DỰ THẢO ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU DỰ TUYỂN ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TIẾN SĨ ĐỢT … NĂM 2022 Họ và tên: Cao Cẩm Linh Đề tài/Hướng nghiên cứu: “ Nghiên cứu các nhân tố tác động đến phát triển hệ thống l
Trang 1DỰ THẢO ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
DỰ TUYỂN ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TIẾN SĨ
ĐỢT … NĂM 2022
Họ và tên: Cao Cẩm Linh
Đề tài/Hướng nghiên cứu: “ Nghiên cứu các nhân tố tác động đến phát triển hệ thống logistics đối với hoạt động giao hàng chặng cuối của Viettel Post ”
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Người hướng dẫn khoa học (dự kiến): GS.TS Đặng Đình Đào
HÀ NỘI – 2022
Trang 21 Lý do lựa chọn đề tài/hướng nghiên cứu
Những năm gần đây, thị trường thương mại điện tử liên tục tăng về quy mô
và giá trị Theo dự toán của báo cáo Economy SEA 2018 (Google và Temasek), giátrị thị trường thương mại điện tử Việt Nam sẽ đạt ngưỡng 33 tỷ USD và đứng thứ
ba Đông Nam Á vào năm 2025 Một trong những khâu quan trọng nhất của thươngmại điện tử là hoạt động giao hàng chặng cuối Giao hàng chặng cuối được hiểu làchặng cuối cùng của dịch vụ chuyển phát bưu kiện từ doanh nghiệp đến người tiêudùng cuối cùng (B2C) Nó diễn ra từ điểm nhập đơn hàng từ kho của người bán đếnđiểm đích lựa chọn của người nhận hàng cuối cùng Giao hàng chặng cuối là điểmtiếp xúc giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp thương mại điện tử Nó quyết địnhphần lớn đánh giá của người tiêu dùng về toàn bộ quá trình mua sắm trực tuyến.Tuy nhiên, hoạt động giao hàng chặng cuối của các doanh nghiệp thương mại điện
tử Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề: chiếm phần lớn chi phí giao hàng (28%); thờigian giao hàng chậm (trung bình 5-6 ngày), người tiêu dùng phải bỏ chi phí cao.Những hạn chế này khiến doanh nghiệp phải chi trả nhiều chi phí bất hợp lý, ngườitiêu dùng chịu phí vận chuyển cao Do đó, việc thực hiện tối ưu hóa khâu giao hàngchặng cuối sẽ làm gia tăng lợi ích của cả doanh nghiệp, chính phủ và người tiêudùng
Tổng công ty cổ phần bưu chính Viettel (Viettel Post) cung cấp dịch vụchuyển phát cho các khách hàng kinh doanh TMĐT trên các nền tảng như sànTMĐT và các kênh bán hàng online khác như Zalo, Facebook, Tiktok Để phục vụtốt cho đối tượng khách hàng này, Viettel Post đã thiết kế một mảng dịch vụ dànhriêng, với bảng giá dành riêng và luồng quy trình vận hành riêng biệt Trong tươnglai, Viettel Post hướng tới cung cấp dịch vụ chuyển phát linh hoạt đồng thời hỗ trợbán hàng, tận dụng hệ sinh thái mở và đa dạng của mình để cung cấp tới khách hàngmột gói dịch vụ tổng thể, giúp các hoạt động bán hàng của khách hàng trở nên đơngiản hơn, gia tăng lợi nhuận trên một đơn hàng
Những nhận định nêu trên cho thấy việc nghiên cứu về giao hàng chặng cuốitrong thương mại điện tử tại Việt Nam nói chung, với Viettel Post là một doanh
Trang 3nghiệp điển hình có tính thời sự và thiết thực; cần có các nghiên cứu chuyên sâunhằm đưa ra giải pháp phù hợp Để làm được điều đó, nghiên cứu này tập trungđánh giá các yếu tố tác động đến sự phát triển hệ thống Logistics cho hoạt độnggiao hàng chặng cuối của Viettel Post trong bối cảnh mới.
