Những lĩnh vực hợp tác kinh tế được tiến hành kí kết bao gồm: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, khoa học – công nghệ, xã hội, y tế, giáo dục… Trong đó chủ yếu liên kết các lĩnh về ki
Trang 1Vai trò c ủa TP Hồ Chí Minh trong liên k ết các tỉnh thành khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam
The role of Ho Chi Minh City in linking provinces
in the Southern key economic region of Vietnam
TS Nguy ễn Hoàng Tiến, Saigon International University,
vietnameu@gmail.com,
0708741048
TS H ồ Thiện Thông Minh, Saigon International University,
Tóm t ắt: Nền kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về các lĩnh vực như thủy sản, nông
sản, công nghiệp chế biến, xây dựng, du lịch, tài chính Theo số liệu của cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh thì năm 2011, tỷ trọng dịch vụ chiếm 53,5% cả nước, xây dựng và công nghiệp chiếm 45,3%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm một phần ít còn lại Mặc
dù nền kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh có tăng trưởng đáng kể trong những năm gần đây, song bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn như giá cả nguyên vật liệu đầu vào tiếp tục tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước bị thu hẹp, mặc khác do khó tiêu thụ sản phẩm nên các doanh nghiệp trong địa bàn thành phố cũng không dám mạnh dạn đầu tư Cùng với các chiến lược phát triển kinh tế, trong những năm qua thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kí kết các chương trình liên kết – phát triển kinh tế xã hội với các tỉnh lân cận Những lĩnh vực hợp tác kinh tế được tiến hành kí kết bao gồm: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, khoa học – công nghệ, xã hội, y tế, giáo dục… Trong đó chủ yếu liên
kết các lĩnh về kinh tế và giao thông, hạ tầng để thúc đẩy phát triển đầu tư sản xuất, vận tải hàng hóa giữa các thành phố với nhau, và giữa thành phố với các tỉnh thành Với chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế trong những thập kỷ gần đây thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong liên kết đông tây tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam
Abstract: The economy of Ho Chi Minh City is diverse in areas such as fisheries, agricultural products, processing industry, construction, tourism and finance According to
Ho Chi Minh City Department of Statistics, in 2011, the proportion of services accounted for 53.5% of the country, construction and industry accounted for 45.3%, agriculture, forestry and fisheries accounted for a part little left Although the economy in Ho Chi Minh City has grown significantly in recent years, there are also many difficulties besides that the price of raw materials continues to increase while the market consumes products Domestic and foreign products have been narrowed, and on the other hand, due to difficulty in consuming products, businesses in the city do not dare to invest Along with the economic development strategies, in the past years, Ho Chi Minh City has signed affiliate programs - socio-economic development with neighboring provinces The areas of economic cooperation that were signed include: agriculture, industry, trade, science - technology, society, health, education In which, mainly the fields of economic cooperation and transportation, infrastructure to promote the development of production investment, freight transport between cities, and between cities and provinces With a strong shift of the economy in recent decades, Ho Chi Minh City plays a very important role in the east-west link in the southern key economic region
T ừ khóa: Vai trò, thành phố Hồ Chí Minh, liên kết kinh tế, khu vực kinh tế
Keywords: Role, Ho Chi Minh City, East-West link, economic sector
Trang 21 Đặc trung về khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam
tích cả nước với đường bờ biển kéo dài 700km, giáp với biển Đông – Thái Bình Dương – vịnh Thái Lan đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biển Hiện nay, đồng
mạnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ được biết đến
là vựa lúa lớn nhất cả nước mà nơi đây còn được xem là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng, nơi đây là cái nôi của nền văn hóa Óc Eo cổ đại, với nhiều di tích lịch sử quý giá được lưu trữ Miền Tây Nam Bộ có tất cả 13 tỉnh bao gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu
và Cà Mau Bên cạnh diện tích đất liền lên tới 40.548,2 km2 được phù sa bồi đắp quanh năm thì nơi đây còn sở hữu đường bờ biển dài Chạy dọc theo các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang cùng với hệ thống các hòn đảo lớn nhỏ tại Đảo Ngọc Phú Quốc Với tổng dân số của các tỉnh trong vùng hiện tại là 17.330.900 người, chiếm 19% dân số cả nước khiến cho nơi đây có nguồn nhân lực lao động vô cùng dồi dào Hậu Giang là tỉnh có dân số ít nhất so với 12 tỉnh còn lại trong vùng với 773.800 người Còn An Giang là tỉnh có số lượng đông dân với 2.151.000 người Trong khi đó mật
độ dân số ở Cà Mau lại cao nhất trong vùng Vùng có vị trí địa kinh tế quan trọng, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và giao thương với khu vực Nằm ở cực Tây của Tổ quốc, tiếp giáp với Campuchia thông qua vịnh Thái Lan; giáp với biển Đông với bờ biển dài, đây là điều kiện thuận lợi phát triển giao lưu thương mại và du lịch với khu vực Đồng bằng sông
châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất lương thực, nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản và vùng cây ăn trái nhiệt đới rộng lớn cùng với điều kiện thuận lợi để sản xuất gạo, thủy sản cho tiêu dùng và xuất khẩu Tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nhân văn của vùng khá phong phú, phục vụ tốt cho phát triển kinh tế và du lịch Nhờ có tài nguyên về dầu khí, vùng đã và sẽ là trung tâm năng lượng lớn của cả nước với ba trung tâm điện lực: Ô Môn, Cà Mau, Kiên Lương với tổng công suất khoảng 9.000 - 9.400
MW và cung cấp khí đốt từ các mỏ khí Tây Nam Ngoài ra còn có đá vôi ở khu vực Hà Tiên, Kiên Lương (Kiêng Giang); đá Andezit, granit (An Giang),… Những di tích lịch sử, văn hóa, phong cảnh đẹp phân bố đều trên toàn địa bàn, tạo cho vùng tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế du lịch Hệ thống đô thị trong vùng khá phát triển, trong đó có thành phố Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương Cơ sở hạ tầng đã từng bước hoàn thiện, đã, đang
và sẽ tạo sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời thu hút lực lượng lao động từ vùng nông thôn tới làm việc, tạo cục diện mới cho tăng trưởng kinh tế và giao thương
quốc tế
TP Hồ Chí Minh, trong giai đoạn 2011-2015, kinh tế thành phố tiếp tục duy trì tốc
độ tăng trưởng khá cao, GRDP bình quân đạt 9,6%/năm, gấp 1,63 lần bình quân chung của
cả nước Năm 2016, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,05%, gấp 1,3 lần cả nước GDP bình quân quân đầu người đạt 5.122 USD/người, gấp 2,37 lần bình quân cả nước Chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và đúng hướng Kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 295 tỷ USD, năm 2016 đạt gần 70 tỷ USD, chiếm 18% cả nước TP Hồ Chí Minh hiện có hơn bảy nghìn dự án đầu tư nước ngoài (FDI) từ hơn 90 quốc gia, vùng lãnh thổ còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 42 tỷ USD (Dương Hồng Lâm, 2017) Trong 5 năm (2011-2015), TP Hồ Chí Minh thu ngân sách được gần 1,2 triệu tỷ đồng, đạt hơn 103% chỉ tiêu Trung ương giao, tăng gấp hai lần so với giai đoạn 2006-2010, đóng góp 27,8% vào nguồn thu ngân sách quốc gia Cùng với phát triển kinh tế, thành phố tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị; chú trọng nâng cao hiệu
quả thực hiện chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, văn hóa… Tính đến thời điểm đầu năm 2019 số hộ nghèo trên địa
Trang 3bàn Thành phố còn lại là 27,432 hộ (chiếm 1.11%), số hộ cận nghèo lad 32,143 hộ (chiếm 1.3%) Công tác quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội Hoạt động đối ngoại được triển khai đồng bộ, toàn diện Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị vững mạnh luôn được quan tâm thực hiện… Năm 2015, lực lượng lao động của TP
chiếm đến 21,2% tổng số lao động trình độ cao của cả nước Nhờ phát huy hiệu quả lực lượng lao động tăng cả về quy mô, chất lượng cùng với các yếu tố khác, bình quân trong giai đoạn 2011-2016, tăng số lượng lao động đã đóng góp khoảng 24% tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động đóng góp khoảng 75% tăng trưởng GDP của thành phố TP Hồ Chí Minh
có lực lượng doanh nghiệp lớn nhất nước, nhất là khu vực kinh tế tư nhân Năm 2016, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động ở thành phố chiếm gần 34% DN đang hoạt động của cả nước Thành phố đã phát huy lợi thế là trung tâm tài chính lớn nhất nước với hơn một nửa lượng kiều hối của cả nước, gần 27% tổng dư nợ tín dụng và khoảng 30% tổng huy động tín dụng của cả nước (Dương Hồng Lâm, 2017) Trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Bình Thuận) - một mạng kinh tế năng động - thì thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm của vùng với các đầu mối giao thông quốc tế quan trọng Đó là sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn, ga Sài Gòn, nút giao thông đường bộ tỏa đi khắp nơi đặc biệt là tuyến đường Xuyên Á từ Phnôm Pênh đến TP.Hồ Chí Minh và Vũng Tàu đang được xây dựng
