Vì vậy, nếu lấy tên luật là Luật trọng tài thì phạm vi điềuchỉnh lại quá rộng; còn nếu lấy tên luật là Luật thủ tục giải quyết các tranh chấpcủa Trọng tài thương mại, thì lại không bao q
Trang 1Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2010
BÁO CÁO
GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ
DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội (tháng 11/2009) các vị đại biểu Quốc hội
đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Trọng tài thương mại Sau kỳ họp, dưới
sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đãphối hợp với Hội luật gia Việt Nam và các cơ quan hữu quan tổ chức nhiều hộinghị lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong nước và nước ngoài, tổ chứctiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật Ngày tháng 3 năm 2010, Văn phòngQuốc hội đã có Công văn số 472/VPQH-TH ngày 18 tháng 3 năm 2010 gửi xin ýkiến các Đoàn đại biểu Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Tính đếnngày 14 tháng 4 năm 2010, Văn phòng Quốc hội đã nhận được báo cáo đónggóp ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội Tiếp thu các ý kiến nêu trên, Ủy banthường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu ý kiến đại biểu Quốchội chỉnh lý dự thảo Luật Trọng tài thương mại như sau:
1 Về tên gọi của dự thảo Luật
Có ý kiến đề nghị lấy tên luật là Luật Trọng tài hoặc Luật thủ tục giảiquyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, tên gọi của Luật này được quyếtđịnh bởi phạm vi điều chỉnh của Luật và phạm vi thẩm quyền giải quyết tranhchấp của Trọng tài Vì vậy, nếu lấy tên luật là Luật trọng tài thì phạm vi điềuchỉnh lại quá rộng; còn nếu lấy tên luật là Luật thủ tục giải quyết các tranh chấpcủa Trọng tài thương mại, thì lại không bao quát hết được các nội dung của Luậtnày vì theo quy định của dự thảo Luật thì ngoài việc quy định trình tự, thủ tụctrọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài, thihành phán quyết trọng tài, phạm vi điều chỉnh còn quy định cả những nội dungkhác như: thẩm quyền của Trọng tài, hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, thẩmquyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài Như vậy, với phạm vi thẩm quyềngiải quyết tranh chấp của trọng tài được quy định trong luật này là những tranhchấp phát sinh chủ yếu từ hoạt động thương mại nên lấy tên gọi Luật Trọng tàithương mại là phù hợp
2.Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)
Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm củacác bên; về tổ chức trọng tài nước ngoài, trọng tài viên nước ngoài hoạt động tại
Dự thảo ngày 14/4/2010
Trang 2Việt Nam cho phù hợp với quy định tại Chương XII của dự thảo Luật vào phạm
vi điều chỉnh của dự thảo Luật
Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, đồng thời để phù hợp với nội dungcủa dự thảo Luật, Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật đượcchỉnh lý như sau: “Luật này quy định về thẩm quyền của Trọng tài, các hình thứctrọng tài, tổ chức trọng tài, Trọng tài viên; trình tự, thủ tục trọng tài; quyền,nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài; thẩm quyền của Tòa
án đối với hoạt động trọng tài, tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tạiViệt Nam, thi hành phán quyết trọng tài.”
