Nguyễn Hoàng Tiến ĐH Thủ Dầu Một Dr Nguyen Hoang Tien Thu Dau Mot University Tóm t ắt: Bài viết này nhằm trình bày thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên của các trường đại học Việt N
Trang 1Developing Potential of University Lecturers
in Context of Education Reformation Challenged by Industrial Revolution 4.0
Phát huy năng lực của các giảng viên đại học trước bối cảnh cải cách giáo dục toàn diện do cách mạng công nghiệp 4.0
TS Nguyễn Hoàng Tiến
ĐH Thủ Dầu Một
Dr Nguyen Hoang Tien Thu Dau Mot University
Tóm t ắt: Bài viết này nhằm trình bày thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên của
các trường đại học Việt Nam và tìm kiếm các giải pháp cải thiện - phát triển đội ngũ này trong điều kiện hiện hữu trước những yêu cầu gay gắt về đổi mới toàn diện nền giáo dục và các thách thức đặt ra bởi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
T ừ khóa: cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập giáo dục quốc tế, cải cách giáo dục
Abstract: This article aims at presentation the current state of quality of faculty members in Vietnamese universities and proposes several solutions to improve and develop their potential within limited conditions and resources facing urgent needs to reform totally the country’s education system due to challenges posed by industrial revolution 4.0
Key words: industrial revolution 4.0, international integration, educational reform
1 Đặt vấn đề
Trong giáo dục và đào tạo, yếu tố quyết định về chất lượng đào tạo không phải
là cơ sở vật chất, mà chính là trình độ, kinh nghiệm và năng lực của đội ngũ giảng viên Nếu giáo dục vẫn còn là quốc sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là giáo dục
ở bậc đại học được coi là cầu nối trực tiếp người học với thị trường lao động đang ngày càng được hội nhập thì vai trò của đội ngũ giảng viên càng trở nên quan trọng
Trang 2và việc nâng cao chất lượng đội ngũ thực sự là một vấn đề cấp thiết và cần phải đặt lên hàng đầu trong chiến lược và chính sách phát triển giáo dục quốc gia
2 Phân tích so sánh thực trạng đội ngũ giảng viên của các trường đại học trong
và ngoài nước
Tại các trường đại học Việt Nam, đa phần các giảng viên đều chỉ có trình độ thạc sỹ, một khi hiện tại yêu cầu đầu vào đối với các giảng viên mới chỉ là bằng thạc
sỹ loại khá hoặc loại giỏi Trong quá trình công tác các giảng viên phải có nghĩa vụ học tập nâng cao trình độ (làm nghiên cứu sinh) để lấy bằng tiến sĩ nhưng không phải
ai cũng làm được Có rất nhiều lý do biện minh cho hiện trạng này mà không một ai công tác trong ngành giáo dục đại học lại không biết đến Thế cho nên tại các trường đại học trọng điểm nhất trên địa bàn cả nước thì tỉ lệ giảng viên là thạc sĩ vẫn luôn chiếm tỉ lệ áp đảo Tại các trường địa phương thì tỉ lệ giảng viên từ có trình tiến sĩ trở lên thấp hơn hẳn, thậm chí có trường có những ngành không có tiến sĩ Điều này sẽ dẫn đến mộ số hệ lụy mà nghiêm trọng nhất có thể kể đến là một khi số lượng những người có trình độ từ tiến sĩ trở lên quá ít, điều này khiến họ cảm thấy mình là những ngôi sao và nhà trường phải lệ thuộc vào họ để có thể phát triển (trên thực tế để mở được một ngành đào tạo bậc đại học hay cao học cần phải có một số lượng tiến sĩ nhất định là giảng viên cơ hữu nhà trường) Vấn đề tiếp theo của các trường đại học Việt Nam là quá trình thăng cấp từ tiến sĩ lên phó/giáo sư Để được thăng cấp các tiến
sĩ phải thực hiện nhiều đề tài và có nhiều công bố quốc tế Như ta biết, Việt Nam là một trong số những nước có số lượng tiến sĩ và công bố quốc tế ít nhất so với thế giới
và khu vực, do vậy rất khó để cho một tiến sĩ bảo vệ trong nước lên được phó giáo
sư, các tiến sĩ đi học nước ngoài tiếp cận với môi trường khoa học tiên tiến, giao lưu khoa học với các giáo sư hàng đầu của thế giới sẽ có nhiều lợi thế hơn trong công bố quốc tế