Mặc dù đã có một số nghiên cứu đề cập đến hệ thống logistics giao hàngchặng cuối Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tiến hành đánh giá sâu một vấn đề,tại một doanh nghiệp cụ thể trong bối cảnh mới ở một đất nước đang phát triển như
ở Việt Nam Đồng thời thiếu vắng các nghiên cứu thực hiện so sánh các phươngpháp ước lượng để lựa chọn mô hình phù hợp Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa
chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến phát triển hệ thống logistics
đối với hoạt động giao hàng chặng cuối của Viettel Post ” làm hướng nghiên cứu
sinh của mình là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn
2 Tổng quan các công trình khoa học đã được công bố trong và ngoài nước về
đề tài/hướng nghiên cứu được lựa chọn
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Với sự trỗi dậy của thương
mại điện tử và sự khuếch tán
thành công của nó trong hầu hết
các hoạt động thương mại, giao
hàng chặng cuối (last-mile
delivery) gây ra ngày càng nhiều
vấn đề ở các khu đô thị trên toàn
cầu Khối lượng lớn bưu kiện
Ảnh 1: Nhiều “Shipper” đứng đợi ở một điểm (Nguồn: internet)
Trang 4hàng tự động (smart locker) đảm nhận việc chuyển phát bưu kiện
Stanley và cộng sự (2018) chỉ ra rằng giao hàng chặng cuối (GHCC) hay
“Last mile delivery” đã trở thành một tác nhân quan trọng để tạo lợi thế cạnhtranh trên thị trường, thúc đẩy các nhà bán lẻ đầu tư vào những đổi mới giao hàngđến tay người tiêu dùng Ngày nay, với sự phát triển không ngừng nghỉ củacông nghệ 4.0 theo cấp số nhân, các nhà nghiên cứu càng cần phải nhìn nhận vànghiên cứu chuyên sâu hơn về cụm từ giao hàng chặng cuối này Cụm từ “chặngcuối” bắt nguồn từ ngành viễn thông để ám chỉ đoạn cuối của mạng lưới hay đoạnkết nối khách hàng sử dụng mạng viễn thông chính của họ với đặc điểm là mỗi đoạnkết nối chặng cuối thì chỉ được sử dụng bởi một khách hàng;
“Giao hàng chặng cuối” là sự vận chuyển hàng hóa từ đầu vận tải của bênbán lẻ đến điểm giao cuối cùng-khách hàng sử dụng cuối cùng với mục đích làmcho hàng hóa được giao nhanh nhất có thể Đây là quan điểm của Datex – một công
ty cung cấp giải phóng phần mềm chuỗi cung ứng, trong giai đoạn giới thiệu vềđịnh nghĩa giao hàng chặng cuối
Trong nghiên cứu của Mantey (2017) khẳng định vai trò của qua trình giaonhận chặng cuối trong thực tế chính là hoạt động chính trong cả quá trình giao nhận,giao hàng chặng cuối không chỉ hoạt động một mảng, không chỉ một km mà “giaohàng chặng cuối” bao quát hoạt động nhiều mảng kéo dài lên đến 80-160 km.Nghiên cứu Joerss và cộng sự (2016) chỉ ra và khẳng định giao hàng chặng cuối làquá trình giao nhận các gói bưu kiện hàng hóa được vận chuyển từ công ty giaonhận đến khách hàng, một hoạt động thành phần có giá trị lên đến tỷ đô và con số
đó dã gia tăng gấp bội gần 10 năm trên thị trường Cũng chính cả Robinson cũngkhẳng định giao hàng chặng cuối chính là nền tảng bền vững tên con đường pháttiển vận tải và tối đa hóa lợi nhuận
Nghiên cứu Linder (2011) cũng khẳng định rằng “Giao hàng chặng cuốitrong Logistics là phần cuối cùng của quá trình giao hàng Nó liên quan đến mộtloạt hoạt động và quy trình cần thiết cho quá trình giao hàng từ điểm chuyển tảicuối cùng đến điểm hạ hàng cuối cùng trong chuỗi giao hàng Bên cạnh đó, Gevaers
Trang 5và cộng sự (2009) đưa ra khái niệm giao hàng chặng cuối liên quan đến mô hìnhB2C với những điểm tương đồng: “Giao hàng chặng cuối trong logistics là phần cuốicùng của quá trình giao hàng B2C” (Business to Customer) Nó diễn ra trong một khuvực giao hàng được xác định trước (ví dụ: khu đô thị); bao gồm cả dịch vụ logistics từđiểm đầu là điểm lấy hàng cuối cùng từ nhà cung cấp đến điểm trung chuyển cuối cùnghoặc điểm đích của hàng hóa tùy thuộc vào hình thức giao nhận (ví dụ: Hộp nhận hàng,Bưu điện giao hàng tận nhà, …) Nó bao gồm một loạt các hoạt động và quy trình, cógiá trị quan trọng đối với tất cả các bên có liên quan trong phạm vi giao hàng”.
