137 NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG TỪ ĐA NGHĨA TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN VỚI ĐỘNG TỪ CHẠY TRONG TIẾNG VIỆT PHẦN 2: ĐA NGHĨA LÀ KẾT QUẢ CỦA HÒA TRỘN Ý NIỆM CÁC HẰNG TỐ THAM GIA TỔ CHỨC
Trang 1NGÔN NGỮ VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH GIAO LƯU, HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
HỘI THẢO NGỮ HỌC TOÀN QUỐC 2019
BÌNH DƯƠNG 7-6-2019 TẬP 2
NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ
HÀ NỘI
Trang 3BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO
1 PGS TS Nguyễn Văn Hiệp, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Thủ Dầu Một, Đồng Trưởng ban
2 GS TS NGND Lê Quang Thiêm, Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học VN, Đồng Trưởng ban
BAN TỔ CHỨC
1 PGS TS Hoàng Trọng Quyền, Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Đồng Trưởng ban
2 PGS TS Phạm Văn Tình, Tổng Thư kí Hội Ngôn ngữ học VN, Đồng Trưởng ban
3 ThS Đặng Kim Dung, Trưởng phòng Trị sự tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống - Hội Ngôn ngữ học
6 PGS TS Nguyễn Xuân Hòa, Phó Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Hà Nội, Uỷ viên
7 Ông Phạm Công Luận, Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Uỷ viên
8 GS TS Nguyễn Văn Khang, Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống - Hội Ngôn ngữ học
VN, Uỷ viên
9 ThS Lê Thị Kim Oanh, Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Uỷ viên
10 CN Đào Minh Phương, Trưởng phòng Hành chính - Tổng hợp, Hội Ngôn ngữ học VN, Ủy viên
11 ThS Nguyễn Thị Băng Thanh, Phó Tổng Thư kí Hội Ngôn ngữ học VN, Ủy viên
12 TS Tạ Anh Thư, Giám đốc Chương trình Ngữ văn, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
13 TS Trần Văn Trung, Trưởng phòng Khoa học, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
BAN NỘI DUNG
1 PGS TS Phạm Văn Tình, Tổng Thư kí Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Trưởng ban
2 ThS Đặng Kim Dung, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Ủy viên
3 PGS TS Phạm Văn Hảo, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Ủy viên
4 GS TS Nguyễn Văn Khang, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Ủy viên
5 CN Đào Minh Phương, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Ủy viên Thư kí
6 GS TS La Huệ Cẩm, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
7 PGS TS Hoàng Quốc, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
8 TS Tạ Anh Thư, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
9 TS Lê Thanh Hòa, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
10 TS Hồ Xuân Tuyên, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
Trang 4BAN BIÊN TẬP KỈ YẾU
1 ThS Phạm Văn Thịnh, Trưởng ban Xuất bản, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Trưởng ban
2 PGS TS Phạm Văn Tình, Hội Ngôn ngữ học VN, Phó Trưởng ban
3 PGS TS Phạm Văn Hảo, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, Ủy viên
4 TS Trương Thị Thu Hà, Viện Từ điển học và Bách khoa thư VN, Ủy viên
5 TS Phạm Hiển, Viện Ngôn ngữ học, Ủy viên
6 PGS TS Nguyễn Xuân Hoà, Hội Ngôn ngữ học Hà Nội, Ủy viên
7 PGS TS Ngô Hữu Hoàng, Trường ĐH Thăng Long, Ủy viên
8 TS Phạm Thuý Hồng, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn - ĐHQG HN, Uỷ viên
9 ThS Đào Văn Hùng, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn - ĐHQG HN, Uỷ viên
10 TS Dương Xuân Quang, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn - ĐHQG Hà Nội, Ủy viên
11 PGS TS Tạ Văn Thông, Viện Từ điển học và Bách khoa thư VN, Ủy viên
12 ThS Bùi Thị Tiến, Viện Từ điển học và Bách khoa thư VN, Ủy viên
13 TS Lê Văn Trường, Viện Từ điển học và Bách khoa thư VN, Ủy viên
4 ThS Đặng Kim Dung, Trưởng phòng Trị sự tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, Uỷ viên
5 ThS Nguyễn Ngọc Hiền, Phó Trưởng phòng Hành chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
6 ThS Danh Hứa Quốc Nam, Phó Trưởng phòng Khoa học, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
7 CN Đào Minh Phương, Trưởng phòng Hành chính - Tổng hợp, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam,
Uỷ viên
8 ThS Nguyễn Thị Băng Thanh, Phó Tổng Thư kí Hội Ngôn ngữ học VN, Uỷ viên
9 CN Phạm Nguyễn Thanh Tú, Trợ lí khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Ủy viên
Trang 5 LỜI NÓI ĐẦU 1
PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO NGỮ HỌC TOÀN QUỐC
LẦN THỨ 21
PGS TS Nguyễn Văn Hiệp 3
ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC “NGÔN NGỮ VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH GIAO LƯU, HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN”
GS TS Lê Quang Thiêm 7
Ban A NGÔN NGỮ HỌC VÀ VIỆT NGỮ HỌC
HÀNH ĐỘNG CHỈNH SỬA DO NGƯỜI NÓI THỰC HIỆN TRONG LỜI CHỈNH SỬA
DO NGƯỜI NGHE KHỞI XƯỚNG, NGƯỜI NÓI CHỈNH SỬA (OTHER INITIATED, SELF REPAIR) TRONG GIAO TIẾP HỘI THOẠI TIẾNG VIỆT
Trần Thùy An 12
NĂNG LỰC HỘI THOẠI TRONG GIAO TIẾP TỰ NHIÊN
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
Bùi Thị Ngọc Anh 21
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG NGHE NÓI CỦA TRẺ NGHE KÉM Ở HÀ NỘI SAU
MỘT NĂM SỬ DỤNG ỐC TAI ĐIỆN TỬ
Văn Tú Anh 31
ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG MỘT SỐ MÔ HÌNH CÂU TIẾNG VIỆT
Dương Hữu Biên 42
THÀNH NGỮ ĐỒNG NGHĨA BIỂU TRƯNG TRONG TIẾNG VIỆT
Hoàng Trọng Canh 56
Trang 6 CÁC LƯỢC ĐỒ TÌNH HUỐNG TRONG THẾ GIỚI ĐỘNG LỰC HỌC
Dương Hữu Biên - Phan Thị Thúy 62
XÂY DỰNG KHO NGỮ LIỆU NGÔN NGỮ TRẺ EM
(GIAI ĐOẠN TỪ 12 THÁNG TUỔI ĐẾN 36 THÁNG TUỔI):
MỘT THỬ NGHIỆM ĐA THỨC
Trần Linh Chi - Phạm Hiển 75
XƯNG HÔ CỦA BỘ ĐỘI CỤ HỒ THỜI KÌ CHỐNG MỸ
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VAI GIAO TIẾP
Nguyễn Thị Hồng Chuyên 85
XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP DẠY CÂU KỂ BẰNG CÁC HÌNH THỨC MỚI
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
Cao Thị Diệu, Lê Thị Mỹ Hương,
Nguyễn Thị Ngọc Nhiều, Phạm Ngọc Yến 95
LÝ THÚ NGHĨA CỦA TỪ HÁN VIỆT XƯA VÀ NAY
CHỈ TỪ TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
Lê Hoàng Giang 137
NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG TỪ ĐA NGHĨA TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC
TRI NHẬN (VỚI ĐỘNG TỪ CHẠY TRONG TIẾNG VIỆT)
PHẦN 2: ĐA NGHĨA LÀ KẾT QUẢ CỦA HÒA TRỘN Ý NIỆM
CÁC HẰNG TỐ THAM GIA TỔ CHỨC NGỮ NGHĨA
CỦA CÂU NHÂN QUẢ TIẾNG VIỆT ĐƯỢC BIỂU HIỆN BẰNG QUAN HỆ TỪ
Nguyễn Thị Thu Hà 180
Trang 7 ẨN DỤ Ý NIỆM ‘CON NGƯỜI LÀ HÀNG HÓA’
TRONG CÁC TIÊU ĐỀ BÁO CHÍ THỂ THAO TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thị Bích Hạnh 193
TỪ THUẦN VIỆT TRONG CÁCH SỬ DỤNG CỦA NHÀ BÁO HỮU THỌ
- NHỮNG GỢI MỞ VỀ CÁCH SỬ DỤNG TỪ THUẦN VIỆT
TRONG PHONG CÁCH BÁO CHÍ
Đặng Mỹ Hạnh 201