Ở các nước tiên tiến, yêu cầu về bằng cấp đối với giảng viên đại học là rất cao, khắc hẳn với môi trường doanh nghiệp bên ngoài ưu tiên kinh nghiệm hơn là trọng dụng bằng cấp Các giáo sư đầu ngành luôn có vị trí và tiếng nói nhất định trong xã hội, họ tự tạo áp lực công việc cho chính bản thân mình, áp lực phát triển cho những đồng nghiệp có kinh nghiệm trong nghiên cứu và giảng dạy ít hơn, có học hàm học
Trang 3vị thấp hơn và cho cả các sinh viên và nghiên cứu sinh Yêu cầu đầu vào đối với các
giảng viên đại học là phải có bằng tiến sĩ đối với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, y đa khoa hay chuyên khoa… Riêng đối với các ngành kinh tế, chính trị và xã hội, do tính phổ cập và đại trà, hầu hết yêu cầu đầu vào đối với các giảng viên là phải
có bằng tiến sĩ và sau tiến sĩ (post-doc) Chưa hết, những giảng viên này sẽ chỉ được
ký hợp đồng có thời hạn với nhà trường từ 5 đến 7 năm Trong thời gian này, họ phải tập trung vào nghiên cứu khoa học, liên tục công bố để hội tụ đầy đủ các điều kiện trở thành giáo sư hay chí ít là phó giáo sư Nếu không, đa phần họ sẽ phải rời khỏi môi trường giáo dục đại học và tìm kiếm công việc khác phù hợp hơn Các giáo sư đại học cũng cạnh tranh với nhau về số lượng nghiên cứu sinh được bảo vệ, chất lượng luận án, số và chất lượng các công trình nghiên cứu, công bố khoa học của họ
và của các nghiên cứu sinh họ hướng dẫn Nói chung vài trò và vị thế của các giáo sư tại các trường đại học rất lớn, vì họ là những người đã đạt được đỉnh cao của sự nghiệp, họ có nhiệm vụ hướng dẫn các nghiên cứu sinh và dẫn dắt các giảng viên là tiến sĩ để sau một thời gian nhất định trở thành đồng nghiệp thực thụ của mình (được phong hàm giáo sư/phó giáo sư) Một khoa của trường đại học nếu không có hợp đồng lao động dài hạn với vài chục giáo sư thì khó có thể được phép mở ngành và tuyển sinh vì tiến sĩ chưa được coi là lực lượng cán bộ khoa học nòng cốt của nhà trường
Phân tích trên cho ta thấy sự khác biệt về chất lượng và trình độ của đội ngũ giảng viên của các trường đại học trong và ngoài nước Sự khác biệt này bắt nguồn
từ trình độ dân trí, mức độ phát triển kinh tế-xã hội, nền tảng khoa học-công nghệ, môi trường, văn hóa và truyền thống đặc thù của mỗi quốc gia Trước khi đi sâu vào các giải pháp nhằm phát triển tiềm năng/năng lực của đội ngũ giảng viên đại học trong nước ta phải phân tích và tìm hiểu yêu cầu cũng như tính cấp bách của đổi mới giáo dục toàn diện trong bối cảnh hội nhập – hợp tác quốc tế và dưới sức ép của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra
3 Cách mạng công nghiệp 4.0 – thách thức và cơ hội tiềm ẩn
Thuật ngữ “cách mạng công nghiệp 4.0” hoặc “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 2011 tại hội chợ Hannover giới thiệu các chương trình công nghiệp 4.0, nhằm thúc đẩy ngành tự động hóa và cơ khí truyền
Trang 4thống của nước Đức Nhóm chuyên gia về công nghiệp 4.0 đã trình bày một loạt các khuyến nghị về hiện thực hóa các ngành công nghiệp 4.0 cho chính phủ liên bang Đức Các thành viên của nhóm chuyên gia này đã được công nhận như những người cha đẻ và là động lực đằng sau Industrie 4.01 [4] Theo Gartner, cách mạng công
nghiệp 4.0 xuất phát từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo trình chính phủ Đức năm 2013 “Industrie 4.0” kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, các chức năng và quy trình nội bộ [4]
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu ở nước Anh từ nửa cuối của thế kỷ
18 Đến nay đã có sự nhìn nhận thống nhất về ba cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy
ra, mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của quá trình sản xuất và sự thay đổi này được tạo ra bởi sự bứt tiến đột phá của khoa học và công nghệ [5] Cách mạng công nghiệp đầu tiên (1.0) sử dụng năng lượng nước và hơi nước để
cơ giới hóa sản xuất Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (2.0) diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để tiến hành sản xuất hàng loạt Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