Giao hàng chặng cuối là một thuật ngữ chung cho nhiều dịch vụ lô hàng khácnhau và không chỉ giới hạn trong việc chuyển giao các bưu kiện Theo như Allen
et al (2018b), giao hàng chặng cuối có thể được phân chia theo loại hàng hóa được
xử lý thành các phân nhánh sau: mua sắm thực phẩm (food shopping), bữa ăn liền(ready to eat meals), thiết bị gia dụng và điện tử tiêu dùng lớn, dịch vụ chuyển phátnhanh các hàng hóa mua bán online qua sàn thương mại điện tử hoặc mạng xã hội
và vận chuyển bưu kiện của các đơn vị doanh nghiệp bưu chính Trong cuộc khảosát của chúng tôi, chúng tôi không loại trừ rõ ràng bất kỳ đơn vị nào trong số đó,nhưng chúng tôi tập trung vào khía cạnh sau của việc chuyển phát bưu kiện - khíacạnh giải quyết việc vận chuyển các gói hàng cỡ vừa và nhỏ (theo quy định của cácluật bưu chính Việt Nam quy định đối với hàng bưu phẩm bưu kiện trọng lượngkhông quá 31,5 kg) Tuy nhiên, trong khi các công ty, đơn vị khác đều có đặc thùriêng, có nhiều sự trùng lặp, chồng chéo giữa các khái niệm giao hàng đô thị của họ.Dịch vụ chuyển phát nhanh chủ yếu xử lý các mặt hàng nhỏ hơn và có trọng lượngnhẹ như thư từ, tài liệu, báo chí hoặc thư quảng cáo, ví dụ: do người vận chuyểnbằng phương tiện xe đạp xử lý Những mặt hàng này cho phép các tùy chọn vậnchuyển khác (ví dụ: chỉ một chiếc túi nhỏ đeo trên vai) và các tùy chọn lưu trữ (vídụ: một thùng hàng nhỏ ở góc phố) Hơn nữa, việc bàn giao của họ thường không
có vấn đề gì, vì các vật phẩm nhỏ được bỏ vừa vào hộp thư Hàng hóa điện tử tiêudùng lớn và có trọng lượng nặng, ví dụ, do các nhà cung cấp dịch vụ hậu cần LTL(less-than-truckload) xử lý, có thể yêu cầu hai người cùng xử lý và cả phương tiện
Hình 1: Mô hình Logistics và chuỗi cung ứng (Nguồn: Hình của tác giả
nghiên cứu)
Trang 6vận chuyển lớn hơn (Allen et al 2018b) Do đó, rất nhiều tùy chọn vận chuyển củachuyển phát bưu kiện như xe đạp chở hàng và máy bay không người lái sẽ khôngthể sử dụng Các khái niệm giao hàng cho bữa ăn giao hàng tại nhà và cửa hàng tạphóa hoạt động dưới áp lực thời gian thậm chí còn cao hơn (Allen et al 2018b) Vìvậy, ngay cả khi chúng tôi đề cập rõ ràng đến hoạt động vận hành của các hãng vậnchuyển bưu kiện, hầu hết các giải thích của chúng tôi cũng có liên quan cho cácnhánh phụ khác của giao hàng chặng cuối Nếu các đặc thù quan trọng phát sinh,chúng được giải quyết trong các phần tương ứng
Những nhân tố tác động đến hệ thống Logistics trong giao hàng chặng cuối
Giao hàng chặng cuối, tức là tất cả các hoạt động hậu cần liên quan đến việcvận chuyển các lô hàng đến các khách hàng hộ gia đình tư nhân ở các khu đô thị, làmột chủ đề nóng ở các thành phố trên toàn cầu Mức độ liên quan cao của nó chủyếu được kích hoạt bởi những phát triển và thách thức chung sau đây:
- Gia tăng xu hướng toàn cầu hóa cụ thể là đô thị hóa và thương mại điện
tử Hai xu hướng lớn toàn cầu, cụ thể là đô thị hóa và thương mại điện tử, là động