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm, là động lực quan trọng hàng đầu của cả nước và là “cửa ngõ” kinh tế và cầu nối của Việt Nam ra thế giới Đông Nam Bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, nhờ hội tụ đầy
đủ các điều kiện và lợi thế nổi trội để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là phát triển công nghiệp công nghệ cao, điện tử - tin học, dầu khí, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, nghiên
cứu ứng dụng và triển khai khoa học - công nghệ, đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Hiện nay, Đông Nam Bộ chiếm khoảng 40% GDP, có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn khoảng 1,4 - 1,6 lần so với nhịp độ tăng trưởng bình quân chung cả nước; GDP tính theo đầu người cao gần gấp 2,5 lần mức bình quân cả nước; tỷ lệ đô thị hóa cao nhất nước; Đóng góp gần 60% tổng thu ngân sách quốc gia Tính theo độ mở cửa kinh
tế (đo bằng tỷ trọng xuất khẩu trên GDP), vùng có chỉ số mở cửa đạt gần 110% trong khi chỉ
số cả nước chỉ khoảng 70%, tỷ lệ đầu tư trên GDP chiếm 50% Đông Nam Bộ đã hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, liên kết bởi các tuyến trục và vành đai Là một vùng công nghiệp lớn nhất nước, nơi đây đã hình thành và liên kết mạng lưới các khu công nghiệp (KCN) tập trung và phát triển các ngành công nghiệp như: Khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện, công nghệ tin học, hóa chất cơ bản, phân bón và vật liệu… làm nền tảng công nghiệp hóa của vùng và của cả nước Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động nhất cả nước trong thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Ngay từ những năm đầu mở cửa nền kinh tế, ĐTNN đã nhanh chóng tập trung vào
TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ, góp phần vào sự phát triển bứt phá của cả vùng Đến nay, kim ngạch xuất khẩu của vùng chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Tính đến năm 2016, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư 11.537 dự án với tổng vốn 140,2
58,0% vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và chế tạo Đồng thời, Đông Nam Bộ cần giữ vai tiên phong trong việc chuyển hướng chiến lược trong việc thu hút ĐTNN – tập trung vào
việc thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường (Võ Tấn Phong, 2015)
2.Liên k ết đối với sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực kinh tế trong điểm phía Nam
Trang 4Vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ nguyên vẹn của nền kinh tế quốc dân cả nước,
có những dấu hiệu sau: Chuyên môn hoá như chức năng kinh tế quốc dân cơ bản; tính tổng hợp được hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ của vùng Vùng kinh tế có thể được coi như là hệ thống toàn vẹn, một đơn vị có tổ chức trong bộ máy quản lý lãnh thổ thuộc nền kinh tế quốc dân (Trần Thị Tuyết Lan, 2014) Theo Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 7 tháng
9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội: “Vùng kinh tế trọng điểm là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực, đầu tàu thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước” Như vậy, vùng kinh tế trọng điểm là một bộ
phận của lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực - đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của cả nước Với nhiều lợi thế để phát triển toàn diện, đặc biệt đã được quy hoạch thành Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhưng Thành phố Hồ Chí Minh không thể thiếu cơ chế đặc thù, cũng như thiếu
thể chế điều phối và liên kết kinh tế Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm 8% diện tích
và 17% dân số của cả nước, nhưng sản xuất chiếm hơn 40% GDP, chiếm 40% giá trị kim ngạch xuất khẩu, đóng góp 60% ngân sách quốc gia và thu hút hơn 50% tổng vốn đầu tư nước ngoài của cả nước… Đặc biệt, giai đoạn 2011-2014, tăng trưởng của vùng đạt hơn 10%, trong khi của cả nước đạt 5,7% Cơ cấu kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
đã có sự chuyển dịch nhanh và đúng hướng, theo xu thế giảm dần tỷ trọng GDP vào khu vực nông-lâm- ngư nghiệp và khu vực công nghiệp-xây dựng; đồng thời, tăng dần tỷ trọng GDP vào khu vực dịch vụ, môi trường đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch và là đầu mối giao thông-giao lưu thương mại quốc tế lớn nhất nước; trong đó, có Vũng Tàu là thành phố cảng biển, trung tâm dịch vụ và công nghiệp, du lịch biển lớn của quốc gia, có trục đường Xuyên Á chạy qua, là điểm trung chuyển
xuyên Á nối liền với các nước Đông Nam Á lục địa Theo Đặng Xuân Quan (2017), Vùng kinh tế Đông Nam Bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội của cả nước Tính theo độ mở cửa kinh tế, đo bằng tỷ trọng xuất khẩu trên GDP, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (bao gồm Vùng kinh tế Đông Nam Bộ và 2 tỉnh Long