ba (3.0) sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa quy trình sản xuất Hiện tại, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang nảy sinh từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm lu mờ ranh giới giữa thế giới vật lý, thế giới kỹ thuật số (thế giới ảo) và thế giới sinh học (thế giới của sự sống) Theo ông Klaus Schwab, tốc độ đột phá của cách mạng công nghiệp 4.0 hiện không có tiền lệ lịch sử Khi so sánh với ba cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cách mạng công nghiệp 4.0 đang tiến triển theo hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính hay hàm số nhân Hơn nữa, do tính liên ngành và với công nghệ thông tin
và truyền thông làm nền tảng, nó hiện đang phá vỡ hầu hết cấu trúc của các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia Nó báo trước sự chuyển đổi cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của toàn bộ hệ thống sản xuất, kinh doanh và quản trị trên phạm vi toàn cầu Bảng
1 trình bày cụ thể về nội dung của các cuộc cách mạng kể trên
Bảng 1 Các cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới
Cách m ạng
công nghi ệp M gian ốc th ời
N ội dung
1 Industrie – 4.0 tiếng Đức, Industry 4.0 – tiếng Anh
Trang 51.0 1820-1870 Giao thông vận tải
Động cơ hơi nước (cũng gọi là động cơ đốt trong) 2.0 1870-1913 Các ngành công nghiệp truyền thống (nông, công nghiệp
nặng, cơ khí, hóa chất, mỏ, luyện kim) tại các nước phát triển
Động cơ điện
3.0 1913-1950 Công nghệ mới như năng lượng, hàng không, vũ trụ,
công nghệ sinh học, kỹ thuật quân sự, công nghệ thông tin và truyền thông
Tin học hóa, tự động hóa
4.0 1950-hiện tại Tích hợp các công nghệ lại với nhau dựa trên nền tảng
công nghệ thông tin và truyền thông
-Mạng xã hội (Social Network)
-Trí tuệ nhân tạo và máy học (AI – Artificial Intelligence,
Machine Learning) -Internet của vạn vật (IoT – Internet of Things) -Dữ liệu lớn (Big Data)
-In 3D (3D Printer)
-Thực tế ảo (VR – Virtual Reality)
-Điện toán đám mây, điện toán nhận thức (Cloud and
Cognitive Computing) -Xe tự lái (Driveless cars), máy bay tự lái (Drones)
-Robot thông minh, nhà máy thông minh, đô thị thông
minh (Smart robot, factory and city)
-Đào tạo từ xa, viễn y (E-Learning, telemedicine)
Nguồn: [6], [7]
Hiện tại cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, một số các nước tiên tiến châu Á (Hàn Quốc, Nhật Bản) Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt Bảng 2 sẽ trình bày một số cơ hội và thách thức nổi bật liên quan đến cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với xã hội, các tổ chức và nền kinh tế
Bảng 2 Cơ hội và thách thức đến từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
1 Nhiều ngành nghề mới, cơ hội khởi nghiệp và
việc làm mới xuất hiện Tình trạng bất ổn, bất bình đẳng, mất cân bằng trên thị trường lao
động
2 Gia tăng năng suất lao động và sản xuất Tăng
trưởng kinh tế dựa trên mô hình kinh doanh mới Vấn đề đào tạo một nguồn nhân lực mới về chất hội tụ kỹ năng
và năng lực phù hợp
Trang 63 Cá nhân hóa ở mức cao, kết nối xã hội theo
những phương thức mới Thay đổi về cách thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng
4 Phát huy tính chủ động và tinh thần sáng tạo của
các cá nhân, các doanh nghiệp Các qumất đi lợi thế về lao động giá rẻ ốc gia đang phát triển sẽ
Nguồn: tác giả tổng hợp
Đối với những cơ hội và thách thức nêu trên, câu hỏi đặt ra cho các nhà nghiên cứu là chính phủ các nước, các doanh nghiệp và các nhà khởi nghiệp sẽ phải xử lý như thế nào để có thể thành công và giành được lợi thế cạnh tranh bền vững trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang cận kề Câu hỏi tiếp theo là vai trò của các trường đại học sẽ như thế nào đối với các chủ thể khác của nền kinh tế Chắc chắn các trường đại học cũng đều đứng trước những cơ hội và thách thức tương tự
4 Xu hướng hội nhập và hợp tác quốc tế giữa các trường đại học
Hợp tác quốc tế là xu hướng chủ đạo không chỉ trong kinh doanh ngày nay Các
tổ chức để tồn tại và phát triển cần phải hợp tác, liên kết chặt chẽ với nhau nhằm củng