lực mạnh mẽ cho nhu cầu ngày càng tăng đối với dịch vụ giao hàng chặng cuối Đôthị hóa biểu thị xu hướng ngày càng có nhiều người di chuyển vào các khu vực đôthị nói chung và các “siêu đô thị” với 10 triệu dân và hơn nói riêng Ước tính đếnnăm 2050, 70% dân số thế giới, khoảng 6,3 tỷ người, sẽ sống ở các thành phố lớn(Bretzke 2013) Hơn nữa, thương mại điện tử đang gia tăng một cách ổn định vàngày càng có nhiều hàng hóa thương mại được đặt hàng trực tuyến Năm 2018,thương mại điện tử vẫn tăng trưởng trên toàn thế giới với tỷ lệ 23,3% (Statista2018) Do đó, sự tập trung nhiều hơn về mặt địa lý và số lượng đơn đặt hàng trựctuyến trên mỗi người ngày càng tăng dẫn đến sự gia tăng ổn định về khối lượng bưukiện được xử lý Ví dụ, ở Đức, dự báo đến năm 2023, 4,4 tỷ lô hàng sẽ cần được xử
lý mỗi năm so với 1,69 tỷ vào năm 2000 (Statista 2019)
- Tính bền vững Nhu cầu hàng hóa, bưu kiện ở thành thị gia tăng ngày càng
tăng dẫn đến số lượng xe tải giao hàng đi vào trung tâm thành phố ngày càng nhiều,điều này cũng tạo thêm gánh nặng cho cơ sở hạ tầng, gia tăng tắc nghẽn và có tác
Trang 7động tiêu cực đến sức khỏe, môi trường và an toàn Kết quả là, nhận thức của kháchhàng ngày càng cao và luật pháp mới lạ của chính phủ đã thực thi các dịch vụchuyển phát nhanh để tăng cường những nỗ lực hoạt động bền vững và thân thiệnvới môi trường (Hu et al 2019) Ví dụ, một ví dụ về chính sách công tác động trựctiếp đến việc giao hàng chặng cuối là một số khu vực trên thế giới, ví dụ: BritishColumbia (2019), cho phép xe điện (dành cho một người) lưu hành trên làn dànhcho xe chở nhiều khách (HOV) của họ, mà điều này vốn bình thường chỉ dành cho
xe ô tô có nhiều người ngồi Một chính sách như vậy có thể là một động lực khiếncác dịch vụ chuyển phát nhanh điện hóa các phương tiện giao hàng của họ để tiếpcận các khu vực thành thị nhanh hơn qua làn đường HOV không bị tắc nghẽn
- Chi phí Giao hàng tận nhà theo phương thức truyền thống bằng xe tải giao
hàng rất tốn kém Ví dụ: một nghiên cứu mô phỏng với dữ liệu thực tế từ Phần Lanchỉ ra rằng, các tùy chọn phân phối dựa trên xe van truyền thống tốn chi phí từ 2đến 6 € tùy thuộc vào mật độ khách hàng (Punakivi et al 2001) Các động lực quantrọng cho chi phí cao này (đặc biệt là nhân sự) là do kẹt xe, thiếu chỗ đậu xe trênnhững con phố tắc nghẽn cũng như khách hàng không có mặt tại nhà để nhận bưukiện của mình Song et al (2009) nói rằng, các thất bại giao hàng trong lần đầu tiênđược báo cáo bởi các dịch vụ chuyển phát nhanh nằm trong khoảng từ 12-60% chocác khu vực khác nhau trên thế giới Do đó, các khái niệm giao hàng thay thế đặcbiệt cho phép giao hàng không cần giám sát, hay dịch vụ khách hàng tự phục vụ làmột giải pháp thay thế đầy hứa hẹn để giảm chi phí
- Áp lực về thời gian Khối lượng bưu kiện ngày càng tăng chủ yếu được