KHẢ NĂNG BIẾN ĐỔI CỦA VỊ TỪ BA DIỄN TỐ
TRONG PHÁT NGÔN TIẾNG VIỆT
Đỗ Thị Hiên 210
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ ĐIẾC LỚP MỘT
NHÌN TỪ ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH TIẾNG VIỆT
Đỗ Thị Hiên - Phạm Thị Ngọc - Nguyễn Thị Thanh Tâm 216
VỀ THUYẾT PHA TRỘN Ý NIỆM VÀ SỰ PHA TRỘN Ý NIỆM
MIỀN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thị Hiền 224
ĐẶC ĐIỂM LẬP LUẬN TRONG DIỄN NGÔN CHẤT VẤN
CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI (KHÓA XI- XIV)
Lương Thị Hiền - Nguyễn Thảo Quỳnh 231
MỐI QUAN HỆ GIỮA VAI XÃ HỘI VÀ VAI GIAO TIẾP
CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ CÔNG AN NHÂN DÂN
Nguyễn Thị Thúy Hiền 240
TRẬT TỰ TỪ TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC NHÌN CỦA NGỮ PHÁP
CHỨC NĂNG HỆ THỐNG NHƯ LÀ PHƯƠNG TIỆN BIỂU ĐẠT TÌNH THÁI
Nguyễn Văn Hiệp 251
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG GIẢNG DẠY
DỰA TRÊN NỘI DUNG NGÀNH/ CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Chí Hòa - Thành Nguyễn 260
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGỮ NGHĨA
Nguyễn Thị Thu Hòa 270
ĐỐI CHIẾU CÁC ĐƠN VỊ CÓ YẾU TỐ “XANH” TRONG TIẾNG VIỆT
VÀ TỪ “GREEN”, “BLUE” TRONG TIẾNG ANH\
Phạm Thị Thúy Hồng - Đào Huyền Trang 277
BÁO PHỤ NỮ TÂN VĂN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÂU
Bùi Thị Thanh Hương 285
Trang 8 SỰ CHUYỂN NGHĨA CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG
CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thị Thanh Hương 293
CÁC PHÉP LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ TẠO MẠCH LẠC
TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN \
Tống Thị Hường 302
DẠY BÀI TỪ VÀ CẤU TẠO TỪ CỦA TIẾNG VIỆT
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 6
Hồ Hương Huyền 311
CẤU TRÚC NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ MÙI TRONG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thị Huyền - Phạm Hùng Việt 318
TIẾNG VIỆT: MỘT SỐ THÓI QUEN VÔ Ý VÀ VÔ LÝ TRONG ĐỜI SỐNG
VÀ TRONG CÁC PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG
Đình Hy 326
HIẾN ĐỊNH NGÔN NGỮ QUỐC GIA VÀ VIỆC XÂY DỰNG
“LUẬT NGÔN NGỮ QUỐC GIA” Ở VIỆT NAM
Nguyễn Văn Khang 334
VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG NGỮ PHÁP – NGỮ NGHĨA CỦA TỪ “ĐÔ
Đỗ Phương Lâm 342
ẨN DỤ Ý NIỆM “TÌNH YÊU LÀ MÀU SẮC” TRONG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thị Liên 346
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGOẠI LAI TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ
Hoàng Thị Tường Linh 354
LỖI NGÔN NGỮ TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐẾN THỤ ĐẮC CẤU TRÚC CHỦ ĐỘNG
- BỊ ĐỘNG Ở HỌC SINH VIỆT NAM HỌC TIẾNG ANH
Trương Ngọc Tường Linh 365
KẾT TRỊ BỊ ĐỘNG CỦA ĐỘNG TỪ: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỘNG TỪ
TRONG CHỨC NĂNG BỔ NGỮ
Nguyễn Văn Lộc - Nguyễn Mạnh Tiến 381
ĐỘNG TỪ CHUYỂN ĐỘNG CÓ HƯỚNG TRONG TIẾNG VIỆT
DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGỮ NGHĨA HỌC TRI NHẬN\
Hoàng Tuyết Minh 393
HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ KHEN VỚI VIỆC BIỂU THỊ LỊCH SỰ
TRONG PHỎNG VẤN BÁO CHÍ
Phạm Thị Tuyết Minh 407
Trang 9 VẤN ĐỀ XỬ LÍ TỪ NGỮ, TÊN RIÊNG NƯỚC NGOÀI
TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN NAY
Hà Quang Năng - Hà Thùy Dương 415
DIỄN THUYẾT LẤY NGƯỜI NÓI LÀM TRUNG TÂM HAY DIỄN HUYẾT
LẤY NGƯỜI NGHE LÀM TRUNG TÂM?
Nguyễn Thị Hằng Nga 429
ẨN DỤ Ý NIỆM CON NGƯỜI LÀ LẠNH TRONG TIẾNG VIỆT
Trần Thanh Nga 440
TÌM HIỂU BIỂU THỨC NGÔN NGỮ ĐỊNH DANH
TRƯỜNG HỌC NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Nguyễn Thị Hồng Ngân - Trần Thị Mỹ Hạnh 448
NGHĨA TÌNH THÁI CỦA CÂU DƯỚI BẬC TIẾNG VIỆT
Trịnh Quỳnh Đông Nghi 456
TIẾNG ĐAN ÂM - TIẾNG VỊ VIỆT
NGỮ NGHĨA CỦA TRẬT TỰ THÀNH PHẦN CÂU TIẾNG VIỆT1
Dương Xuân Quang 481
CƠ SỞ NHẬN DIỆN CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ TRONG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Tú Quyên 491
NGUYÊN ÂM “A” TRONG CÁC VẦN “ANH/ACH”
LÀ MỘT BIẾN THỂ CỦA ÂM VỊ /E/
Phan Thanh Tâm 499
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Nguyễn Thị Như Thanh 505
SỰ BẤT TƯƠNG THÍCH CỦA THAM TỐ TRONG CẤU TRÚC KHUNG VỊ TỪ
TRẠNG THÁI
Hoàng Thị Thắm 513
PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH TRONG HỆ THỐNG ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH
VEN BIỂN QUẢNG BÌNH, QUẢNG TRỊ VÀ THỪA THIÊN HUẾ
Hoàng Tất Thắng 519
Trang 10 BÀN VỀ CÁC “KHUÔN NGÔN NGỮ”
Phạm Tất Thắng 526
VỀ CÁCH PHÂN TÍCH THÀNH TỐ NGHĨA TỪ VỰNG
Lê Quang Thiêm 531
DẠY HỌC BIỆN PHÁP TU TỪ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
Trần Thị Lam Thủy 541
RANH GIỚI GIỮA LỊCH SỰ VÀ BẤT LỊCH SỰ QUA HÀNH VI PHÊ BÌNH
TRONG HỘI THOẠI TIẾNG VIỆT
Phan Thị Thanh Thủy 550
VAI TRÒ CỦA TIẾNG VIỆT TRONG GIAO TIẾP
VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Nguyễn Hoàng Tiến 558
TỪ ĐẶC ĐIỂM TIẾNG VIỆT NHÌN LẠI THÀNH PHẦN CÂU
Nguyễn Thị Minh Trang - Phan Văn Hòa 564
NGÔN NGỮ CỦA QUẢNG CÁO TRÊN GIA ĐỊNH BÁO
Nguyễn Thị Phương Trang 572
CẤU TRÚC VĂN BẢN VÀ CẤU TRÚC LẬP LUẬN
TRONG VĂN BẢN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Phạm Văn Tình - Đào Văn Hùng 582
MỐI QUAN HỆ GIỮA KẾT TRỊ VỚI ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ
Bùi Minh Toán - Lê Thị Lan Anh 589
QUAN HỆ GIỮA NGỤY BIỆN VỚI NGỘ BIỆN VÀ LẬP LUẬN
TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT
Trần Thị Hương Trà - Nguyễn Văn Thạo 596
TỪ NHƯNG VÀ NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA NÓ TRONG TIẾNG VIỆT
Lê Huyền Trang 603
SỰ LỰA CHỌN NGÔN NGỮ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ -
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐỘNG CƠ SỬ DỤNG
Đỗ Thùy Trang 614
YẾU TỐ MỜ NGHĨA, MẤT NGHĨA TRONG CÁC TỪ PHỨC TIẾNG VIỆT
Hồ Văn Tuyên 622
Trang 11 THUẬT NGỮ THƯ VIỆN VĂN PHÒNG DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC
Trần Thị Kim Tuyến - Phạm Thị Đoan Trang
Tống Thị Khánh An 629
ĐÃ, RỒI, ĐÃ… RỒI VÀ SỰ BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA THỂ TRONG TIẾNG VIỆT
Lê Thị Cẩm Vân 636
Ban B BẢN NGỮ VÀ NGOẠI NGỮ
TÌNH THÁI TRONG HÀNH ĐỘNG HỎI TIẾNG ANH
THỂ HIỆN Ở CÂU MỆNH LỆNH
Nguyễn Thị Vân Anh 644
CẤU TRÚC MANG NGHĨA BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG NGA
(SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
Trương Văn Ánh 651
ĐỐI CHIẾU ĐỘNG TỪ ĐỒNG NGHĨA TRONG TIẾNG ANH
VÀ TIẾNG VIỆT TRÊN CƠ SỞ CẤU TRÚC THAM TỐ
Trần Thị Lệ Dung 665
TỔNG THUẬT NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG CHUYỂN LOẠI TỪ DANH TỪ
SANG TÍNH TỪ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN
Dương Thị Dung 676
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU TỤC NGỮ TIẾNG HÀN