3 Về phạm vi thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại (Điều 2)
Nhiều ý kiến đề nghị Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyếttranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp phát sinhgiữa các bên trong đó ít nhất một bên có liên quan đến hoạt động thương mại vàtranh chấp giữa các bên phát sinh không từ hoạt động thương mại nhưng đượcquy định ở các luật khác Có ý kiến đề nghị nên mở rộng phạm vi thẩm quyềncủa Trọng tài thương mại giải quyết cả các tranh chấp liên quan đến quyền và lợiích của các bên phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng,không phân biệt tranh chấp thương mại với dân sự, trừ một số tranh chấp liênquan đến các quyền nhân thân, quan hệ hôn nhân và gia đình, thừa kế, phá sản,bất động sản Một số ý kiến đề nghị chỉ nên quy định phạm vi thẩm quyền củaTrọng tài thương mại giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thươngmại theo quy định của Luật Thương mại năm 2005
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy loại ý kiến đề nghị Trọng tài thươngmại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt độngthương mại, tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có liênquan đến hoạt động thương mại và tranh chấp giữa các bên phát sinh không từhoạt động thương mại nhưng được quy định ở các luật khác là có cơ sở, phù hợpvới điều kiện, hoàn cảnh của hoạt động trọng tài ở nước ta hiện nay Bởi vì kháiniệm “hoạt động thương mại” được quy định tại Điều 2 dự thảo Luật có phạm vitương đối rộng, đã khắc phục được hạn chế về phạm vi thẩm quyền quy địnhtrong Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 Mặt khác, ở nước ta, phươngthức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài chưa phổ biến và chưa được nhiềungười quan tâm (Thực tiễn qua hơn 6 năm thi hành Pháp lệnh này mới có 07Trung tâm Trọng tài được thành lập, trong đó có 03 Trung tâm từ khi thành lậpđến nay chưa giải quyết được vụ việc nào, số vụ việc được giải quyết bằngTrọng tài mới có 280 vụ) Uy tín chuyên môn của Trung tâm trọng tài chưa cao.Theo Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Liên Hiệp Quốc vềLuật Thương mại quốc tế thì phạm vi điều chỉnh cũng chủ yếu được áp dụngtrong lĩnh vực thương mại quốc tế Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay chưa nên
mở rộng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài giải quyết cả các tranh chấp về dân
sự (theo loại ý kiến thứ hai) mà chỉ giới hạn thẩm quyền của Trọng tài thươngmại giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại theo quy địnhcủa Luật Thương mại năm 2005 và các trường hợp liên quan đến một bên có
Trang 3hoạt động thương mại và một số trường hợp được các luật khác quy định Mặtkhác nếu chỉ giới hạn phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tàitheo phạm vi khái niệm thương mại được quy định của Luật Thương mại năm
2005 (theo loại ý kiến thứ ba) thì sẽ không bảo đảm được tính thống nhất vàđồng bộ của hệ thống pháp luật Bởi vì, nhiều văn bản pháp luật hiện hành đãquy định những trường hợp tranh chấp tuy không phát sinh từ hoạt động thươngmại nhưng các bên được quyền lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp đó bằngtrọng tài, như Điều 208 của Bộ luật hàng hải Việt Nam, quy định về nguyên tắcxác định lỗi và bồi thường tổn thất trong tai nạn đâm va, Điều 12 của Luật Đầu
tư năm 2005 quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư,Điều 131 của Luật Chứng khoán quy định về giải quyết tranh chấp, Do đó cầnquy định các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật không phải là hoạtđộng thương mại nhưng được pháp luật khác quy định cũng được giải quyếtbằng trọng tài nếu các bên có thoả thuận như dự thảo Luật là phù hợp
4 Về giải thích từ ngữ (Điều 3)
Có ý kiến đề nghị bổ sung vào Điều này giải thích các khái niệm: “hoạtđộng thương mại”, “Trọng tài thương mại”,“Hiệp hội trọng tài”, “Trung tâm
trọng tài”, “Hội đồng trọng tài”, “Phán quyết trọng tài” Tuy nhiên, có ý kiến đề
nghị không sử dụng khái niệm “Phán quyết trọng tài” mà dùng khái niệm “Quyếtđịnh trọng tài” Có ý kiến đề nghị giải thích rõ hơn thuật ngữ “Trọng tài viên”;
đề nghị bỏ đoạn “Trọng tài viên Việt Nam phải có tiêu chuẩn quy định tại Điều
20 của Luật này.”