kích hoạt bởi các hoạt động thương mại điện tử ngày càng tăng Tuy nhiên, hầu hếtcác nhà bán lẻ trực tuyến đã thực hiện giao hàng ngay trong ngày hoặc trong ngàytiếp theo đối với một trong những lời hứa dịch vụ cơ bản của họ (Yaman et al.2012), do đó việc giao hàng chặng cuối phải đối mặt với deadline chặt chẽ và sức épthời gian đáng kể Hơn nữa, việc giao hàng trực tuyến thay đổi theo tuần, với cácngày Thứ Hai thường có khối lượng công việc nhiều nhất (Poggi et al 2014), và đặcbiệt là thay đổi theo năm, ví dụ: do doanh số bán hàng theo mùa (Boysen et al
Trang 82019c) Do đó, giao hàng chặng cuối cùng cũng phải đối mặt với sự thay đổi khốilượng công việc mạnh mẽ, do đó, các khái niệm dặm cuối (last-mile) là bắt buộc cái
mà có thể dễ dàng mở rộng trong thời gian ngắn
- Lực lượng lao động già hóa Lực lượng lao động đang già đi ở nhiều nước
công nghiệp đã làm gia tăng vấn đề thuê nguồn nhân lực cần thiết (Otto et al 2017),đặc biệt là trong một môi trường đòi hỏi khắt khe về thể chất như chuyển phát bưukiện, nơi mà báo chí thường xuyên đưa tin về các điều kiện nghề nghiệp khắc nghiệt
và các khoản thanh toán thấp, ví dụ: Peterson (2018) Trong một môi trường làmviệc như vậy, khái niệm giao hàng thay thế ít phụ thuộc vào công việc của conngười hơn mà phụ thuộc vào tự động hóa dường như là giải pháp thay thế đầy hứahẹn cho tương lai Mặt khác, người giao hàng xử lý, chuyển giao một bưu kiệnthường là tương tác duy nhất của con người đối với khách hàng thương mại điện tử
Do đó, trải nghiệm giao hàng đáng tin cậy, nhanh nhạy và chuyên nghiệp mang lại
sự hài lòng của khách hàng cho cả các nhà bán lẻ trực tuyến và các dịch vụ chuyểnphát nhanh (Li et al 2006) Với các khái niệm tự phục vụ dựa trên tủ khóa bưu kiệnhoặc các tùy chọn giao hàng tự động dựa trên máy bay không người lái hoặc rô bốtgiao hàng tự động, sự tương tác giữa con người với nhau sẽ mất đi
Với những thách thức này và với sự phát triển công nghệ gần đây (và đangdiễn ra), chẳng hạn như lái xe tự động, máy bay không người lái và rô bốt giao hàng,thật bất ngờ khi có nhiều khái niệm giao hàng chặng cuối mới lạ đã được quảng bátrong những năm gần đây Những khái niệm này bao gồm các lựa chọn thay thế đãđược thực hành chẳng hạn như xe đạp chở hàng, các nguyên mẫu được đánh giá quámức, chẳng hạn như giao hàng bằng máy bay không người lái (see Otto et al 2018),cũng như những ý tưởng xa hơn, chẳng hạn như bằng sáng chế của Amazon cho cáckho hàng, i.e khí cầu bay vòng qua các trung tâm thành phố từ nơi máy bay khôngngười lái được đưa ra (Berg et al 2016) Tài liệu này dành riêng để khảo sát về cáckhái niệm giao hàng chặng cuối đã được thiết lập và mới lạ Đặc biệt, chúng tôi cóquan điểm nghiên cứu hoạt động và khảo sát các tài liệu nhằm giải quyết các vấn đềquyết định chiến lược khi thiết lập một khái niệm dặm chuối hoặc các vấn đề ngắn
Trang 9hạn khi vận hành một chế độ phân phối cụ thể Đóng góp thêm của tài liệu của chúngtôi, ngoài một cuộc khảo sát các bài báo, còn là ký hiệu nhỏ gọn (compact notation)xác định chuỗi quy trình tương ứng của một khái niệm phân phối một cách ngắn gọn
và có hệ thống cũng như tổng quan về các nhiệm vụ nghiên cứu đầy hứa hẹn trongtương lai