cố thế mạnh và lợi thế cạnh tranh của mình Các trường đại học trên thế giới cũng không thuộc ngoại lệ Phần này sẽ đề cập tới xu hướng hội nhập và hợp tác quốc tế của các trường đại học Việt Nam, đặc biệt là khối các ngành sư phạm, những thách thức mà họ phải đối mặt, những khó khăn mà họ phải cố gắng vượt qua trong liên kết đào tạo để phát triển lớn mạnh và có tên trên bản đồ thương hiệu của các trường đại học trên toàn thế giới
Các trường đại học đào tạo các ngành khoa học kỹ thuật, kinh tế quản trị rất năng động trong vấn đề này bởi những thay đổi trong môi trường kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ đang diễn ra rất sôi động trên phạm vi toàn cầu Xem xét và phân tích thực trạng khối ngành kinh tế và kỹ thuật (STEM – Science, Technology, Engineer, Math) ta thấy đây là khối ngành năng động nhất trên thị trường với số lượng
du học sinh Việt Nam áp đảo và số lượng các chương trình liên kết với nước ngoài cũng gia tăng với tốc độ chưa từng thấy Xu hướng hợp tác quốc tế và liên kết đào tạo được thể hiện qua các chương trình MBA, các chương trình tiến tiến, chất lượng cao, cử nhân tài năng, kỹ sư tài năng được giảng dạy toàn phần hoặc bán phần bằng tiếng Anh để tạo cơ hội và điều kiện cho các giáo sư quốc tế tham gia giảng dạy, giao lưu và trao đổi kinh nghiệm học thuật với các sinh viên Việt Nam; qua việc cử các
Trang 7giảng viên trong nước đi đào tạo và bồi dưỡng ở nước ngoài và cử các chuyên gia nước ngoài đến tấp huấn cho các giảng viên Việt Nam [2]
Các trường đào tạo khối ngành sư phạm cũng sẽ phải thay đổi, ứng phó, thích nghi và tìm kiếm cơ hội phát triển trong bối cảnh hiện hành của xã hội và nền kinh tế hiện tại Ngành sư phạm là một ngành đặc thù, khác hẳn so với các khối ngành khác
kể trên Ngành sư phạm có nhiệm vụ đào tạo các giáo viên với sứ mệnh trồng người,
có đầy đủ năng lực dạy học tại các cơ sở giáo dục từ mầm non cho đến trung học phổ thông và đại học So với các ngành khác, ngành sư phạm, kể cả hệ thường xuyên hay văn bằng hai luôn có các đối tượng người học theo học tương đối đồng nhất, ít đa
dạng cả về nền tảng đào tạo từ trước (background), tuổi tác, thâm niên, kinh nghiệm
nghề nghiệp và mục đích học tập Có thể do tính hấp dẫn của ngành còn thấp liên quan đến cơ hội việc làm Thực tế cho thấy ít có ai đã là kỹ sư, bác sĩ, nghệ sĩ, doanh nhân lại học tiếp văn bằng hai hoặc cao học ngành sư phạm … để trở thành giáo viên với thu nhập ít ỏi và cơ hội thăng tiến trong nghề hạn hẹp [2]
Ở các nước phát triển cao như Tây Âu và Bắc Âu, nghề sư phạm là một niềm
mơ ước đổi với bao nhiêu thế hệ trẻ muốn trở thành giáo viên Chế độ đãi ngộ dành cho giáo viên cũng rất nhiều ưu đãi so với các ngành nghề khác Các giáo viên, đặc biệt là các giảng viên đại học có thời gian làm việc linh hoạt, được đãi ngộ thỏa đáng
và liên tục được nâng cao về trình độ chuyên môn để có thể thuyên chuyển lên các vị trí quản lý cao hơn Còn ở Việt Nam ngành sư phạm ít được đầu tư nhất và ít hấp dẫn sinh viên nhất, điều này gây ra khó khăn và thách thức lớn trong quá trình hợp tác và liên kết đào tạo quốc tế với thế giới, những nơi có những ưu ái đặc biệt dành cho ngành sư phạm - nền tảng cho sự phát triển giáo dục quốc gia kể từ cấp bậc thấp nhất
Tại Việt Nam sinh viên ngành sư phạm ra trường không biết làm gì, xin việc ở đâu,
và nếu có việc thì lại là công việc không mấy hấp dẫn, thu nhập không đủ sống và tái tạo sức lao động Thực tế những đợt tuyển sinh đại học quốc gia cho thấy, điểm chuẩn vào đại học sư phạm rất thấp, thấp hơn rất nhiều so với những ngành khác mà vẫn không tuyển sinh được khiến cho một số ngành đứng trước nguy cơ đóng cửa Ngay
cả khi nhà nước hoàn toàn miễn học phí cho sinh viên các ngành sư phạm thì tại hầu
hết các cơ sở giáo dục công lập tình hình vẫn không mấy cải thiện Đối mặt với những vấn đề nêu trên, việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế và liên kết đào tạo trở thành
Trang 8một điều hết sức khó khăn đối với các nhà hoạch định chính sách Câu hỏi đặt ra là tương lai của nền giáo dục nước nhà sẽ đi về đâu nếu ngành sư phạm không thu hút được sinh viên giỏi và không đào tạo ra được thế hệ các thầy cô giáo tâm huyết gieo mầm mống cho các thế hệ mai sau?