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy nội dung khái niệm “hoạt độngthương mại” đã được quy định trong Luật thương mại năm 2005, một số kháiniệm đã được quy định trong dự thảo Luật này như “Trọng tài thương mại”,
“Phán quyết trọng tài” được thể hiện tại khoản 1 và khoản 8 Điều 3; “Hiệp hộitrọng tài” được thể hiện tại Điều 23, “Trung tâm trọng tài” được thể hiện tạiĐiều 24, “Hội đồng trọng tài” được thể hiện tại các Điều 37 và 38 Vì vậy khôngcần phải bổ sung vào điều này, xin được giữ như quy định của dự thảo Luật
Về đề nghị không sử dụng khái niệm “Phán quyết trọng tài” mà dùng kháiniệm “Quyết định trọng tài”, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy Hội đồngtrọng tài sau khi được thành lập giải quyết vụ tranh chấp với địa vị pháp lý nhưmột cơ quan tài phán độc lập Trong quá trình tố tụng trọng tài, Hội đồng trọngtài có thẩm quyền ban hành nhiều quyết định khác nhau như: các quyết định về
tố tụng, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định giải quyếttoàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài Các quyết địnhnêu trên được gọi chung là quyết định trọng tài và được thi hành Tuy nhiên,Luật mẫu về Trọng tài thương mại Quốc tế của Ủy ban Liên hiệp quốc về LuậtThương mại quốc tế, Luật Trọng tài thương mại của nhiều nước trên thế giớiđều có sự phân biệt các quyết định của Hội đồng trọng tài Theo đó, quyết địnhcủa Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tốtụng trọng tài được gọi là phán quyết trọng tài Phán quyết trọng tài có hiệu lực
và được thi hành như bản án, quyết định của Tòa án Vì vậy, Ủy ban Thường vụQuốc hội thấy rằng sử dụng khái niệm “Phán quyết trọng tài” trong dự thảo Luật
Trang 4là để phân biệt giữa phán quyết cuối cùng của vụ việc với các quyết định kháccủa Hội đồng trọng tài Đồng thời, quy định như vậy cũng phù hợp với thông lệquốc tế và cũng không mâu thuẫn với pháp luật hiện hành của nước ta Vì vậy,
đề nghị cho giữ nguyên như quy định trong dự thảo Luật
Về đề nghị giải thích rõ hơn thuật ngữ “Trọng tài viên”; đề nghị bỏ đoạn
“Trọng tài viên Việt Nam phải có tiêu chuẩn quy định tại Điều 20 của Luật này”,cũng như giải thích các thuật ngữ khác như: “Địa điểm giải quyết vụ tranhchấp”, “Phán quyết của Trọng tài nước ngoài”, “Trọng tài nước ngoài”, dự thảoLuật đã được tiếp thu, chỉnh lý lại như sau:
“7 Địa điểm giải quyết vụ tranh chấp là nơi Hội đồng trọng tài tiến hànhgiải quyết vụ tranh chấp theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên hoặc do Hộiđồng trọng tài quyết định nếu các bên không có thỏa thuận
…
9 Phán quyết của Trọng tài nước ngoài là phán quyết được tuyên ở ngoàilãnh thổ Việt Nam của Trọng tài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết vụtranh chấp
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài còn bao gồm quyết định của trọng tàiđược tuyên tại lãnh thổ Việt Nam, nhưng không do Trọng tài Việt Nam tuyên10.Trọng tài nước ngoài là Trọng tài do các bên thỏa thuận lựa chọn thànhlập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài và quy tắc tố tụng trọng tàinước ngoài để tiến hành tố tụng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp ở ngoài lãnhthổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam.”