CÓ YẾU TỐ CHỈ CON GIÁP (LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)
Nguyễn Thùy Dương - Hoàng Thị Yến 685
NGỮ NGHĨA CỦA LÊN – XUỐNG VÀ CÁC HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT
TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG ANH
Nguyễn Quỳnh Giao 720
NGUYÊN MẪU VÀ PHÁT TRIỂN Ý NIỆM: TRƯỜNG HỢP CỦA “LÒNG”
(ĐỐI CHIẾU VỚI “HEART” TRONG TIẾNG ANH)
Võ Kim Hà 731
Trang 12 NÂNG CAO KĨ NĂNG NÓI TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN NHẰM ĐẠT CHUẨN KHUNG THAM CHIẾU B1 CHÂU ÂU THÔNG QUA THUYẾT TRÌNH NHÓM
TẠI HỌC VIỆN NGÂN HÀNG BẮC NINH
Lê Thị Thúy Hà 742
HOẠT ĐỘNG YÊU THÍCH CỦA SINH VIÊN TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU
(TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN NĂM THỨ TƯ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Nguyễn Thị Xuân Hồng - Lê Thị Kim Oanh 751
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGỮ PHÁP GIAO TIẾP TRONG GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ
Vũ Lan Hương 760
MỐI QUAN HỆ LÊN TƯỞNG CỦA TỪ TƯỢNG THANH TRONG TIẾNG ANH
Nguyễn Thị Thanh Hương 768
NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC HỌC TIẾNG ANH QUA BÀI HÁT CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ QUÝ ĐÔN, ĐÀ NẴNG
Lưu Quý Khương, Nguyễn Hà Đoan Phương,
Lưu Ngọc Bảo Trang, Nguyễn Thị Minh Trang 782
NÂNG CAO KĨ NĂNG NÓI TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN CHẤT LƯỢNG CAO
NGÀNH QUỐC TẾ HỌC CỦA KHOA QUỐC TẾ HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ĐỂ ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA
CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
Lưu Quý Khương, Phạm Đăng Hà Diệp,
Đỗ Thị Trường Linh, Trương Tố Nhi 796
SỬ DỤNG MỘT SỐ KĨ NĂNG ĐỌC CẦN YẾU VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG ĐỌC
PHÙ HỢP NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG ĐỌC HIỂU CHO NGƯỜI VIỆT
HỌC TIẾNG ANH
Nguyễn Huy Kỷ 808
VIỆC DẠY NHÓM TỪ CHỈ HƯỚNG VẬN ĐỘNG RA, VÀO, LÊN, XUỐNG
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Nguyễn Lai - Nguyễn Văn Chính 819
NGHIÊN CỨU VỀ ĐỌC MỞ RỘNG ĐỐI VỚI VIỆC THỤ ĐẮC TỪ VỰNG
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN –
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Vũ Phương Lan 827
PHÂN TÍCH LỖI SAI CỦA LƯU HỌC SINH TRUNG QUỐC KHI CHUYỂN DỊCH
SỐ TỪ TIẾNG TRUNG SANG TIẾNG VIỆT
Đỗ Thu Lan 840
Trang 13 CÓ HAY KHÔNG CÓ MỘT LOẠI NGÔN NGỮ PHA TRỘN – TIẾNG TẠP (PIDGINS)
Ở ĐÔNG NAM Á?
Nguyễn Văn Lập 846
MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN THỂ LOẠI VĂN BẢN TRONG SÁCH GIÁO KHOA
TIẾNG ANH CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC
CHỨC NĂNG HỆ THỐNG
Nguyễn Thị Mỹ Lệ 856
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỮA HAI NGÔN NGỮ
TRONG LỚP HỌC TIẾNG ANH
Phan Thị Ngọc Lệ 866
VỀ VIỆC DỊCH VĂN BẢN PHẬT GIÁO QUA BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT
CỦA TRUNG BỘ KINH
Đỗ Huy Liêm 875
CÁC BIỂU THỨC GIỚI THIỆU TIẾNG VIỆT TRONG PHẠM VI
GIAO TIẾP HÀNG NGÀY (LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH – MỸ)
Tưởng Thị Phương Liên 883
ĐỐI CHIẾU ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG “I” TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Doãn Thị Thúy Liễu 893
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ KHMER
TẠI VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Vũ Thị Nhung 903
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TRONG GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ
Lương Bá Phương 911
ĐỔI MỚI HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN
NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TẠI HỌC VIỆN BÁO CHÍ
VÀ TUYÊN TRUYỀN
Vũ Hoài Phương 918
ĐỘNG TỪ TRI GIÁC TIẾNG VIỆT - ẨN DỤ TRI NHẬN
CHUYỂN DI SANG TIẾNG ANH
Nguyễn Hoàng Phương 925
THỬ DỊCH “MÌNH – TA” TRONG TIẾNG VIỆT SANG TƯƠNG ĐƯƠNG TIẾNG ANH
Nguyễn Hoàng Trúc Phương 937
HIỆN TƯỢNG PHÁT ÂM PHỤ ÂM CUỐI MẤT ĐI SỰ MÔI HÓA TRONG TIẾNG VIỆT CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC RAJABHAT UĐONTHANI, THÁI LAN
Songgot Paanchiangwong - Rattana Watawattana,
Sukum Tangpraphutthikul 944
Trang 14 SỬ DỤNG KỸ NĂNG THỨ 5 - KỸ NĂNG QUAN SÁT -
ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Tống Hưng Tâm - Nguyễn Hưng Bình 952
KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN RÀO ĐÓN CỦA NAM GIỚI
VÀ NỮ GIỚI QUA BA CUỘC TRANH LUẬN TRỰC TIẾP TRANH CỬ
TỔNG THỐNG MỸ NĂM 2016
Trần Thị Phương Thu 961
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÚP SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN ANH
CẢI THIỆN KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH, CHUẨN BỊ CHO BÀI THI C.E.F.R B1
ĐẦU RA
Phạm Thị Thanh Thúy 969
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC SỬ DỤNG LIÊN TỪ TRONG TIẾNG
PHỔ THÔNG TRUNG QUỐC (ĐỐI CHIẾU VỚI TỪ NỐI TRONG TIẾNG VIỆT)
Hà Thị Minh Trang 981
CÁCH CHUYỂN DỊCH KẾT CẤU DĨ THÀNH HIỆN TẠI
TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Hoàng Trung 987
THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT VÀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CÔNG THƯƠNG TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thanh Vân 999
CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU ĐẠT HÀNH VI CẢM ƠN GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG ANH
Đỗ Thị Thuý Vân 1007
CHIẾN LƯỢC HỌC TẬP NGOẠI NGỮ THỨ HAI – TIẾNG TRUNG QUỐC
CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH
Lưu Hớn Vũ 1017
SỬ DỤNG NGÔN NGỮ HÌNH THỂ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TIẾNG ANH
CHO TRẺ EM
Nguyễn Thanh Xuân 1025
NHÂN TỐ QUYỀN LỰC VỚI SỰ LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC TỪ CHỐI
LỜI ĐỀ NGHỊ CỦA NGƯỜI MỸ NÓI TIẾNG ANH VÀ NGƯỜI VIỆT
Vương Thị Hải Yến 1032
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU TỤC NGỮ TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT
CÓ YẾU TỐ CHỈ CON GIÁP (THÀNH TỰU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ GỢI MỞ)
Hoàng Thị Yến 1041
Trang 15Ban C NGÔN NGỮ VỚI VĂN CHƯƠNG
NGÔN NGỮ TIỂU THUYẾT TRONG QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Nguyễn Thị Kiều Anh 1052
TÍN HIỆU THẨM MĨ RỪNG TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC
Nguyễn Thị Vân Anh - Trương Hồng Phúc 1058
GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG NGÔN NGỮ
TẬP TRUYỆN NGẮN NHÀ ẤY CÓ MA XÓ CỦA SA PHONG BA
Nguyễn Thị Bích - Trần Thị Nhung 1068
KÌ THỊ GIỚI TRONG NGÔN NGỮ QUA KHẢO SÁT
TRƯỜNG TỪ VỰNG CA DAO VIỆT NAM
Dương Quốc Cường - Nguyễn Thanh Tuấn,
Huỳnh Thị Diệu Hiền 1075
CÁC TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG HỒI KÍ TÔ HOÀI
Mai Thị Liên Giang 1120