An, Tiền Giang) có chỉ số mở cửa đạt gần 110%, trong khi chỉ số cả nước chỉ khoảng 70%
Tỷ lệ đầu tư trên GDP chiếm 50%, cao gấp 1,5 lần so với cả nước Nhịp độ tăng trưởng kinh
tế cao hơn khoảng 1,4 đến 1,6 lần so với nhịp độ tăng trưởng bình quân chung cả nước Tính đến tháng 8/2016, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào Vùng Đông Nam Bộ 11.537 dự
tư nước ngoài (FDI) của cả nước Các dự án FDI của vùng này cũng tập trung gần 56% số
dự án và 58% vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và chế tạo Theo các chuyên gia kinh tế, đây là vùng duy nhất hiện nay hội tụ đầy đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu, phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao; đồng thời, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Theo báo cáo của Hội nghị giao ban KH&CN vùng Đông Nam Bộ lần thứ XIV với chủ đề “Thúc đẩy phát triển liên kết Vùng” do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Ủy ban nhân dân TP.HCM phối hợp tổ
chức, kết quả hoạt động KH&CN vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2015 – 2017 như sau được đánh giá như sau Hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ của các tỉnh, thành phố đã chuyển dịch theo cơ cấu kinh tế của Vùng và từng địa phương Các nhiệm vụ nghiên cứu triển khai từ tập trung vào lĩnh vực khoa học nông nghiệp với 28,5% giai đoạn 2011 –
32,3% Ngoài việc quan tâm tới đặt hàng nhiệm vụ xuất phát từ nhu cầu, tính ứng dụng thực
Trang 5tế, các địa phương đã chú trọng nghiên cứu để nâng cao giá trị sản phẩm, năng suất, chất lượng hàng hóa là thế mạnh, sản phẩm chủ lực của từng địa phương ở quy mô lớn (TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu đều xây dựng chuỗi phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương) Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ đã khẳng định được vai trò động
lực, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất là trong công nghiệp, xây dựng Các nhiệm vụ tập trung nghiên cứu hoàn thiện sản phẩm chính của doanh nghiệp, phát triển các sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh,
mở rộng thị trường Tập trung đầu tư đổi mới công nghệ cho những khâu cơ bản, quyết định chất lượng sản phẩm Nghiên cứu, chế tạo ra một số dây chuyền công nghệ thiết bị đồng bộ, hiện đại phục vụ phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và sản xuất hàng tiêu dùng, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá Ví dụ như Chương trình phát triển vi mạch của TP.HCM đã góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ sản xuất chíp thế giới; Nhóm sản phẩm điện kế điện tử thông minh; hệ thống HES trong lưới điện thông minh với các thiết bị sử dụng vi mạch Việt và phần mềm Việt; Sản phẩm chip cảm
biến áp suất Tỉnh Bình Dương đã xây dựng giải pháp Phần mềm Deface Tracking hỗ trợ kiểm soát, bảo mật thông tin; Nghiên cứu hiện trạng và thử nghiệm các giải pháp xác thực
đa yếu tố nhằm tăng cường an toàn thông tin Trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp, kết quả KH&CN đã được ứng dụng trong tất cả khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp từ nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi; kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, canh tác; thức
ăn chăn nuôi; phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y; kỹ thuật chế biến, bảo quản sau thu hoạch Trong đó, quan trọng nhất là khâu chọn tạo giống mới cây trồng, vật nuôi theo hướng tăng năng suất, nâng cao chất lượng thay thế giống nhập ngoại Nhiều tiến bộ KH&CN đã được áp dụng có hiệu quả trong sản xuất rau, hoa, quả Nhiều loại trái cây đặc sản đã được xây dựng, bảo hộ nhãn hiệu tập thể hoặc chỉ dẫn địa lý và được xuất khẩu sang các nước trên thế giới, trong đó có những thị trường lớn Mỹ, châu Âu… Trong lĩnh vực khoa
học y – dược, nhiều công trình nghiên cứu đã góp phần dự phòng, giải quyết được những vấn đề nan giải trong y học như: “Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ Homocysteine máu và các chỉ số trong hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đột quỵ tại bệnh viện tỉnh Bình Thuận”, “Nghiên cứu khảo sát tần suất chậm phát triển tâm thần của học sinh tiểu học tại TP.HCM và xác định các yếu tố di truyền gây bệnh”, “Nghiên cứu tạo yếu tố tăng trưởng tái
tổ hợp từ tiểu cầu (Plateletderived growth factor-PDGF)” là một nghiên cứu mới ở Việt Nam
và trên thế giới, có khả năng thương mại hóa thành nguyên liệu cho sản xuất thuốc tại Việt Nam
Tuy nhiên, cả Vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đều còn
tồn tại một số hạn chế, bất cập Tại Diễn đàn kinh tế Đông Nam Bộ tổ chức ở Thành phố Hồ
tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng Đó là chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao, thiếu bền vững, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu phát triển, kết cấu hạ
tầng chưa phát triển kịp với nhu cầu, sự phối hợp giữa các bộ ngành, địa phương còn nhiều hạn chế; vấn đề nghiên kết vùng còn yếu Từ góc độ địa phương, Mai Hùng Dũng (2017) cho rằng, cơ chế phối hợp vùng khá rời rạc, chưa có tầm nhìn Vì vậy, muốn khắc phục, các địa phương phải tăng cường kết nối, cùng quan tâm đến những lĩnh vực chung như giao thông, ô nhiễm môi trường, đào tạo nguồn nhân lực Việc liên kết cũng chưa trở thành trọng tâm phát triển Các tỉnh thành chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu vùng lại thiếu sự hợp tác trong việc hoạch định chính sách, giới thiệu nhà đầu tư, phân bổ nhà đầu tư Ngoài ra, quy định vùng đã được lập song lại thiếu các cấp quản lý thực hiện quy hoạch tương ứng Để thực hiện tốt quy hoạch vùng, ông Đoàn Duy Khương (2017) cho rằng: Phải định vị Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là một khu vực thống nhất, liên kết kinh tế có sức cạnh tranh cao cả ở thị trường trong nước và quốc tế, nhằm đảm bảo sự tăng trưởng khu vực, tạo ra nhiều công ăn việc làm Đặc biệt là phát triển các ngành nghề có năng suất cao, đem lại sự
Trang 6giàu có của mỗi cá nhân và doanh nghiệp Thêm nữa, xác định rõ lĩnh vực, ngành nghề, sản
phẩm, phân khúc sản phẩm cốt lõi có khả năng liên kết và cạnh tranh ở thị trường Vũ Thành
Tự Anh (2017) cho biết, Vùng Đông Nam Bộ luôn là vùng tiên phong, nhưng phải làm thế nào để giữ được vị trí tiên phong ấy Khả năng và khát vọng đi tiên phong tất nhiên sẽ không đến từ doanh nghiệp, cá nhân đơn lẻ mà đến từ môi trường thể chế Nếu môi trường thể chế không tạo bất lợi cho doanh nghiệp thì tinh thần khởi nghiệp sẽ tăng lên và tạo ra những sự phát triển bứt phá Trao đổi về các giải pháp để thúc đẩy hơn nữa sự liên kết giữa các địa phương trong vùng Nguyễn Thành Phong (2017) chia sẻ: Để phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, cần phát huy nội lực của từng địa phương Việc liên kết giữa các địa phương cũng rất quan trọng, góp phần thực hiện quy hoạch phát triển vùng đã được Thủ tướng phê duyệt Theo ông Trần Văn Cần (2017) cho rằng: Cần xây dựng chương trình liên kết vùng cụ thể,
chặt chẽ trong triển khai các quy hoạch xây dựng, đô thị, nông nghiệp, nhất là tập trung đầu
tư kết nối hạ tầng về giao thông với các địa phương Thêm nữa, cần xây dựng hệ thống đào tạo nhân lực có trình độ chuyên môn đạt tầm khu vực và quốc tế Đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao với chi phí cạnh tranh cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, chế biến-chế tạo Đây phải được xem là giải pháp đột phá cả trong ngắn và dài hạn để đảm bảo Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam phát triển bền vững Theo Cao Đức Phát (2017), cần phải rà soát, làm rõ hơn định hướng kinh tế của vùng này theo hướng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn, công nghiệp sạch để không cạnh tranh với các vùng khó khăn về các loại hình đầu tư dựa vào lao động giá rẻ Ông Cao Đức Phát cũng đề xuất, Vùng cần xây dựng quỹ, vườn ươm phát triển doanh nghiệp trong nước gắn với đầu tư sáng tạo công nghệ của các trung tâm nghiên cứu của doanh nghiệp Đồng thời, phát triển dịch vụ chất lượng cao và hiện đại kết nối, cạnh tranh quốc tế Cùng với đó, phát triển dịch vụ thống nhất toàn vùng với các trung tâm logistic quốc tế hiện đại
3.Th ực trạng về vai trò của TP Hồ Chí Minh trong liên kết các tỉnh tại khu vực kinh
t ế trọng điểm phía Nam
Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến cuối năm 2015, thành phố
tổng kim ngạch xuất khẩu toàn vùng và 51% tổng vốn đầu tư phát triển Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi tập trung gần 40% tổng số cán bộ khoa học của cả nước, tạo lợi thế so sánh cho vùng; đồng thời, có tác động lan tỏa, cung cấp nguồn nhân lực cho các vùng khác của
cả nước Các doanh nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư và hình thành những khu công nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho người dân địa phương và giảm dần xu hướng
di dân trong độ tuổi lao động Tính đến cuối năm 2015, tại các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh đã có 56 doanh nghiệp, nhà đầu tư của Thành phố Hồ Chí Minh triển khai tới 60