5 Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài (Điều 4)
Có ý kiến đề nghị chỉnh lý lại khoản 1 theo hướng “Trọng tài viên khigiải quyết tranh chấp phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật và không tráiđạo đức xã hội”; chỉnh lý lại khoản 3 theo hướng “giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài được tiến hành không công khai khi có yêu cầu của một trong hai bênđương sự”; đề nghị bỏ khoản 4 hoặc chỉnh lý lại theo hướng “phán quyết củaTrọng tài có hiệu lực sau mười lăm ngày nếu các bên không có ý kiến phátsinh”, “phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật” và đề nghị bổ sung quy định
“các bên phải được đối xử một cách công bằng và mỗi bên phải có cơ hội đầy đủ
để trình bày về vụ kiện”
- Về ý kiến đề nghị chỉnh lý lại khoản 1 theo hướng “Trọng tài viên khigiải quyết tranh chấp phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật và không tráiđạo đức xã hội”, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, đối với hoạt động trọngtài thì nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong quá trình tố tụng là phải tôn trọng sựthỏa thuận của các bên Hơn nữa, việc giải quyết tranh chấp tuân theo quy địnhcủa pháp luật như dự thảo Luật quy định đã bao hàm được nội dung không tráiđạo đức xã hội Vì vậy, xin được giữ như quy định của dự thảo Luật
- Về đề nghị chỉnh lý lại khoản 3 theo hướng “giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài được tiến hành không công khai khi có yêu cầu của một trong hai bênđương sự”, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, một trong những ưu điểm
Trang 5của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là mang tính bảo mật về thông tin, đặcbiệt là tranh chấp giữa các doanh nghiệp Hơn nữa, việc giải quyết bằng trọng tàikhác so với giải quyết bằng Tòa án là Tòa án xét xử vụ án theo nguyên tắc côngkhai Còn trọng tài tiến hành phiên họp giải quyết vụ tranh chấp không côngkhai trừ khi các bên có thỏa thuận khác Do đó, quy định tại khoản 3 thể hiệnđược nguyên tắc bí mật và tôn trọng ý chí của các bên Vì vậy, xin được giữ nhưquy định của dự thảo Luật.
- Về đề nghị bỏ khoản 4 hoặc chỉnh lý lại theo hướng “phán quyết củaTrọng tài có hiệu lực sau mười lăm ngày nếu các bên không có ý kiến phátsinh”, “phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật” và đề nghị bổ sung quy định
“các bên phải được đối xử một cách công bằng và mỗi bên phải có cơ hội đầy đủ
để trình bày về vụ kiện”, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, như giải trình ởphần trên, việc giải quyết bằng trọng tài được thực hiện do các bên lựa chọnTrọng tài viên, quy tắc tố tụng trọng tài được áp dụng nên các bên tranh chấphoàn toàn tin tưởng vào phán quyết của Trọng tài Hội đồng trọng tài không ápdụng nguyên tắc xét xử hai cấp như tại Tòa án Do đó, phán quyết trọng tài đượctuyên là chung thẩm Theo quy tắc tố tụng trọng tài, Hội đồng trọng tài có tráchnhiệm bảo đảm cho các bên bình đẳng trong tố tụng, được quyền trình bày ýkiến của mình về vụ tranh chấp,…Hơn nữa, nội dung này cũng được quy địnhtại Điều 32 khoản 1 Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban liênhiệp quốc về Luật thương mại quốc tế và tham khảo Luật trọng tài một số nướcnhư: Luật Trọng tài Anh (Điều 58 khoản 1) cũng có quy định tương tự Vì vậy,xin được giữ như quy định của dự thảo Luật
6 Về quy định Tòa án từ chối thụ lý vụ tranh chấp trong trường hợp
có thỏa thuận trọng tài (Điều 6)
Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định “trường hợp hai bên có thỏa thuậnlại, không yêu cầu trọng tài giải quyết nữa mà kiện tại Tòa án thì Tòa án phải thụ
lý giải quyết theo quy định của pháp luật”; đề nghị quy định cụ thể trường hợpnào “trọng tài không thể thực hiện được”