5 Giải pháp phát triển tiềm năng đội ngũ giảng viên trước yêu cầu đổi mới giáo
d ục toàn diện của hội nhập - hợp tác quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Làm thế nào để đưa giáo dục ở bậc đại học trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện còn nhiều hạn chế và bất cập nêu trên của Việt Nam Sau đây là một số hướng giải pháp được tác giả đề xuất nhằm nâng cao năng lực của các giảng viên đại học, điều được coi là yếu tố tiên quyết để các trường đại học có thể thực hiện tốt sứ mệnh và chức năng của mình trước những yêu cầu cấp bách của đổi mới giáo dục toàn diện, tận dụng những cơ hội và đối phó với những thách thức của xu hướng hội nhập - hợp tác quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra
a) Đối với đường lối, chiến lược và chính sách phát triển giáo dục đại học
Vi ệt Nam Nhà nước, Chính phủ và Đảng ta luôn ưu tiên cho giáo dục và
coi giáo dục là cốt sách, đặc biệt là giáo dục ở bậc đại học nơi được coi là cầu nối sinh viên với thị trường lao động Thế thực tế trên cho thấy nghề giáo viên đại học đều được coi là ít hấp dẫn nhất, các ngành sư phạm không phải là sự lựa chọn hàng đầu của học sinh trung học phổ thông và ít khi tuyển sinh đủ mặc dù nhà nước đã có những chính sách ưu đãi nhất định đối với cả nhà trường lẫn sinh viên Điều này cho thấy việc thực hiện đường
lối, chiến lược và chính sách trên gặp nhiều bất cập trong thực tiễn Nhà nước đã có đầu tư đáng kể nhưng quá dàn trải khiến cho những chính sách
ưu đãi khó phát huy tác dụng, khó được các đối tượng chính sách cảm nhận
rõ rệt Cần phải lựa chọn một số cơ sở giáo dục đại học thí điểm và đầu tư thật mạnh cho các cơ sở này để xã hội thấy được những hiệu quả rõ rệt như: cơ sở vật chất được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của giáo viên được nâng cao đáng kể, sinh viên ra trường được trang bị những kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp dễ dàng xin được việc làm hay được giữ
Trang 9lại trường để bổ sung cho đội ngũ giảng viên trẻ cũng là một lựa chọn không kém phần hấp dẫn Các cơ sở giáo dục còn lại có thể được phát triển theo hình thức hợp tác công tư (PPP – public private partnership) hoặc được giao cho khu vực tư nhân quản lý và chịu trách nhiệm thực hiện đúng chủ trương của Nhà nước
b) Đối với quản lý các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam Nhà nước thông
qua bộ Giáo dục và Đào tạo cần phải giám sát và quản lý chặt chẽ, quyết liệt hơn các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam, kiểm soát thường niên mỗi khi năm học mới bắt đầu để các cơ sở đào tạo kém chất lượng không
có cơ hội tồn tại; hạn chế tuyển sinh đối với các cơ sở giáo dục không đủ
về cơ sở vật chất, nguồn giảng viên không đủ về số lượng và trình độ, chương trình đào tạo không được cải tiến và cập nhật theo quy định Ở nước ngoài hiếm khi có chuyện Bộ giáo dục thanh tra đột suất các trường đại học vì cứ hàng năm vào đầu năm học Bộ luôn bắt các trường đại học phải báo cáo thường niên về 03 vấn đề của trường mình: cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo và căn cứ trên những thông tin đó Bộ
ra quyết định đình chỉ hay cho phép tuyển sinh đối với những ngành đã cấp phép đào tạo trong năm học đó