dự án, với tổng vốn đầu tư hơn 5.600 tỷ đồng vào các lĩnh vực như xây dựng kết nối hạ tầng giao thông (cầu, đường), xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, khu dân cư, đầu tư các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xử lý rác tập trung góp phần thúc đẩy đầu tư sản xuất, trao đổi, vận tải hàng hóa giữa các doanh nghiệp và vận chuyển hành khách giữa thành phố với các tỉnh trong vùng Tại các tỉnh như Long An và Tiền Giang, các doanh nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang triển khai 672 dự án đầu tư, với tổng vốn hơn 100.820
tỷ đồng vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phát triển liên kết hợp tác với các địa phương tại vùng Đông Nam Bộ cũng như Đồng bằng sông Cửu Long để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội (Nguyễn Thành Phong, 2016) Trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sự phát triển của Thành phố
Hồ Chí Minh được Nghị quyết số 53/NQ-TƯ Bộ Chính trị Trung ương Đảng về Vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam xác định là có ý nghĩa to lớn, là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển kinh
tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tạo đà cùng cả nước tiến nhanh, tiến vững chắc vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của
Trang 7Thành phố Hồ Chí Minh đối với cả nước thể hiện ở vai trò là trung tâm kinh tế, tài chính, văn hoá, khoa học kỹ thuật của cả nước; ở mức đóng góp vào khoảng 1/5 GDP của cả nước
và 1/3 tổng thu ngân sách nhà nước Hơn nữa, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một vị trí địa
lý, kinh tế đặc biệt quan trọng như có hệ thống mạng lưới cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật và
xã hội đồng bộ; là nơi kết nối giao thông thuận lợi về đường bộ, đường sông, đường biển và hàng không giữa 2 miền Đông và Tây Nam bộ với khu vực Đông Nam Á, liên thông vào mạng lưới chung về giao thông với Châu Á và thế giới; ở giữa khu vực Đông Nam Á có các điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hoá, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh có tốc
độ phát triển kinh tế hàng hoá, dịch vụ nhanh nhất và ổn định nhất
Ngay từ những năm đầu thế kỷ 21, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chương trình hợp tác kết nối cung cầu giữa thành phố với các tỉnh và thành phố khác, đặc biệt trong khu vực Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Chính sự liên kết giữa thành phố
và các địa phương đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động Hiện Thành phố Hồ Chí Minh đã chú trọng phát triển
những ngành trọng tâm, mũi nhọn như: công nghệ cao, công nghệ thông tin, hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao… nỗ lực tạo tác động lan tỏa, gắn kết và hỗ trợ các tỉnh lân cận cùng phát triển theo định hướng chung (Nguyễn Thị Hồng, 2015) Tại tỉnh Long An, nhờ sự liên kết thông qua những chương trình xúc tiến thương mại và đầu tư, hàng hóa của tỉnh đã từng bước tham gia vào các hệ thống siêu thị và tạo đà cho xuất khẩu Ngược lại qua chương trình các nhà đầu tư ở thành phố cũng mở rộng cơ hội giao thương tại đây Theo số liệu khảo sát của ngành chức năng tỉnh, đến nay, trên địa bàn đã có hơn 100 doanh nghiệp thành phố đang đầu tư với tổng số vốn thực tế hơn 26.000 tỷ đồng Nhờ vậy những lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ… có bước chuyển mình và phát triển bền vững hơn Còn tại tỉnh Tây Ninh, chỉ tính
từ năm 2007 đến nay, đã có 82 doanh nghiệp của thành phố đến đầu tư qua 101 dự án, tổng
vốn lên đến hơn 17.000 tỉ đồng Mới đây cả 2 đã ký kết chương trình hợp tác giai đoạn 2014
- 2020 xác định xem hợp tác toàn diện về kinh tế-xã hội sẽ là nhiệm vụ chiến lược lâu dài của 2 địa phương góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
4 Gi ải pháp nâng cao vai trò của TP Hồ Chí Minh trong liên kết các tỉnh tại khu vực kinh t ế trọng điểm phía Nam
Thứ nhất, tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trên cơ sở liên kết vùng sẽ phát huy tính liên kết thực chất và là định hướng quan trọng để kinh tế trọng điểm phía Nam đột phá hơn nữa Đồng thời, cần rà soát, hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế từng vùng trên cơ sở lợi thế so sánh của từng địa phương, khắc phục không gian kinh tế bị chia cắt bởi địa giới hành chính Bên cạnh đó cần đánh giá sâu sắc sự phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, không chỉ so sánh với các địa phương trong cả nước, có điều kiện kém thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế mà còn với các trung tâm kinh tế khác của các nước ASEAN, Châu Á và thế giới về thể chế kinh tế, quản trị nhà nước, quản trị doanh nghiệp, hiệu quả đầu tư, năng suất lao động, mức độ sáng tạo, trình độ công nghiệp, các thị trường tài chính dịch vụ Trên cơ sở đó làm rõ hơn sự cần thiết phải đổi mới cơ chế, chính sách, thể chế nhằm cạnh tranh có hiệu quả, kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới
Thứ hai, xác định cụ thể những chủ trương, cơ chế chính sách cần phải triển khai cho vùng để đảm bảo vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thực sự là đầu tàu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế như NQ 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị Vùng phải như là địa bàn đột phá trong phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới Trong đó cần thảo luận
về khả năng ban hành chủ trương, cơ chế, chính sách, thể chế vượt trội, cạnh tranh với các trung tâm kinh tế khu vực ASEAN, Châu Á và trên thế giới Cần rà soát, làm rõ hơn định hướng kinh tế của vùng này theo hướng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn, công nghiệp sạch để không cạnh tranh với các vùng khó khăn về các loại hình đầu tư dựa vào lao động giá rẻ, thúc đẩy sự năng động hơn của
Trang 8các khu công nghiệp theo chiến lượng tăng trưởng mới của Đảng và Nhà nước; phát triển
dịch vụ chất lượng cao và hiện đại kết nối, cạnh tranh quốc tế phát triển dịch vụ thống nhất toàn vùng với các trung tâm logistic quốc tế hiện đại; nông nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến hình thành chuỗi nông nghiệp thực phẩm khép kín, hiện đại; tăng cường quan hệ
hợp tác, trao đổi thương mại, nghiên cứu và phát triển ứng dụng quốc tế, đối với phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm phía Nam mà còn góp phần quan trọng để hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh liên kết và phát triển kinh tế - xã hội các vùng khác trong phạm vi cả nước Cần hình thành không gian kinh tế vùng thống nhất, trong đó, cần đề xuất các cơ chế chính sách tăng cường liên kết vùng nhằm tạo ra một không gian kinh tế thống nhất toàn vùng trên cơ sở phối hợp quy hoạch, phát triển hạ tầng, chính sách đầu tư, liên kết công nghiệp và dịch vụ…
Thứ ba, bên cạnh đó, tăng cường các hoạt động hợp tác liên kết vùng để mở rộng khả năng tiếp cận thị trường; chú trọng liên kết với các tỉnh, nhất là các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long để tạo thành chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng và hiệu quả cao, tạo ra thế mạnh, sức lan toả để phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn
Thứ tư, trong Vùng cần hình thành các trung tâm khoa học, công nghệ sáng tạo trình
độ quốc tế, cần có nhiều sáng chế công nghệ, đóng góp khoa học công nghệ cao vào mô hình tăng trưởng; giữa các tỉnh, thành phố cần có sự phối hợp về chính sách, hệ thống dịch vụ công nâng cao vai trò của Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm, Ban Chỉ đạo Vùng
Thứ năm, làm tốt công tác quy hoạch bao gồm quy hoạch chung, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng để làm căn cứ thu hút FDI Cần tạo lập cơ chế, chính sách để thu hút mạnh
mẽ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hình thành và phát triển kinh tế vùng, ưu tiên tập trung vào các lĩnh vực thuộc thế mạnh của vùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm đảm bảo việc thực thi các quy hoạch này như: phải có kế hoạch đầu tư hạ tầng, cung cấp điện, nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực Làm tốt công tác quy hoạch sẽ giúp thu hút được dự án FDI
có chất lượng, theo đúng trọng tâm, trọng điểm và định hướng
Thứ sáu, về cơ chế chính sách, cần hoàn thiện cả về chiều dọc lẫn chiều ngang trong liên kết, bao gồm cả liên kết vùng kinh tế và liên kết trong thể chế bộ máy tổ chức Đối với liên kết theo chiều dọc, xác định rõ chủ thể, cấp bậc, trên dưới, quy định rõ chức năng nhiệm
vụ và các hoạt động chế tài đi kèm một cách rõ ràng minh bạch (tránh tình trạng hiểu “linh hoạt”, “mền dẻo” trong các văn bản pháp luật), nhằm đảm bảo tính nghiêm minh và không đùn đẩy trách nhiệm trong quá trình thực thi các văn bản pháp luật Đối với liên kết ngang (mang tính tự nguyện) cũng cần có khung văn bản điều chỉnh về lợi ích, cơ chế hợp tác làm
cơ sở để điều chỉnh và thực hiện phân định rõ ràng khi tham gia vào các hoạt động liên kết này Đối với các ngành công nghiệp nền tảng và những ngành công nghiệp có tính chất cần thiết, quan trọng đối với tất cả các lĩnh vực của quốc gia, là nền tảng của công nghiệp hoá Đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên cần có sự hỗ trợ của Nhà nước và
có cơ chế ưu đãi, đó là các ngành: công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế tạo, công nghiệp
tự động Cần tập trung vào vùng kinh tế có thế mạnh công nghiệp tiên phong, có khả năng dẫn dắt tạo bước đột phá và hỗ trợ các vùng khác về lĩnh vực này
Thứ bảy, cần phân bổ lại ưu tiên về nguồn lực công nghiệp nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển Đẩy mạnh công nghiệp hóa về giống, chọn công nghiệp hóa về giống là mũi nhọn ưu tiên đầu tư giúp chuyển biến về cách mạng nông nghiệp mà thành công ban đầu là cách mạng giống Ứng dụng tối đa khả năng sẵn có của công nghệ trên thế giới cho quy trình nghiên cứu phát triển giống, công nghiệp hóa về giống càng sớm càng tốt và cần