- Về đề nghị bổ sung quy định “trường hợp hai bên có thỏa thuận lại,không yêu cầu trọng tài giải quyết nữa mà kiện tại Tòa án thì Tòa án phải thụ lýgiải quyết theo quy định của pháp luật”, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy,khi hai bên có thỏa thuận lại không yêu cầu trọng tài giải quyết vụ tranh chấp mà
sẽ kiện ra Tòa án thì lúc này đã có thỏa thuận mới và thỏa thuận này đã thay thếthỏa thuận trọng tài của các bên trước đó Vì vậy, các bên có quyền khởi kiện vụ
án đó ra Tòa án và Tòa án có nghĩa vụ thụ lý vụ án theo quy định tại Điều này
- Về đề nghị quy định cụ thể trường hợp nào “thỏa thuận trọng tài khôngthể thực hiện được”, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, trong thực tế giảiquyết tranh chấp tại trọng tài những trường hợp mà “thỏa thuận trọng tài khôngthể thực hiện được” là rất đa dạng nên không thể liệt kê đầy đủ hết các trườnghợp trong Luật này được Khi trường hợp này xảy ra thì các bên phải có nghĩa
vụ chứng minh cho Hội đồng trọng tài biết Theo quy định tại Điều 43 của dựthảo Luật, Hội đồng trọng tài phải xem xét về thỏa thuận trọng tài không thể
Trang 6thực hiện được…trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp Quyết định của Hộiđồng trọng tài sẽ là căn cứ để Tòa án thụ lý vụ án đó Tuy nhiên, riêng đối vớitrường hợp Hội đồng trọng tài không thành lập được (có thể do Trung tâm trọngtài không còn tồn tại vì lý do đã chấm dứt hoạt động) thì các bên sẽ có nghĩa vụchứng minh về thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được trước Tòa án vàTòa án sẽ xem xét, quyết định việc thụ lý vụ án Vì vậy, xin được giữ như quyđịnh tại Điều 6 của dự thảo Luật (chỉ bổ sung một số nội dung tại Điều 43 chophù hợp).
7 Về xác định Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động của Trọng tài (Điều 7)
Có ý kiến đề nghị quy định lại Điều này cho rõ ràng hơn, phù hợp vớinguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụngdân sự
Tiếp thu ý kiến nêu trên, dự thảo Luật đã được chỉnh lý lại như sau:
“1 Trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận lựa chọn một Tòa án cụ thểthì Tòa có thẩm quyền là Tòa án được các bên lựa chọn
2 Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn Tòa án thì thẩmquyền của Tòa án được xác định như sau:
a) Đối với việc chỉ định trọng viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việcthì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhânhoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức Trong trường hợp có nhiều
bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của mộttrong các bị đơn đó;
Nếu bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền
là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn
b) Đối với việc thay đổi trọng tài viên thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa ánnơi Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp;
c) Đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài
về thẩm quyền thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài raquyết định;
d) Đối với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thì Tòa án có thẩm quyền làTòa án nơi có chứng cứ cần được thu thập;
đ) Đối với yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án
có thẩm quyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng;e) Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài
vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phánquyết trọng tài;
Trang 73 Trong trường hợp tài sản, người làm chứng và các chứng cứ ở nướcngoài thì Tòa án có thẩm quyền thực hiện việc ủy thác tư pháp được thực hiệntheo Luật Tương trợ tư pháp.
4 Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động của trọng tài quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương.”