HÀNH VI HỎI - CẦU KHIẾN TRONG CA DAO
Nguyễn Thị Hài 1129
NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TÂM LÝ, TÍNH CÁCH NHÂN VẬT QUA NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
Cao Xuân Hải 1140
BIỂU TRƯNG TÊN CÁC LOÀI HOA TRONG KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Lê Thị Mỹ Hạnh - Hà Thùy Dương 1147
ĐỊNH NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG CÁC TÁC PHẨM TÙY BÚT
Trần Thị Mỹ Hạnh 1158
Trang 16 NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG NGÔN NGỮ THƠ LÒ NGÂN SỦN
Cao Thị Hảo 1166
TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG TRƯỚC TÁC MỘT SỐ TÁC GIẢ VĂN HỌC
TIÊU BIỂU CỦA TÔNG TRÚC LÂM NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ
NGHỆ THUẬT
Nguyễn Thị Việt Hằng 1172
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NGƯ PHONG THI TẬP CỦA NGUYỄN QUANG BÍCH
Nguyễn Ngọc Thanh Hiền 1182
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA PHONG CÁCH CHÍNH LUẬN L.N.TOLSTOY
Lê Thị Thu Hiền 1189
TÊN GỌI THỰC VẬT TRONG SỬ THI ĐĂM SĂN QUA ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO
VÀ NGHỆ THUẬT SO SÁNH TU TỪ
Nguyễn Minh Hoạt 1198
PHÂN TÍCH TU TỪ TRONG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ TRỮ TÌNH
Nguyễn Thị Hồng 1207
CÁC DẠNG THỨC NGÔN NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT
ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH VÀ KHÁI HƯNG
Nguyễn Thị Hồng 1213
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TẬP TRUYỆN BỐN LỐI VÀO NHÀ CƯỜI
CỦA HỒ ANH THÁI
Nguyễn Thị Kiều Hương - Trần Thị Ánh Tuyết 1223
CÁCH DÙNG CỤM TỪ CỐ ĐỊNH TRONG CÂU ĐỐI NÔM
CỦA NGUYỄN KHUYẾN
Lê Thị Hương - Nguyễn Văn Thạo 1233
TÌM HIỂU YẾU TỐ CHỈ TAY, CHÂN TRONG MỘT SỐ THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
Vũ Thị Hương 1242
NHỮNG KẾT HỢP TỪ NGỮ ĐỘC ĐÁO, BẤT NGỜ TRONG THƠ BÙI GIÁNG
Dương Thị Thanh Huyền 1250
THOẠI DẪN TRỰC TIẾP TRONG TIỂU THUYẾT ĐẠI TÁ KHÔNG BIẾT ĐÙA
CỦA LÊ LỰU
Hoàng Thị Thanh Huyền 1261
NGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG TÁC PHẨM MIẾNG NGON HÀ NỘI
CỦA VŨ BẰNG
Vũ Thị Thu Huyền - Đỗ Thị Thu Hương 1268
Trang 17 ĐẶC TÍNH CỦA QUAN HỆ LẬP LUẬN TRONG CA DAO
Trần Thị Tuyết Lan 1280
VỀ MẠCH LẠC CỦA TIỂU THUYẾT BẾN KHÔNG CHỒNG
Đặng Thị Lành 1290
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ
VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
Trần Thị Quỳnh Lê 1299
THÀNH NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG THÀNH TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA
TRONG TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT VIỆT NAM 1945 - 1975
Đỗ Thị Kim Liên 1307
HÀ TIÊN QUỐC ÂM THẬP VỊNH TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN
CỦA VĂN HỌC CHỮ NÔM NAM BỘ THẾ KỶ XVIII
Tôn Nữ Phương Linh 1321
HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA TRONG THƠ TÌNH XUÂN QUỲNH
Trần Thị Linh 1328
VAI TRÒ CỦA HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HÀNH ĐỘNG PHỤ THUỘC
TRONG CÁC THAM THOẠI HỎI TRÊN TƯ LIỆU TIỂU THUYẾT
CỦA HỒ ANH THÁI NICOLAS SPARKS
Nguyễn Hải Long 1339
TÍN HIỆU THẨM MĨ VỀ TÌNH YÊU TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
TÍN HIỆU NGÔN NGỮ NGỒI ĐỒNG BIỂU THỊ THIÊN TÍNH NỮ
TRONG MẪU THƯỢNG NGÀN CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
Mai Thế Mạnh 1383
TẢN VĂN MAI CHIÊN TRONG DÒNG CHẢY TẢN VĂN
CỦA NHÀ VĂN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI
Phạm Thị Thanh Nga 1392
Trang 18 SỰ TƯƠNG ĐỒNG TRONG VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ XƯNG HÔ QUA
CẶP THOẠI HỎI – TRẢ LỜI, CẦU KHIẾN – HỒI ĐÁP
TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ
Đàm Thị Ngọc Ngà 1399
ĐỒNG DAO TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Tuyết Ngân 1408
HỆ THỐNG CẤP ĐỘ CỦA TRƯỜNG NGHĨA THỰC VẬT
TRONG TRUYỆN CỦA TÔ HOÀI
Nguyễn Thị Ngần 1417
SỰ BIỂU ĐẠT BẰNG NGÔN NGỮ TÍN HIỆU SỐ MỘT
TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
Đinh Thị Như - Mai Thị Vui - Đỗ Thị Minh Thư 1429
ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA TÂY BẮC ĐƯỢC PHẢN ÁNH THÔNG QUA CÁC TỪ NGỮ
THUỘC CÁC TRƯỜNG NGHĨA KHÁC NHAU TRONG TRUYỆN TÂY BẮC
CỦA TÔ HOÀI
Phó Thị Hồng Oanh 1436
BƯỚC CHUYỂN BIẾN TỪ TRUYỀN THỐNG SANG HIỆN ĐẠI
CỦA XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX KHẢO SÁT QUA THUẬT NGỮ
LẬP NGHIỆP TRÊN NÔNG CỔ MÍN ĐÀM
Huỳnh Vĩnh Phúc - Nguyễn Thị Kim Phượng 1453
ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG VÀ THẨM MỸ CỦA NGÔN TỪ THƠ HUỲNH VĂN NGHỆ
Hoàng Trọng Quyền 1463
DIỄN NGÔN ĐỐI THOẠI VÀ ĐỘC THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA LÝ VĂN SÂM
Trần Thị Sáu - Hoàng Thị Thắm 1472
HÀNH TRÌNH HỒI ỨC CỦA NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ
SAU CHIẾN TRANH TRONG NGÔN NGỮ TIỂU THUYẾT CHU LAI
Nguyễn Thị Thái 1480
CÁCH ĐỌC “南國山河 NAM QUỐC SƠN HÀ” CHUẨN LUẬT THƠ ĐƯỜNG
Đào Tuyết Thảo 1490
THÀNH NGỮ CHỈ VĂN HÓA ỨNG XỬ
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Nguyễn Hữu Thế 1499
QUAN HỆ LẬP LUẬN GIỮA HÀNH ĐỘNG NHẬN XÉT CHỦ HƯỚNG VỚI
HÀNH ĐỘNG PHỤ THUỘC ĐI KÈM QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
Đặng Thị Thu 1508
Trang 19 NGÔN NGỮ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN VIỆT HÀ
Vi Thị Thúy - Đặng Văn Vũ 1518
VẺ ĐẸP NGÔN TỪ TRONG THƠ XUÂN TRẦN NHÂN TÔNG
Trầm Thanh Tuấn 1526
Ban D NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA HOA VĂN CỦA ĐẤU CỦNG
Ở CÁC KIẾN TRÚC CỔ HỘI AN
Nguyễn Thị Vân Anh - Nguyễn Ngọc Chinh 1532
“NHÂN DANH TẬP CHÍ” DƯỚI GÓC NHÌN TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA
Nguyễn Huy Bỉnh 1549
CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU VÍ, GIẶM VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỐI VỚI VĂN HÓA
VÀ PHƯƠNG NGỮ NGHỆ TĨNH
Phạm Mai Chiên 1559
TẦM NGUYÊN CỬU TỰ CÙ LAO VÀ BÀN LUẬN VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
TRONG GIA ĐÌNH HIỆN ĐẠI
Nguyễn Thị Thanh Chung 1570
ĐÔI NÉT VỀ Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA SỐ BỐN TRONG TIẾNG HÁN
(LIÊN HỆ VỚI SỐ BỐN TRONG TIẾNG VIỆT)
Dương Thùy Dương - Phạm Thị Minh Tường 1578
NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG CHIA BUỒN TRONG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thị Bích Hằng 1587
ĐẶC ĐIỂM CÁC TỪ NGỮ CHỈ PHẨM CÁCH CON NGƯỜI
TRONG TIẾNG VIỆT
Lê Thị Hiền 1600
NGỤY BIỆN TRONG QUẢNG CÁO SẢN PHẨM TIÊU DÙNG
TRÊN FACEBOOK HIỆN NAY
Đinh Thị Hoa - Nguyễn Văn Thạo 1611
QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA TIẾNG VIỆT QUA GIAO LƯU VÀ TIẾP XÚC
VỚI CÁC NỀN VĂN HÓA TRÊN THẾ GIỚI
Nguyễn Mậu Hùng 1620
Trang 20 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN
TRÊN MẠNG FACEBOOK Ở LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG
Khuất Thị Lan 1628
LỜI CHÀO TRONG VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI
Khuất Thị Lan - An Thị Thúy 1637
Ý NGHĨA PHẢN ÁNH HIỆN THỰC TRONG ĐỊA DANH TỰ NHIÊN Ở ĐỒNG THÁP
Nguyễn Văn Loan 1644
NHỮNG GIÁ TRỊ NGÔN NGỮ - VĂN HÓA ẨN CHỨA TRONG KHO TÀNG
TỤC NGỮ - CA DAO VIỆT NAM
Nguyễn Thị Kim Oanh 1653
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI QUA HÀNH VI THỀ TRONG GIAO TIẾP
CỦA NGƯỜI VIỆT
Trần Thị Phương Lý - Đoàn Minh Quốc 1661
Ý NIỆM VỀ PHẠM TRÙ SÔNG NƯỚC TRONG THÀNH NGỮ,
TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT
Ngô Tuyết Phượng 1673
CƠ SỞ TÂM LÝ - NGÔN NGỮ HỌC CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA MÔN TIẾNG VIỆT
Đặng Thị Lệ Tâm 1682
CÁCH ĐỊNH TỘI TRONG LUẬT TỤC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA
Đoàn Thị Tâm 1686
NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH HÁN - VIỆT ĐÀ NẴNG THỜI GIA LONG
QUA THƯ TỊCH ĐỊA BẠ
Nguyễn Hoàng Thân 1694
NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI TRONG HOÀNH PHI, CÂU ĐỐI Ở NƯỚC TA
Lê Đức Thọ 1704
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH
(QUA KHẢO SÁT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH CẤP ĐỊA PHƯƠNG)
Trương Thị Thủy 1710
PHÁT HUY LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA BẢN ĐỊA TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Nguyễn Hoàng Tiến 1715
VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIA ĐỊNH BÁO
Bùi Thị Tiến 1721
Trang 21 TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ VĂN HÓA XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP
QUA QUYỂN THE LAST LECTURE VÀ BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG
Trần Thị Kim Tuyến 1728
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG QUẢNG CÁO ONLINE
TRÊN MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK VIỆT
Lê Thị Thùy Vinh 1741
TÊN CỬA HÀNG TRÊN BIỂN HIỆU QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
Ở THÀNH PHỐ THANH HÓA
Mai Thị Hảo Yến 1747
Ban E PHƯƠNG NGỮ HỌC VÀ PHƯƠNG NGỮ ĐÔNG NAM BỘ
ĐỘ SÂU PHÂN LOẠI TRONG ĐỊNH DANH CỦA TỪ NGỮ NGHỀ CÁ
VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Trần Hoàng Anh 1756
MỘT SỐ CÁCH DIỄN ĐẠT ĐẶC TRƯNG CỦA TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG PHÚ YÊN
VỀ MỨC ĐỘ
Lê Dinh Dinh 1764
NGHIÊN CỨU TIẾNG QUẢNG BÌNH ĐỂ BIÊN SOẠN
“TỪ ĐIỂN PHƯƠNG NGỮ QUẢNG BÌNH”
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA BIỂU HIỆN QUA CƠ SỞ ĐỊNH DANH
CỦA TỪ CHỈ TÊN GỌI TÔM CÁ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Đặng Thanh Hải - Trần Hoàng Anh 1820
VỀ CUỐN “TỪ ĐIỂN TIẾNG HUẾ” CỦA TIẾN SĨ BÙI MINH ĐỨC
Phạm Văn Hảo - Huỳnh Thị Thuý 1824
BIỂU TƯỢNG NGÔN TỪ TRONG LỜI CA QUAN HỌ BẮC NINH
Ngô Thị Thu Hằng 1830
Trang 22 DẤU ẤN VĂN HÓA THỂ HIỆN TRONG CÁCH ĐỊNH DANH CON BÀI
TRONG BÀI CHÒI NAM TRUNG BỘ
Đặng Thị Thanh Hoa - Hồ Thị Ngọc Hà 1836
TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG NAM BỘ TRONG ĐIỆU NÓI THƠ BẠC LIÊU
Nguyễn Phước Hoàng 1842
TÌM HIỂU TÊN GỌI CÁC NGỌN NÚI TRONG QUẦN THỂ “THẤT SƠN”
THÍCH NGHI TRONG TIẾP XÚC PHƯƠNG NGỮ:
BẰNG CHỨNG TỪ HIỆN TƯỢNG PHA TRỘN PHƯƠNG NGỮ Ở MỘT SỐ
CỘNG ĐỒNG ĐÔ THỊ VIỆT NAM
GIÁ TRỊ VĂN HÓA, LỊCH SỬ CỦA HỆ THỐNG ĐỊA DANH
Ở THÀNH PHỐ TUY HÒA,TỈNH PHÚ YÊN
Lê Thị Bích Nga 1905
TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT TRONG “QUÁM CHIẾN LÁNG”
CỦA NGƯỜI THÁI
Lò Thị Hồng Nhung 1912
CÁC TIỂU TỪ TÌNH THÁI“ĐI”, “RỒI”, “LUÔN” DÙNG CUỐI PHÁT NGÔN
TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ
Nguyễn Mai Phương 1921
NĂNG LỰC NGÔN NGỮ VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
CỦA NGƯỜI HOA Ở BÌNH DƯƠNG
Hoàng Quốc 1930
Trang 23 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA TỪ NGHỀ NGHIỆP NGHỀ DỆT LỤA
PHỤ ÂM TIỀN THANH HẦU VÀ BÁN NGUYÊN ÂM TRONG NGỮ ÂM
TIẾNG ÊĐÊ
Y Tru Alio 1966
VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC SI LA
Ở ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY
Nguyễn Thị Thu Dung - Nguyễn Thị Nguyệt Nga 1974
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC BẢN NGỮ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY BẮC
Lê Thị Hương Giang - Nguyễn Thị Hồng Chuyên 1984
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG XTIÊNG
Trương Thị Thu Hà 1992
THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ TRÊN TRUYỀN THÔNG CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở ĐIỆN BIÊN
Phạm Thị Thanh Hải - Nguyễn Thị Minh Châu 2003
THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỐI VỚI VIỆC
DẠY - HỌC TIẾNG MẸ ĐẺ
Vũ Thị Thanh Hương 2012
TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC TÀY TRUYỆN CON CHIM SÁO
VÀ TRUYỆN THƠ TRUYỆN CHIM SÁO TỪ GÓC NHÌN NGÔN NGỮ
Nguyễn Thị Ngọc Lan 2024
NĂNG LỰC TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH KHMER BẬC TIỂU HỌC:
SO SÁNH ĐÔNG VÀ TÂY NAM BỘ
Hồ Xuân Mai 2031
TÌM HIỂU NHỮNG CỤM TỪ BẮT ĐẦU BẰNG TỪ “กิน” CỦA TIẾNG THÁI
VÀ VỚI TỪ “ĂN” CỦA TIẾNG VIỆT
Trần Văn Nam - Songpon Baolopet 2047
Trang 24 VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ NGƯỜI XTIÊNG TẠI BÌNH PHƯỚC
TRONG TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG
Trần Phương Nguyên - Trần Khánh Hưng 2052
LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC DÂN TỘC CHĂM VÀ BAHNAR
Ở HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Nguyễn Ngọc Yến Nhi 2063
HÌNH THỨC LỜI BÌNH TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH TIẾNG TÀY NÙNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Thị Nhung 2070
TÌM VỀ CỘI NGUỒN ĐỊA DANH CỦA NGƯỜI STIÊNG BU DRU VÀ KRƠWAI
Ở THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Buôn Krông Tuyết Nhung - Điểu Điều 2079
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG BẰNG TIẾNG TÀ ÔI Ở THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
Nguyễn Thị Thanh Tâm 2115
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THƠ CA DÂN TỘC HMÔNG
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CẤU TRÚC CÂU THƠ
Nguyễn Kiến Thọ - Đặng Quyết Tiến 2126
ĐẶC ĐIỂM CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ Ở CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
KHU VỰC MIỀN BẮC VIỆT NAM
Tạ Văn Thông - Tạ Quang Tùng 2135
KHẢO SÁT LỖI LIÊN KẾT TRONG BÀI VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 11
(Ở HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK)
Lương Thị Hồng Thúy - Nguyễn Ngọc Nhật Minh 2144
TRẠNG THÁI NGÔN NGỮ KHÁNG Ở VIỆT NAM
Tạ Quang Tùng 2158
VẤN ĐỀ CÁC NGÔN NGỮ CÓ NGUY CƠ MAI MỘT Ở ĐIỆN BIÊN
Lê Quang Vinh - Hà Thị Bình 2168
VĂN HÓA NGÔN NGỮ TÂY NGUYÊN TRONG VĂN NGUYÊN NGỌC
Đặng Văn Vũ 2180
Trang 25NGÔN NGỮ VỚI VĂN CHƯƠNG