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên thế giới đã cho ta thấy những bước tiến quan trọng trong nghiên cứu về mô hình các nhân tố tác động đến phát triển hệ thống Logistics giao hàng chặng cuối song song với sự chuyển biến không ngừng nghỉ của khoa học công nghệ làm thay dổi toàn bộ chuỗi cung ứng, nhất do đại dịch Covid19 có nhiều vấn đề đứt gẫy chuỗi cung ứng trên toàn thế giới Những xu hướng này đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giao hàng chặng cuối bao gồm (1) Công nghệ thông minh theo dõi và cảm biến; (2) Truy xuất nguồn gốc và bằng chứng giao hàng; (3) Giao hàng trong ngày; (4) Kho hàng trong đô thị và (5) Kinh doanh trên nền tảng cộng đồng Bên cạnh còn các nhân tố khác: (6) Gia tăng xu hướng toàn cầu hóa cụ thể là đô thị hóa và thương mại điện tử; (7) Tính bền vững; (8) Chi phí; (9) Áp lực về thời gian: (10) Lực lượng già hóa Trong tương lại sự
mở rộng của cách mạng 4.0; ảnh hưởng do Covid-19 xuất hiện thì quá trình giao hàng chặng cuối sẽ tiếp tục chuyển biến thông qua ảnh hưởng của nhiều xu hướng khác Với những thách thức này và với sự phát triển công nghệ gần đây (và đang diễn ra), chẳng hạn như lái xe tự động, máy bay không người lái và rô bốt giao hàng, thật bất ngờ khi có nhiều khái niệm giao hàng chặng cuối mới lạ đã được quảng bá trong những năm gần đây Những khái niệm này bao gồm các lựa chọn thay thế đã được thực hành chẳng hạn như xe đạp chở hàng, các nguyên mẫu được đánh giá quá mức, chẳng hạn như giao hàng bằng máy bay không người lái (see Otto et al 2018), cũng như những ý tưởng xa hơn, chẳng hạn như bằng sáng chế của Amazon cho các kho hàng, i.e khí cầu bay vòng qua các trung tâm thành phố từ nơi máy bay không người lái được đưa ra (Berg et al 2016)
Tình hình nghiên cứu trong nước
Đối với nghiên cứu trong nước, đã có rất nhiều bài viết về năng lực đổi mới,
Trang 10nhưng chủ yếu là những báo cáo khoa học, bài viết trong các buổi hội thảo, tọa đàmnhằm phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp Nổi bật có bài viết của Đinh ThuPhương (2018); Hoàng Hương Giang (2020)… đề cao giải pháp cho hoạt động giaohàng chặng cuối trong Logitics; đánh giá dịch vụ giao hàng chặng cuối tại Việt Nam
từ góc độ người sử dụng cuối cùng
Tóm lại, tình hình nghiên cứu trong nước đã giúp cho tác giả có cái nhìn cơ bản về thực trạng hoạt động giao hàng chặng cuối trong Logistics Việt Nam cũng như những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động giao hàng chặng cuối trong Logistics hiện nay, nhằm hỗ trợ cho tác giả có sự đánh giá khách quan và không bị sai lệch
định hướng nghiên cứu Nhưng cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào “Nghiên
cứu các nhân tố tác động đến phát triển hệ thống logistics đối với hoạt động giao hàng chặng cuối của Viettel Post” Nếu khám phá được vấn đề trên, doanh nghiệp
nội địa sẽ tìm được giải pháp phù hợp để thúc đẩy phát triển hệ thống logistics giao hàng chặng cuối của Viettel Post trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa, dứt gẫy chuỗi cung ứng do Covid19.