8 Về xác định Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, phán quyết trọng tài (Điều 8)
Có ý kiến đề nghị sửa tên “Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương” thành tên “Cục thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương”
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, tên gọi “Cơ quan thi hành án dân
sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” được xác định tại Điều 13 của Luật thihành án dân sự Vì vậy, để đảm bảo việc sử dụng thống nhất thuật ngữ trong cácvăn bản luật và tính ổn định về tên gọi của cơ quan này thì nên được giữ như quyđịnh của dự thảo Luật
9 Về thương lượng, hòa giải trong tố tụng trọng tài (Điều 9)
Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “khuyến khích” và coi hòa giải là mộtnguyên tắc bắt buộc trong tố tụng trọng tài
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, khác với quá trình giải quyếttranh chấp bằng Tòa án, trong tố tụng trọng tài, không coi hòa giải là giai đoạnbắt buộc khi tiến hành giải quyết tranh chấp vì các bên có quyền lựa chọn Trọngtài viên và quy tắc tố tụng trọng tài Do đó, đề nghị không quy định trong dựthảo Luật về nguyên tắc hòa giải bắt buộc Tuy nhiên, trong tố tụng trọng tài vẫncoi trọng nguyên tắc tự do thương lượng và hòa giải kể từ khi trọng tài nhậnđược đơn đề nghị giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của các bên Vì vậy, đãđược chỉnh lý bổ sung một số nội dung tại Điều 38a (Điều mới) và Điều 57 chophù hợp
10 Về ngôn ngữ (Điều 10)
Có ý kiến đề nghị khoản 1 Điều 10 dự thảo Luật nên bỏ đoạn: “trừtrường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài” vì nội dung này đã được quy định tại khoản 2 Điều này
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài là một thành phần trong nền kinh tế nước ta, được tổ chức và hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp và các luật khác có liên quan Khoản 1 Điều 10 quy địnhđối với các tranh chấp không có yếu tố nước ngoài ngôn ngữ sử dụng trong tốtụng trọng tài là Tiếng Việt Theo quy định này thì tranh chấp không có yếu tốnước ngoài, mặc dù có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàivẫn phải sử dụng ngôn ngữ là Tiếng Việt Tuy nhiên, do trọng tài là hình thức tàiphán tư, do các bên tự thỏa thuận lựa chọn giải quyết nên trong trường hợp tranhchấp mà có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì nên
Trang 8quy định ngôn ngữ do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì do Hộiđồng trọng tài quyết định như quy định tại khoản 2 Điều 10 dự thảo Luật Vìvậy, để tránh mâu thuẫn giữa khoản 1 và khoản 2 Điều 10 thì khoản 1 Điều 10
dự thảo Luật cần thiết quy định: “trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên
là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” Vì vậy, xin được giữ như quy địnhcủa dự thảo Luật
11 Về địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (Điều 11)
Có ý kiến đề nghị quy định về địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọngtài như quy định tại Điều 7 của dự thảo Luật
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy địa điểm giải quyết tranh chấpbằng trọng tài có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tiến hành tố tụng trọng tài
và xác định phán quyết của Trọng tài có phải qua thủ tục được Tòa án công nhận
và cho thi hành hay không (phán quyết được Trọng tài tuyên ngoài lãnh thổ ViệtNam) Việc xác định địa điểm tiến hành tố tụng trọng tài không phụ thuộc vàonơi cư trú, nơi có trụ sở của các bên Do đó, việc xác định địa điểm giải quyết vụtranh chấp bằng trọng tài không thể áp dụng tương tự như việc xác định thẩmquyền của Tòa án nhân dân quy định tại Điều 7 của dự thảo Luật Vì vậy, xinđược giữ như quy định của dự thảo Luật
12 Về mất quyền phản đối (Điều 13)
Có ý kiến đề nghị bỏ Điều này; đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệmcủa các bên, về thời hạn cụ thể bị mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án;quy định rõ hơn thuật ngữ “mất quyền phản đối”
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, quy định này có ý nghĩa quantrọng đối với các bên nhằm bảo vệ quyền lợi của họ cũng như nhắc nhở các bênphải chủ động, kịp thời phát hiện các vi phạm của nhau trong tố tụng trọng tài đểyêu cầu Hội đồng trọng tài xử lý Hơn nữa, tham khảo Luật mẫu về trọng tàithương mại quốc tế của Ủy ban liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế (Điều4) cũng có quy định tương tự Vì vậy, cần thiết phải có quy định này trong Luậttrọng tài thương mại Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến đề nghị bổ sung quy định vềtrách nhiệm của các bên, về thời hạn cụ thể bị mất quyền phản đối tại Trọng tàihoặc Tòa án; đồng thời, quy định rõ hơn thuật ngữ “mất quyền phản đối”, dựthảo Luật được chỉnh lý lại như sau:
“Trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật nàyhoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài vàkhông phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mấtquyền phản đối tại trọng tài hoặc Tòa án.”