phải là tiên phong liên tục để chống lạc hậu và suy thoái nguồn lực đầu vào đối với sản xuất nông nghiệp tại các vùng trọng điểm nông nghiệp như vùng ĐBSCL, hay vùng ĐBSH (Đồng Bằng Sông Hồng) Quá trình phân bổ nguồn lực này, cần nghiên cứu kèm theo là việc phân
bổ lại nguồn lực nghiên cứu khoa học, thay vì phân bổ dàn trải đều cho các tỉnh thành, kinh phí phân tán, con người phân tán, công nghệ phân tán thì cần tập trung lại một đầu mối
Trang 9(ví dụ như: Thành phố Hồ Chí Minh có trung tâm công nghệ sinh học, chỉ cần tập trung vào
một đơn vị nghiên cứu, đầu tư tối đa về vật chất kỹ thuật, con người không nhất thiết tỉnh nào cũng phải có trung tâm tương tự)
5.K ết luận
Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định thúc đẩy phát triển công nghiệp để kinh tế của các huyện nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xoá đói giảm nghèo của người dân địa phương Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã chi hàng vạn tỷ đồng để xây dựng các công trình giao thông chính nối các quận, huyện, thị xã Để giúp giải quyết những thách thức về thu hút nguồn đầu tư, các chuyên gia đã đề xuất nhiều biện pháp như cải thiện môi trường kinh doanh; giảm chi phí “không chính thức” cho doanh nghiệp; khuyến khích ngành kinh doanh đầu tư vào khoa học và công nghệ và tận dụng cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư Một số ngành công nghiệp không phù hợp hoặc các doanh nghiệp có khả năng thích ứng thấp có thể bị loại bỏ Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục hoàn thành hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, cấp nước, điện và xử lý chất thải; đồng thời tạo đất cho các dự án, phát triển nguồn nhân lực Để có tính đồng bộ, hệ thống và vận hành nhịp nhàng nhằm đạt được mục tiêu cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế tiên tiến; quan hệ sản xuất tiến bộ; quốc phòng, an ninh vững chắc chúng ta cần xắp xếp và phân bổ theo vùng và cơ chế vùng cả về nguồn lực, vận hành, kiểm soát và tính thống nhất
Thế giới có nhiều mô hình liên kết vùng nhưng mô hình nào cũng cần có bộ máy và tài chính để triển khai chiến lược đã đề ra Do đó, cần có cơ chế cung cấp tài chính cho cơ quan điều phối vùng Bài viết tập trung đánh giá tầm quan trọng về vai trò của TP Hồ Chí Minh trong liên kết Đông Tây tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam về sự tương tác giữa các yếu tố kinh tế, môi trường, xã hội; cũng như các thách thức trong quá trình phát triển Qua đó, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư mới về phần đất nơi họ muốn và sẽ đầu tư, cũng như phân tán bớt các doanh nghiệp tập trung tại các khu dân cư, đô thị phía Nam Về lâu dài, không gian đô thị trung tâm sẽ được tạo ra theo cách hiện đại và văn minh để trở thành tâm điểm phát triển dịch vụ đô thị trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Điều này đồng nghĩa
sự quan tâm về phát triển bền vững lại tiếp tục đặt ra gánh nặng cho kinh tế tỉnh nhà đặc biệt
là TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu này là khởi đầu nhằm hướng tới với các tiêu chí đảm bảo phát triển bền vững nâng cao vai trò của TP Hồ Chí Minh trong liên kết Đông Tây tại khu
vực kinh tế trọng điểm phía Nam trong tương lai
Tài li ệu tham khảo:
[1.] Lê Thu Hoa (2007) Kinh tế vùng ở Việt Nam – Từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Lao động – Xã hội
[2.] Nguyễn Đình Luận và Lê Thục Lam (2017) Tổng Quan Về Thành Phố Hồ Chí Minh,
Kỷ yếu hội thảo Tìm kiếm các giải pháp kinh tế hữu hiệu, nhằm tạo bước phát triển đột phá cho Tp.HCM
[3.] Hùng Khoa (2017) Nâng cao liên kết vùng trong tái cơ cấu kinh tế, đổi mới tăng trưởng vùng kinh tế Đông Nam Bộ, truy cập từ http://www.qdnd.vn/kinh-te/tin-tuc/nang-cao-lien-ket-vung-trong-tai-co-cau-kinh-te-doi-moi-tang-truong-vung-kinh-te-dong-nam-bo-518887 [4.] Đề án “Quy hoạch Vùng TP Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn 2050”: truy xuất ngày 30/04/2018 từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Xay-dung-Do-thi/Quyet-dinh-2076-QD-TTg-2017-phe-duyet-Dieu-chinh-quy-hoach-xay-dung-Ho-Chi-Minh-370600.aspx [5.] Tổng cục thống kê http://www.gso.gov.vn
[6.] Cần thu hút FDI có chọn lọc, http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/5305/Can-thu-hut-FDI-co-chon-loc
[7.] Stoddart, H (2011) A Pocket guide to sustainable development governance Stakeholder Forum
Trang 10[8.] Strange, T and Bayley, A (2018) Sustainable Development - Linking economy, society, environment