịch sử khá đa dạng và liên tục, nhưng phần lớnđiểm đến của những dòng chảy dân số này là khu vực đô thị Vùng nông thôn ngoại thànhđược kiểm soát bởi các cộng đồng làng xã truyền thống với những tập tục khắt khe liênquan đến người ngụ cư có thể được xem là một trong những rào cản hữu hiệu chặn đứngcác dòng người nhập cư vào làng xã Mặt khác, điều kiện kinh tế và sở hữu đất đai như lànguồn tư liệu chủ yếu ở khu vực nông thôn đã không hấp dẫn người di cư Như vậy, có
thể thấy rằng thành phần cốt lõi của cư dân đô thị từ khi định hình thành Thăng Long chođến hiện tại là người tứ xứ Dòng di dân này có tính năng động cao nhưng không ổnđịnh Vị thế công dân của họ tùy thuộc vào thái độ của nhà nước ở mỗi thời kỳ Họ có thể
trở thành thị dân, trở lại là nông dân hoặc chỉ là những kẻ vagabonds lơ lửng giữa nhà
nước và làng xã [29] Trong con mắt của các nhà quản lý, người di cư từ nông thôn vào đôthị thường không được khuyến khích Có tài liệu lịch sử cho thấy ngay từ thế kỷ 15, vua
Lê Thánh Tông đã từng ra lệnh đuổi tất cả những người dân tứ xứ đổ về Thăng Long
kiếm kế sinh nhai, và chỉ kịp sửa sai sau khi nhận thấy chính những người di cư đã gópphần quan trọng phát triển kinh tế của đô thành và đóng thuế nuôi triều đình[30] Câuchuyện từ vài thế kỷ trước vẫn đang là vấn đề thời sự của Hà Nội hôm nay Báo chí đưatin các nhà chức trách Hà Nội chủ trương ngăn cản luồng nhập cư vào Hà Nội từ năm
2010 trở đi, đặc biệt là đối tượng lao động tự do từ các vùng nông thôn [31] Thực ra,
những cố gắng bằng biện pháp hành chính như vậy thường không đạt được thành công vì
Trang 1032 Nguyễn Thừa Hỷ, Thăng long – Hà Nội… (đã dẫn)
33 Hoàng Văn Chức, Di dân tự do đến Hà Nội. Hà Nội: Chính trị Quốc gia, 2004, tr.126-27.
34 “Người dân di cư gặp khó khăn về nơi ở và đăng ký hộ khẩu” Thanh Niên, ngày 23/12/2006.
nó đi ngược lại quy luật phát triển và quá trình đô thị hóa của thành phố này Thực chất
của quá trình đô thị hóa là sự tăng trưởng tỷ trọng dân số sống trong khu vực thành thị
Đô thị phát triển tạo ra sức hút và trở thành động lực của dòng di dân vào thành phố,trong đó có cả những người lao động có trình độ cao và lao động phổ thông Lao động
nhập cư có thể làm cho thành phố tập trung nhiều người nghèo hơn, nhưng nó cũng là nơimang lại niềm hy vọng của nhiều người dân muốn thoát khỏi đói nghèo Hà Nội không
thể trở thành một thành phố đóng vai trò trung tâm trong sự phát triển của quốc gia nếukhông có đóng góp của những người dân di cư Người lao động nhập cư vào thành phố
thường chỉ tìm được việc làm trong nhóm những công việc khó khăn, nguy hiểm, từ quétrác tới các công việc nặng nhọc trong các công trường xây dựng nhưng đó là những việccần thiết để thành phố có thể vận hành trôi chảy Cũng chính dòng di cư này bổ xungnguồn lao động dồi dào cho khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Đặc biệt, họ còn
là sự sống còn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn dựa trên chi phí nhân công thấp vàlao động bán công nghiệp Từ khi thực hiện đổi mới, đô thị hóa bùng nổ như một cơn sốt
và nhà quản lý đã không tìm ra được chính sách hữu hiệu dẫn đến lo ngại về người nhập
cư sẽ làm quá tải thành phố và giải pháp quen thuộc dễ dàng nhất là cấm nhập cư Nói
như sử gia Nguyễn Thừa Hỷ thì “đó là cách quản lý theo kiểu "mục dân" (chăn dắt dân),
"sử dân" (sai khiến dân) của các viên quan cai trị thời phong kiến, trong một xã hội thầndân”[32] và nó không thể thích hợp với mô hình quản lý một xã hội đô thị mở của thế kỷ
21 Các nghiên cứu về dòng di dân vào Hà Nội những năm qua cho thấy bộ phận laođộng nhập cư luôn chiếm khoảng 10% dân số nội đô, trong đó có đến hơn 80% đến từ các
tỉnh đồng bằng sông Hồng, và khoảng một nửa số lao động này là phụ nữ [33] Một phântích của Tổng cục Thống kê [34] cho thấy lao động di cư vào thành phố đều có thu nhậptăng lên so với lao động không di cư, trong đó lao động nhập cư vào Hà Nội đạt được
mức thu nhập cao nhất so với các nơi khác Nguồn thu nhập này đã góp phần quan trọngvào thu nhập của các hộ gia đình nông dân vốn chỉ dựa vào diện tích đất nông nghiệpchật hẹp và không có điều kiện cải thiện cuộc sống ở khu vực nông thôn.
Tóm lại, dân nhập cư luôn luôn là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc dân số của Hà
Nội, trong quá khứ đã như vậy, trong hiện tại và tương lai cũng sẽ vẫn tiếp tục như vậy.Các lớp người di cư vào thành phố không chỉ mang lại sức sống và những năng độngkinh tế - xã hội cho khu vực đô thị, nó còn góp phần tạo nên bức tranh đa dạng và sốngđộng trong đời sống văn hóa của thị dân Vì thế, không có cơ sở để cho rằng các làn sóngdân nhập cư vào thành phố đã làm tăng tính xô bồ, hỗn tạp và làm phai nhạt lối sốngthanh lịch của người Hà Nội