13 Về luật áp dụng giải quyết tranh chấp (Điều 14)
Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về việc áp dụng điều ước quốc tế khigiải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Tiếp thu ý kiến nêu trên, dự thảo Luật được bổ sung khoản 4 như sau:
Trang 9“Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên có quy định về luật áp dụng giải quyết tranh chấp, thì Hội đồng trọngtài áp dụng điều ước quốc tế đó.”
14 Về quản lý nhà nước về trọng tài (Điều 15)
a) Có ý kiến nhất trí với dự thảo Luật giao Bộ Tư pháp có trách nhiệmquản lý nhà nước về trọng tài và chịu trách nhiệm trước Chính phủ nhưng cầnquy định cụ thể hơn về chức năng của Bộ Tư pháp; bổ sung quy định về tráchnhiệm quản lý nhà nước về Trọng tài của cơ quan tư pháp địa phương giúp Bộ
Tư pháp quản lý hoạt động trọng tài trên địa bàn Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề
nghị giao trách nhiệm quản lý nhà nước về Trọng tài cho Trung tâm trọng tài
- Về đề nghị quy định cụ thể hơn chức năng của Bộ Tư pháp và bổ sungquy định trách nhiệm quản lý nhà nước về trọng tài của cơ quan tư pháp địaphương giúp Bộ Tư pháp quản lý hoạt động trọng tài trên địa bàn, Ủy banthường vụ Quốc hội nhận thấy dự thảo Luật đã quy định nội dung quản lý nhànước về Trọng tài, trách nhiệm của Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước vềTrọng tài và quy định Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về Trọng tài Đồng thời, trong dự thảo Luật cũng cóquy định về chức năng của Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngthực hiện một số nhiệm vụ nhất định (như quy định tại Điều 29 của dự thảo Luật
về cấp giấy phép, đăng ký hoạt động cho Trung tâm trọng tài; tiếp nhận các báocáo hàng năm của Trung tâm trọng tài, của Chi nhánh và của Văn phòng đại diệncủa Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam theo quy định tại khoản 9 Điều
29, khoản 15 Điều 75 và khoản 10 Điều 76 của dự thảo Luật Quy định nguyêntắc chung như trong dự thảo Luật là phù hợp Còn việc quy định và hướng dẫnchi tiết thực hiện các chức năng cụ thể của Bộ Tư pháp, trách nhiệm thực hiệnquản lý nhà nước về Trọng tài của các cơ quan tư pháp địa phương sẽ được quyđịnh trong Nghị định của Chính phủ Tuy nhiên, để có cơ sở cho Chính phủ quyđịnh và hướng dẫn thi hành, dự thảo Luật được bổ sung thêm khoản 4 tại Điều
15, cụ thể là: Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện một sốnhiệm vụ theo quy định của Chính phủ và quy định tại Luật này
- Về đề nghị giao trách nhiệm quản lý nhà nước về Trọng tài cho Trungtâm trọng tài, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, nguyên tắc thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước ở nước ta được giao cho cơ quan nhà nước tiến hành.Trong khi đó, Trung tâm trọng tài là tổ chức nghề nghiệp được thành lập (bởicác sáng lập viên là Trọng tài viên và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp giấy phépthành lập) Vì vậy, nếu giao cho Trung tâm trọng tài thực hiện chức năng quản lýnhà nước thì sẽ không phù hợp với nguyên tắc quản lý của Nhà nước ta Do đó,xin được giữ như quy định của dự thảo Luật
b) Có ý kiến đề nghị không giao Bộ Tư pháp thực hiện chức năng bồi dưỡng,đào tạo Trọng tài viên (như quy định tại điểm c khoản 1 Điều này) vì thực tế Bộ Tưpháp thực hiện việc này không hiệu quả, không đúng yêu cầu Việc bồi dưỡng, đàotạo Trọng tài viên nên giao cho các Trung tâm trọng tài hoặc Hiệp hội trọng tài