Trang 26NGÔN NGỮ TIỂU THUYẾT TRONG QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
NGUYỄN THỊ KIỀU ANH * 1
1 Mở đầu
Từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết Việt Nam hình thành và phát triển ngày càng nhanh trong nền văn học viết bằng chữ quốc ngữ, gắn với tên tuổi các tác gia văn xuôi Nam Bộ: Hồ Biểu Chánh, Trần Thiên Trung, Trương Duy Toản, Nguyễn Chánh Sắt… và một số tác gia ở Bắc Bộ: Hoàng Ngọc Phách, Đặng Trần Phất, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật, Tản Đà… Tuy lượng chưa nhiều, nhưng các nhà văn đã quan tâm sâu sắc đến thể loại văn học mới này trong nền
văn học quốc ngữ như những giá trị tinh thần mới của dân tộc Do ảnh hưởng của “ Tân thư” cùng với việc truyền bá văn học châu Âu vào Việt Nam qua con đường dịch thuật
và tình hình sáng tác trong nước đang phát triển, các quan niệm về tiểu thuyết cũng dần xuất hiện, ảnh hưởng tích cực đến sáng tác Chính vì vậy trong thời gian này đã lần lượt xuất hiện các ý kiến bàn về tiểu thuyết trong các lời bạt, lời tựa các cuốn sách và trên
báo chí Có thể xem bài báo nhiều kỳ nhan đề Bàn về tiểu thuyết (1921) của học giả
Phạm Quỳnh là một công trình nghiên cứu qui mô và hệ thống đầu tiên về tiểu thuyết trong văn học đầu thế kỷ XX Tiếp sau phải kể đến công trình nghiên cứu khá công
phu Khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng và Theo giòng của Thạch Lam Đây là tập hợp
những bài báo bàn về mọi vấn đề của tiểu thuyết khá kỹ càng Ngoài ra, cùng với những công trình trên còn có những đóng góp của các tác gia khác như Ngô Đức Kế, Đặng Trần Phát, Bùi Xuân Học, Trọng Khiêm, D.C, Vũ Đình Long, Thiếu Sơn, Trúc Hà, Lệ Xuân…họ cũng bàn về những phương diện khác nhau của tiểu thuyết
Khảo sát các ý kiến bàn về tiểu thuyết, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh những vấn
đề của thể loại như: kết cấu, cốt truyện, nhân vật…, vấn đề ngôn ngữ tiểu thuyết cũng được khá nhiều các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình đề cập đến trong các công trình của mình Trong đó có nhiều ý kiến rất gần với tư duy lý luận ngày nay
* Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2; Email: kieuanh169@yahoo.com.vn
Trang 272 Nội dung
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, trong lời tựa cuốn Thày Lazaro Phiền (Viết
tại Khánh Hội ngày 01/12/1896), Nguyễn Trọng Quản có viết: “Tôi có một dụng ý lấy tiếng thường mọi người hằng nói mà làm ra một truyện hầu cho kẻ sau coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay, trước là làm cho kẻ ham vui mà tập đọc, sau là làm cho cấc dân các xứ biến rằng người An Nam sánh trí, sánh tài thì cũng chẳng thua ai Đã biết rằng xưa nay dân ta chẳng thiếu chi thơ, phú, văn, truyện nói về những đấng ấy thuộc
về đời xưa chớ đời nay chẳng còn nữa Bởi đó tôi mới dám bày đặt một truyện đời nay
là sự thường có trước mặt ta luôn, như thế thì sẽ có nhiều người lấy làm vui lòng mà đọc” [4; 22] Đây có thể xem là quan niệm mở đường cho các nhà văn xuôi của nền văn chương quốc ngữ Ở quan niệm này, theo tác giả, truyện được sáng tác bằng những
tư liệu ngay trong đời sống hàng ngày và dặc biệt phải được viết bằng ngôn ngữ đời thường của nhân dân để đáp ứng nhu cầu thưởng thức của người đọc, để khẳng định giá
trị tinh thần riêng của một dân tộc
Tiếp đến, năm 1916, trong lời tựa của tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan, tác
giả Trần Thiên Trung cũng lại đề ra cho mình nhiệm vụ đổi mới cách viết bằng việc sử dụng ngôn ngữ bình thường, xuất phát từ lời ăn tiếng nói hàng ngày Ông viết: “Nay tôi ngụ ý soạn một bổn nói về việc trong xứ mình dùng tiếng tầm thường cho mọi người
dễ hiểu…” [4; 26]
Đặc biệt từ những năm 20 trở đi, trong một số công trình, các tác giả: Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Hải Triều, Thạch Lam, Vũ Bằng… đã bước đầu chú ý tới ngôn ngữ tiểu thuyết như một đơn vị nghệ thuật chịu sự quy định của thể loại, thống nhất trong cách tiếp cận và miêu tả thực tại của tiểu thuyết
Trong công trình Bàn về tiểu thuyết, Phạm Quỳnh đã chú ý đến mối quan hệ
giữa các yếu tố khác với sự “phô diễn” và đề cao giá trị của nó với tác phẩm Ông viết:
“Truyện đã kết cấu rồi, nghĩa là đã có người có việc, xếp đặt có đầu có đuôi rồi, khác nào như làm nhà đã cất thành cái khung nhà, nay còn phải lợp ngói, chất vôi, nền hoa,
kẻ mực, đặt cửa xây thềm, lại phải trang sức ở trong, tô điểm ở ngoài, thời mới thật là thành cái nhà Phần này kể cũng chẳng quan trọng kém gì phần nền Trong nghề tiểu thuyết, thời phần này gọi là phần phô diễn Kết cấu khéo mà phô diễn vụng thời truyện không có giá trị nữa” [4; 138] Khi đề cập tới sự “Phô diễn” là tiếp cận đến toàn bộ lời văn, tức là vấn đề ngôn ngữ của tiểu thuyết.Ngôn ngữ của tiểu thuyết làm cho tác phẩm chân thực, sinh động
Tác giả D.C trong bài: Vấn đề tiểu thuyết trên báo Khai hóa (1923) cũng nêu
nhận xét: “Cái hay là hay bởi vì lời văn chải chuốt, mà cái không hay là không được mấy câu kiệt tác đáng gọi là câu danh văn” [4; 38]
Như vậy, ngôn ngữ trong tiểu thuyết mang tính nghệ thuật cao, phải gây dựng được những ấn tượng mạnh mẽ trong bạn đọc Phạm Quỳnh cho thấy ngôn ngữ tiểu thuyết rất đa dạng, nhưng trong đó phương thức tự sự là chủ yếu, ngoài ra nhà văn còn
sử dụng nhiều phương thức khác: “Trong các lối hành văn, thời lối tiểu thuyết chính
Trang 28là văn tự sự… mà còn tham bác nhiều lối khác nữa, như tả cảnh, tả tình, vấn đáp” [4; 138] Văn tiểu thuyết phải là cái “Văn sinh hoạt” Tác giả còn so sánh “Văn Tàu văn ta
là lối văn chép sử, việc gì cũng chép từ đầu đến cuối, cứ theo thứ tự trước sau… Văn Tây thời khác, văn Tây có cái vẻ đẹp đột ngột tự nhiên, kể chuyện gì nói ngay vào việc không có kể lai lịch dềnh dàng” [4; 139] Đó là điểm phân biệt khác nhau giữa thuộc tính của tiểu thuyết cổ điển phương Đông với tiểu thuyết phương Tây trên phương diện biểu hiện và kết cấu ngôn ngữ mà các nhà tiểu thuyết Việt Nam đương đại đang học theo Đây không phải là một biểu hiện sùng ngoại một cách nô lệ như một số người đã đánh giá mà là một nhận định mang tính chân lý cao Phạm Quỳnh còn chỉ ra phương thức đối thoại phổ biến trong tiểu thuyết, tác giả gọi là “lối vấn đáp”: “lời văn đây phải lanh lẹ tự nhiên, linh lợi hoạt bát lắm mới được, không khác gì văn diễn kịch… mỗi câu nói là một nét bút tả cái tâm tính một người vậy” [4; 141] Ngôn ngữ trong tiểu thuyết
có khả năng khắc họa tính cách nhân vật, nhất là lối văn tả cảnh: “cảnh tươi cười hớn