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu và đánh giá được thực trạng các nhân tố tác động (cả mặt tíchcực và tiêu cực) đến phát triển hệ thống logistics đối với hoạt động giao hàng chặngcuối của Viettel Post, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp có tính khả thinhằm phát triển và nâng cao hiệu quả hệ thống logistics đối với hoạt động giao hàngchặng cuối cho Viettel Post
Trang 114 Phân tích thực trạng các nhân tố tác động (cả mặt tích cực và tiêu cực) đếnphát triển hệ thống logistics đối với hoạt động giao hàng chặng cuối của ViettelPost
5 Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp tăng cường các nhân tốtác động tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực đến phát triển hệ thống logisticsđối với hoạt động giao hàng chặng cuối của Viettel Post
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn về các nhân tố tác
động đến phát triển hệ thống logistics đối với hoạt động giao hàng chặng cuối củaViettel Post
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Các nhân tố tác động đến Hệ thốnglogistics giao hàng chặng cuối của Viettel Post trong bối cảnh mới
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Hệ thống logistics đối với hoạt động giaohàng chặng cuối của Viettel Post với các số liệu giai đoạn 5 năm 2017 - 2022
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở khoa học của việc phát triển hệ thống logistics đối với hoạt động giaohàng chặng cuối trong bối cảnh hội nhập và CMCN 4.0
- Phân định và đo lường các nhân tố tác động đến phát triển hệ thốnglogistics đối với hoạt động giao hàng chặng cuối của Viettel Post
- Đánh giá được thực trạng những tác động của các nhân tố đến hệ thốnglogistics đối với hoạt động giao hàng chặng cuối của Viettel Post và những vấn đềđặt ra hiện nay
- Xác định mục tiêu, phương hướng phát triển hệ thống logistics đối với hoạtđộng giao hàng chặng cuối của Viettel Post
- Tìm các giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêucực của các nhân tố tác động đến phát triển hệ thống logistics đối với hoạt độnggiao hàng chặng cuối của Viettel Post
Trang 12Hình 1: Mô hình Hành trình nghiên cứu (Nguồn: Saunders, Lewis & Thornhill (2009, 108))
- Kiến tạo môi trường, điều kiện để phát triển hệ thống logistics đối với hoạtđộng giao hàng chặng cuối của Viettel Post
6 Phương pháp nghiên cứu dự kiến thực hiện
Phương pháp nghiên cứu
chủ yếu được sử dụng là phương
pháp đinh tính và định
lượng Theo Kothari (2004),
phương pháp nghiên cứu và thu
thập dữ liệu là những phần quan
trọng của bất kỳ nghiên cứu nào
để làm sáng tỏ các câu hỏi nghiên
cứu lý thuyết Phương pháp
nghiên cứu được Rajasekar,
Philominathan & Chinnathambi
(2013) định nghĩa là nghiên cứu các phương pháp, là các lược đồ số khác nhau, cácthủ tục lý thuyết và các thuật toán để đạt được kiến thức Phương pháp nghiên cứuchỉ ra cách thu thập và phân tích dữ liệu, trong khi việc thu thập dữ liệu chỉ ranguồn gốc và phương pháp thu thập
Để tóm tắt các lớp cốt lõi của phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu,Saunders, Lewis & Thornhill (2009, 108) giới thiệu mô hình “hành trình nghiêncứu” với sáu yếu tố hình thành nên phương pháp luận: triết học, phương pháp tiếp
Trang 13cận, chiến lược, lựa chọn, thời gian, kỹ thuật và phương pháp Về phạm vi và mụcđích của luận án này, “hành trình nghiên cứu” được thu hẹp thành ba lớp: tiếp cậnnghiên cứu (cách tiếp cận), phương pháp nghiên cứu (lựa chọn) và thu thập dữ liệu(kỹ thuật và quy trình) Hình minh họa mô hình áp dụng này.
Còn trong nghiên cứu này, tác giả quyết định lựa chọn phương pháp hỗn hợp
để nghiên cứu về các nhân tố tác động đến phát triển hệ thống logistics giao hàngchặng cuối của Viettel Post trong bối cảnh mới
Nghiên cứu định tính: được thực hiện thông qua 02 kỹ thuật: phỏng vấn tay
đôi và thảo luận nhóm tập trung nhằm điều chỉnh nội dung biến quan sát sao chophù hợp với đặc điểm của ngành Logistics và chuỗi cung ứng tại Việt Nam, đồngthời khám phá các thành phần mới cho những khái niệm chưa có thang đo hoànchỉnh như: hỗ trợ từ Chính phủ và nguồn nhân lực nội bộ Bên cạnh đó thông quanghiên cứu định tính khẳng định vai trò và chiều hướng tác động của khái niệmquản trị chất lượng toàn diện trong nghiên cứu này
Nghiên cứu định lượng: được tiến hành qua 2 giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ
nhằm đánh giá thang đo các nhân tố và nghiên cứu chính thức để kiểm định môhình và giả thuyết nghiên cứu Đối tượng khảo sát cho nghiên cứu định lượng là cácnhà quản lý cấp cao của Viettel Post
Dữ liệu được làm sạch và xử lý trên phần mềm Stata15 và Amos20 với kỹthuật phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA),phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) Ngoài
ra, phương pháp phân tích đa nhóm cũng được sử dụng để kiểm định sự khác biệt
do tình trạng sở hữu doanh nghiệp có thể tạo ra Bên cạnh đó, nghiên cứu còn lồngghép sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, mô tả, so sánh, dự báo