c) Đối với chương trình và phương pháp giảng dạy ở bậc đại học Để nâng
cao năng lực đội ngũ giảng viên đại học cần thiết phải đổi mới chương trình đào và cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo,
từ đó mới có thể hy vọng có được những thế hệ thầy cô giáo có năng lực trong số những sinh viên tốt nghiệp ra trường Bắt đầu từ cải cách toàn bộ
hệ thống giáo dục hiện tại đang được coi là thiên về lý thuyết và nặng tính giáo điều, nhằm hướng tới việc nuôi dưỡng những lối tư duy độc lập và sáng tạo Thay vì bắt buộc và thúc ép theo kiểu bệnh thành tích cần phải tổ chức quá trình đào tạo một cách phá cách nhằm phát hiện tài năng, thổi bùng đam mê và hoài bão, khơi dậy sự sáng tạo ở các thế hệ sinh viên, tạo động lực để họ có năng lực chủ động tự nắm bắt và áp dụng kiến thức mới
Về phương pháp giảng dạy, các trường đại học thường có xu hướng chuyển dịch từ các phương pháp thủ động (thuyết giảng, làm bài tập…), truyền
Trang 10thống sang các phương pháp chủ động (sử dụng e-learning, seminar, động não, học tập dựa trên dự án, học tập dựa trên giải quyết vấn đề…), hiện đại lấy người học, nhu cầu và sự phát huy năng lực của người học làm tâm điểm Thế nhưng mỗi một phương pháp giảng dạy đều có mặt mạnh mặt yếu cho nên cần phải cần phải triển khai các kỹ thuật giảng dạy để áp dụng linh hoạt và khai thác tối đa hiệu quả từng phương pháp nêu trên
d) Đối với xây dựng môi trường văn hóa trong các cơ sở giáo dục đại học
t ại Việt Nam Văn hóa của các cơ sở giáo dục bao hàm nhiều khía cạnh
khác nhau Những đối với việc phát triển và phát huy tiềm năng của các
giảng viên đại học cần phải xây dựng và phát huy những nhóm yếu tố mà hầu hết chưa thấy thể hiện mạnh mẽ, do những điều kiện hạn chế, ở các trường đại học Việt Nam như: văn hóa liên tục công bố các kết quả nghiên cứu khoa học (publish or perish); văn hóa liên tục học hỏi, nâng cao trình
độ và thăng cấp trong khoa học; văn hóa nâng đỡ và dìu dắt những thế hệ
đi sau Công bố là nhiệm vụ hàng đầu của các giảng viên đại học, tuy nhiên nhiều thầy cô có xu hướng ngại công bố vì sợ người khác thấy và phê phán cái sai cái yếu của mình Ở nước ngoài người ta công bố để nhận được sự góp ý, hoàn thiện hơn hoặc tốt nhất là cùng nhau phát triển tiếp tục công trình đó Ở các trường đại học nước ngoài việc thăng cấp lên các chức danh khoa học là rất quan trọng và là điều kiện bắt buộc đối với các giảng viên đại học Do đó họ phải cùng với (các) giáo sư đỡ đầu của mình vạch ra và cam kết thực hiện lộ trình đã định nhằm phát triển sự nghiệp khoa học của bản thân Điều này cũng cho thấy văn hóa nâng đỡ và dìu dắt của thế hệ trước đối với thế hệ sau, từ đó nâng tầm của cơ sở giáo dục nơi mà họ đang công tác
e) Đối với hội nhập và hợp tác quốc tế Liên kết và hợp tác quốc tế trở thành
điều vô cùng quan trọng Đối với các giảng viên đại học tại Việt Nam việc quan trọng và cấp bách nhất chính là làm nghiên cứu sinh (vì hầu hết các giảng viên Việt Nam đều chưa đạt được trình độ/học vị này) và công bố
quốc tế Việc hợp tác với các trường đại học tiên tiến, làm việc dưới sự dẫn dắt của các giáo sư đầu ngành nước ngoài, thông qua nhiều cách thức khác