hở thời người vui vẻ bảnh bao, cảnh thì ảm đạm tiêu điều thời người âu sầu u uất” [4; 141] Ngôn ngữ tiểu thuyết là đa dạng, nhưng thống nhất trong ý đồ thẩm mĩ của nhà văn Phạm Quỳnh viết: “bấy nhiêu lối không phải là rời nhau, mà thực là liên lạc với nhau, bổ khuyết cho nhau” [4; 142] Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng phản ánh tài năng và phong cách của nhà văn Theo Phạm Quỳnh: “đặt truyện khéo mà hành văn vụng thời dẫu người không sành cũng biết được ngay, và bộ tiểu thuyết mất quá nửa giá trị vậy Song đặt truyện đã là khó mà còn có phép tắc truyền dạy được… Nhất là văn tiểu thuyết
là một lối văn tự do phóng khoáng, lại càng khó truyền dạy cho được” [4; 142] Do đó sáng tạo tiểu thuyết cũng được xem là hoạt động đặc thù của nhà văn trong việc phản ánh và biểu hiện cuộc sống bằng nghệ thuật
Trong mục Thơ cho bạn trên Phụ nữ Tân văn (25/2/1932), ở bài Cách viết đoản
thiên tiểu thuyết, tác giả Lệ Xuân cũng nhấn mạnh về phong cách viết văn Theo tác
giả: “muốn viết văn hay bao giờ cũng phải dày công luyện tập một lối riêng của mình”
Trúc Hà trong bài viết: Lược khảo về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu
thuyết (1932) đã đề cao về vấn đề ngôn ngữ - ở đây ông cũng gọi là “phô diễn” Theo
ông: “Phần phô diễn tức là phần văn chương để tả cảnh, tả tình Nếu lời văn hay thì khiến cho độc giả như chìm đắm, như mơ màng, như say xưa lắm lúc lại đặt mình vào một địa vị nào của người trong truyện” và theo Trúc Hà chỉ có tiểu thuyết mới có khả năng bao quát được tính chất muôn vẻ của ngôn ngữ văn chương nghệ thuật: “Vả lại cái hay của văn chương vẫn là vô cùng, khó đem bày vẽ trên lời nói… mà riêng gồm bao nhiêu cái hay đó, duy có tiểu thuyết mà thôi” [4, 34]
Cũng bàn về vấn đề ngôn ngữ tiểu thuyết, trong tập tiểu luận Theo giòng, tác giả
Thạch Lam đã phê phán: “Có những nhà văn lúc nào cũng nói đến các thứ hoa, đến các màu sắc, đến các cây cỏ có vẻ nên thơ Với họ, hoa nở trong sương sớm, màu sắc rực rỡ dưới ánh dương, cây liễu rủ bên hồ là những hình ảnh tươi đẹp và thanh tao làm cảm động lòng người văn sĩ Nói đế những cái đó là một bổn phận, một sự cần phải
có, để tỏ rõ “thi vị” của tâm hồn Họ không bỏ lỡ mất một dịp nào và ấn đầy hoa, đầy màu lạ, đầy liễu rủ trong câu văn của họ Dưới ngòi bút của những người ấy, các câu tả
Trang 29cảnh đẹp đẽ nhắc đi nhắc lại đã nghìn lần trở nên những hình ảnh sáo cũ mòn và vô vị” [3;293] Những hình ảnh ngôn từ và câu văn đó là kết quả của một quan niệm hời hợt
và dễ dãi về đời sống, kéo các nhân vật ra khỏi đời sống hàng ngày Đến Vũ Bằng, tác
giả dành hẳn một chương có tên: “Thuật tả chân ngôn ngữ”, để bàn về ngôn ngữ tiểu
thuyết Tuy nhiên, đây không phải là vấn đềđến thời kỳ này mới được bàn đến Trước
đây, năm 1921, Phạm Quỳnh trong Bàn về tiểu thuyết yêu cầu tác giả phải “tả thực”
“Tả thực” được hiểu ở đây là phơi bày những sự thực xấu xa ở đời Đến năm 1933,
trong Phê bình và cảo luận, tác giả Thiếu Sơn lại quan niệm tả thực là phải tả tất cả
các mặt tốt lẫn mặt xấu ở đời Tả từ các quan hệ xã hội đến các quan hệ tinh thần bên
trong của con người Rồi đến Trương Chính trong tác phẩm Dưới mắt tôi (1939), thuật
ngữ “tả chân” lại được dùng với cái nghĩa bút pháp miêu tả chứ không phải nội dung miêu tả, nó được khu biệt với các khái niệm đồng đẳng như “nhà văn tâm lý”, “nhà văn trào phúng” Nhưng đến Vũ Bằng thì quan niệm “tả chân” được bàn tới kỹ hơn và được nâng ở mức độ cao hơn Ông cho rằng: “Tất cả cái tài, cái khéo của nhà tiểu thuyết là làm thế nào ghi được trên mặt giấy thực sự trong ngôn ngữ của từng hạng người, nhưng chỉ ghi sau khi đã làm biến hóa thứ ngôn ngữ đó vào trong tinh hoa của văn chương” [2;192] Theo ông, việc sử dụng ngôn ngữ đời sống là đương nhiên và rất cần thiết, song không được chép nguyên xi, phải nâng lên thành ngôn ngữ nghệ thuật Ông tỏ ra rất triệt để trong vấn đề này: “Tôi nghĩ rằng không có gì ngây thơ hơn là ghi chép trong những đoạn văn đối thoại, những ngữ điệu và những sự sai lầm của tiếng nói hàng ngày hiện nay của tất cả các lớp người trong xã hội Những cái đó cũng như tiếng lóng, chỉ
là để tô điểm một chút cho tác phẩm, không thể dùng nhiều được”, “nhiều nhà văn tiểu thuyết bây giờ cứ tưởng muốn tả đúng ngôn ngữ của một người vô giáo dục thì cứ việc tìm những chữ, những câu gì vô giáo dục nhất thì gán vào miệng nhân vật đó Sự thực không cần đến thế; ta chỉ cần hội tất cả tinh thần những câu nói đó lại rồi diễn ra một
cách có văn chương đủ rồi” [2; 95] Với tinh thần đó, ông ca ngợi nồng nhiệt Truyện Kiều của Nguyễn Du đã dùng thuật tả chân ngôn ngữ một cách tài tình và mẫu mực.
Vậy là với Vũ Bằng, xuất phát từ quan niệm “tiểu thuyết tân thời”, “truyện gần đời thiết thực”, ông yêu cầu tiểu thuyết phải hướng tới ngôn ngữ tả chân, tức là ngôn ngữ của đời sống hàng ngày nhưng phải được chưng cất thành ngôn ngữ nghệ thuật, chứ không được bê nguyên xi ngôn ngữ tự nhiên của đời sống Đây là một quan điểm ngôn ngữ tiểu thuyết nhất quán trong quan niệm chung về tiểu thuyết hiện đại của Vũ Bằng Nó gắn với tính điển hình hóa ngôn ngữ như cách hiểu của chúng ta ngày nay So với những ý kiến trước, rõ ràng ở ý kiến này, Vũ Bằng đã ghi nhận bước tiến mới thể hiện trình độ tư duy lý luận về ngôn ngữ tiểu thuyết
Tiếp theo, cũng trong vấn đề ngôn ngữ tiểu thuyết, Vũ Bằng đã bàn đến “Giọng điệu trong tiểu thuyết” Ông cho rằng: “Giọng văn dùng viết tiểu thuyết cũng cần phải
như đời vậy Nghĩa là vừa vui, vừa buồn, có lúc làm cho người ta oán giận, khóc than, nhưng có lúc lại làm cho người ta ngửng mặt lên vui vẻ.” [2, tr.111] Bởi tiểu thuyết cũng như cuộc đời, có chỗ tối, lại có chỗ sáng, bởi vì tiểu thuyết vẽ lại người, vẽ lại những người đương thời, thì có thể nào mà lại không dùng đến một khí giới quý giá là
Trang 30sự vui vẻ được” [2, tr.112] Chính sự phong phú này, theo Vũ Bằng, tạo nên sức hấp dẫn riêng, sinh động, chân thực cho thể loại tiểu thuyết so với các thể loại khác Và hơn thế nữa, để trả lời câu hỏi: “Nhà tiểu thuyết có nên “làm văn” không?”, Vũ Bằng khẳng định: “Muốn làm cảm được người đọc, nhà tiểu thuyết không thể không làm văn được, nhưng văn đây không phải là thứ viển vông, thứ văn tự người chết, thứ văn chơi đùa, trái lại phải thành thực, phải rõ ràng để phổ cập đầy đủ các hạng người trong xã hội, phải tả chân được tình trạng thực tại của đời, phải là văn tự hiện tại, phải là văn sống Chúng ta biết rằng tiểu thuyết “gần đời thiết thực” rất phản đối những cái gì điêu toa, xảo trá, nó lại rất ghét sự nhàm sáo, du dương cũng như ghét cái thuật tả chân khoe khoang, phóng đại Tiểu thuyết “gần đời thiết thực” ngày nay chỉ tin cậy ở thuật tả chân chân chính, thuật tả chân tâm hồn, vậy muốn làm cảm động người ta, muốn cám dỗ độc giả, muốn làm say sưa độc giả không thể không dùng đến âm tiết được, không thể không dùng đến sự hòa hợp của âm vận được” [2, tr.120-121].