Trang 10Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật được chỉnh lý lại theohướng không quy định chức năng tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng Trọng tài viêncho Bộ Tư pháp mà Bộ Tư pháp chỉ nên thực hiện chức năng “hướng dẫn việcđào tạo, bồi dưỡng Trọng tài viên” Việc đào tạo, bồi dưỡng Trọng tài viên giaocho Trung tâm trọng tài Quy định như vậy vừa phù hợp với thực tiễn hoạt độngcủa Trọng tài vừa phù hợp với thông lệ quốc tế và tính chất của Tổ chức trọngtài Các Trung tâm trọng tài, Hiệp hội trọng tài là tổ chức xã hội – nghề nghiệp,các tổ chức này được toàn quyền tự chủ trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡngTrọng tài viên cho tổ chức mình.
c) Có ý kiến đề nghị bổ sung vào Điều này một khoản quy định Viện kiểmsát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hoạtđộng trọng tài thương mại; đề nghị quy định Trung tâm trọng tài phải gửi cácphán quyết cho Viện kiểm sát nhân dân nơi Trung tâm trọng tài hoạt động
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, theo quy định của Luật tổ chức Việnkiểm sát nhân dân thì Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát các hoạt động
tư pháp Trong khi đó, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thuộc hình thức giảiquyết tranh chấp bằng tài phán tư Trọng tài không phải là cơ quan tư pháp như Tòa
án Do đó, hoạt động tố tụng của Trọng tài không phải là hoạt động tư pháp nênkhông thuộc phạm vi chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân Việc tham giacủa Tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài cũng chỉ giới hạn đối với một số loạiviệc nhất định khi có yêu cầu Hơn nữa, theo quy định của dự thảo Luật thì phánquyết trọng tài là chung thẩm mà không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tựphúc thẩm Do đó, việc tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực hoạtđộng trọng tài thương mại cũng chỉ nên giới hạn ở những hoạt động mà có sự thamgia của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài như quy định của dự thảo Luật, đó
là trong trường hợp Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tòa
án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Đối với trường hợp này, dự thảo đãquy định cụ thể trách nhiệm cung cấp hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp Hơn nữa,thông lệ quốc tế cũng không quy định trách nhiệm của cơ quan công tố đối với hoạtđộng của Trọng tài Vì vậy, xin được giữ như quy định của dự thảo Luật
15 Về hình thức thỏa thuận trọng tài (Điều 16)
Có ý kiến đề nghị chuyển khoản 1 Điều 16 vào cuối khoản 2 Điều 3 khi giảithích khái niệm “Thỏa thuận trọng tài”
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, Điều 16 quy định về hình thức thỏathuận trọng tài theo đó, thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điềukhoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng Còn tại khoản
2 Điều 3 lại chỉ giải thích thế nào là “thỏa thuận trọng tài” Vì vậy, xin được giữnhư quy định của dự thảo Luật vì đây là hai nội dung khác nhau
16 Về tiêu chuẩn Trọng tài viên (Điều 20)
a) Về việc quy định cụ thể tiêu chuẩn Trọng tài viên: nhiều ý kiến tán
thành với quy định của Dự thảo Luật quy định cụ thể về tiêu chuẩn của Trọng tàiviên Ý kiến này cho rằng, quy định như vậy phù hợp với thực tiễn của ViệtNam và giúp cho việc quản lý nhà nước về trọng tài được chặt chẽ; có ý kiến đề