Nếu như từ năm 1933, Thiếu Sơn đã ý thức đi tìm cái riêng, cái độc đáo ở mỗi tác giả thông qua một vài đặc điểm nổi trội về phương diện nội dung của tác phẩm mà
họ sáng tạo ra, thì đến Vũ Bằng, cái riêng này còn được tạo nên bởi “âm điệu, âm tiết”
Và đặc biệt sau khi bàn đến giọng điệu riêng của mỗi tác giả trong tác phẩm của mình, Vũ Bằng lại hướng người đọc đến góc nhìn kể chuyện - một vấn đề đã làm trăn
trở biết bao nhà viết tiểu thuyết - đó là viết tiểu thuyết nên dùng ngôi thứ mấy? Sau khi
phân tích khá kỹ sự lợi hại của từng ngôi thứ trong tiểu thuyết, cuối cùng Vũ Bằng đã mượn ý kiến của Andre Maurois làm ý kiến riêng của mình: “Cứ viết, viết ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba tùy ý, viết số ít hay số nhiều, viết việc đã qua hay việc bây giờ, tùy ý Tôi có cần biết cách ông viết thế nào đâu; chỉ cần biết cuốn sách của ông có làm cho tôi cảm động hay không vậy ” [2, tr.134]
Với những luận điểm khá quan trọng này, có thể nói, vượt lên trên hết, Vũ Bằng
đã đi tới rất gần với tư duy lý luận hiện đại
3 Kết luận
Trên đây là một số ý kiến tiêu biểu bàn về vấn đề ngôn ngữ tiểu thuyết của các nhà văn và nhà nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX Có thể thấy rằng, ngay từ khi mới hình thành nhưng sự đa dạng phong phú của ngôn ngữ thông qua bút pháp tự sự, nghệ thuật kể, tả, cách sử dụng từ ngữ, giọng điệu đã bắt đầu được đề cập đến Mặc dù những ý kiến đó mới chỉ dừng lại ở mức độ bước đầu mang tính khai phá, song vấn đề ngôn ngữ đã được các tác giả bàn đến tỏ ra phù hợp với sự vận động của tiểu thuyết hiện đại lúc bây giờ, góp phần tích cực vào sự phát triển của văn xuôi tự sự hiện đại nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX
Trang 31TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Vũ Bằng (1955), Khảo về tiểu thuyết, Phạm Văn Tươi xuất bản, SG.
[2] Trương Chính (1939), Dưới mắt tôi, Tân Việt, H.
[3] Thạch Lam (1941), Theo giòng, Đời nay XB, (in trong Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học,
H.1988)
[4] Vương Trí Nhàn (1996), Khảo về tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn, H.
[5] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại (1942), NXB KHXH, tái bản, H.
Trang 32TÍN HIỆU THẨM MĨ RỪNG
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC
NGUYỄN THỊ VÂN ANH * 1
1 Dẫn nhập
Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học là chìa khóa để mở ra bí ẩn về nội dung, nghệ thuật Tín hiệu thẩm mĩ bao giờ cũng được nhà văn sử dụng có mục đích và đạt đến những hiệu quả nghệ thuật nhất định
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm nghệ thuật Tuy nhiên, nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyên Ngọc vẫn còn vắng bóng Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận “rừng” như một tín hiệu thẩm
mĩ trong sáng tác của Nguyên Ngọc Thông qua tín hiệu thẩm mĩ (THTM) rừng chúng
ta có thể hiểu rõ được những nét đặc trưng về vai trò của rừng đối với đời sống con
người, văn hóa vùng miền, văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa rừng của đồng bào
Tây Nguyên
Đọc tác phẩm của Nguyên Ngọc, ta thấy rừng đóng vai trò là môi trường sống, là không gian văn hóa gắn với hệ thức tâm linh của con người Rừng chính là một tín hiệu thẩm mĩ điển hình, nó mang lại sự khác lạ so với các tín hiệu khác như trăng của Hàn Mặc Tử, biển của Xuân Quỳnh, Xuân của Xuân Diệu
2 Nội dung
Một tín hiệu (TH) ngôn ngữ thông thường, khi đi vào thơ ca đã được chuyển hóa thành một tín hiệu nghệ thuật, THTM hay còn gọi là TH văn chương TH ngôn ngữ nói chung và THTM nói riêng vừa là phương tiện, vừa là công cụ, vừa là thể chất của các tác phẩm văn học Hệ thống cấu trúc ý nghĩa của TH ngôn ngữ và THTM sẽ góp phần cấu thành nên giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn học Theo Đỗ Hữu Châu, THTM là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Nói
* PGS TS, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Email: vananhngonngu@yahoo.com.vn
** Trường Tiểu học, THCS và THPT Victory, thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đăk Lăk; Email: Hongphucnguyenphong@gmail.com
Trang 33đến phương tiện nghệ thuật là nói đến hai mặt thể chất và tinh thần Mặt thể chất chính
là những hình thức vật chất được sử dụng trong mỗi ngành nghệ thuật như: đường nét, màu sắc trong hội họa, hình khối trong kiến trúc, âm thanh, tiết tấu trong âm nhạc, ngôn ngữ trong văn học Mặt tinh thần bao gồm nhiều loại nội dung ý nghĩa nhiều tầng khái quát hóa, trừu tượng hóa có tính thẩm mĩ
Trên cơ sở phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả Đỗ Hữu
Châu đã giải thích cụ thể hơn về THTM như sau: THTM là phương tiện sơ cấp của văn học Ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - THTM, cú pháp THTM Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức cái biểu đạt của THTM
Mối quan hệ giữa TH ngôn ngữ và THTM, có thể hình dung theo sơ đồ sau:
TH ngôn ngữ
Từ sơ đồ này, có thể thấy rằng hợp thể cái biểu đạt (cbđ) và cái được biểu đạt (cđbđ) tạo thành TH ngôn ngữ đã trở thành cbđ cho một cđbđ mới là ý nghĩa thẩm mĩ của THTM trong tác phẩm văn chương
Một THTM phải hội tụ đủ các yếu tố sau: cbđ hay còn gọi là giá trị ý nghĩa thẩm
mĩ, chủ thể sáng tạo và hệ thống THTM nhất định Chính vì vậy khi xem xét cấu trúc của THTM cần thấy tính hệ thống của nó được biểu hiện ở bình diện trừu tượng và cụ thể Thuộc bình diện trừu tượng là những hằng thể “nguyên mẫu” có tính cố định, bất biến Thuộc bình diện cụ thể là những biến thể THTM trong mỗi lần xuất hiện nó mang tính hiện hữu cụ thể sinh động Với cách hiểu như vậy, TH ngôn ngữ trong văn chương chính là THTM
Nghiên cứu các THTM thực tế là nghiên cứu các biến thể của chúng trong sử dụng Biến thể của THTM là THTM trong các lần xuất hiện của nó Ở mỗi lần xuất hiện, THTM được biểu đạt bằng một hình thức cbđ - biến thể, mang một nội dung cđbđ
- biến thể Để hiểu cụ thể về nội dung, ý nghĩa của THTM đó, ta phải xét THTM trong mối quan hệ với những từ ngữ trong cùng xuất hiện trong hệ thống mà THTM tham gia
và cùng được cảm nhận với cảm xúc mới
Nếu coi THTM là một hằng thể thì những trường hợp sử dụng khác nhau của nó là những biến thể Ta có thể xác định mối quan hệ hằng thể - biến thể giữa các THTM - sự vật, hiện tượng mang tính khái quát, chung với các THTM - sự vật, hiện tượng mang tính cụ thể, riêng Nghĩa là quan hệ biến thể - hằng thể của THTM được biểu hiện thành quan hệ giữa tín hiệu chỉnh thể với tín hiệu bộ phận Ứng với một THTM hằng thể có thể có một hoặc một số biến thể ngôn ngữ nhất định (biến thể từ vựng) Chính sự biến
đổi về hình thức ngôn ngữ biểu đạt của THTM rừng trong kết cấu các câu văn cùng sự
biến đổi về nội dung thẩm mĩ được biểu đạt đã tạo cho tác phẩm của Nguyên Ngọc có
Trang 34cách biểu đạt mới lạ, vừa cụ thể vừa khái quát, vừa sinh động, hấp dẫn cho THTM trong mỗi lần xuất hiện của nó.
Biến thể từ vựng (BTTV) là những biến thể - tên gọi khác nhau nảy sinh trong quá trình sử dụng một THTM Nó được thay thế bằng các tên gọi là những yếu tố, dạng thức vật chất khác mà ý nghĩa cơ bản không biến đổi Như vậy, BTTV là những đơn vị đồng
nghĩa, gần nghĩa hoặc cùng trường nghĩa với THTM hằng thể Ví dụ: THTM rừng có thể được thay thế bằng: rừng rú, đầu rừng, mép rừng, miệt rừng, khoảng rừng
Biến thể kết hợp (BTKH) là những biến thể nảy sinh trong sử dụng một THTM
Nó được miêu tả, được cụ thể thêm bởi một số yếu tố phụ trợ cùng xuất hiện trên trục tuyến tính Cùng một TH nhưng nó có sự biến đổi ít nhiều do kết hợp với những TH
khác nhau ở trước nó và sau nó Ví dụ: rừng bạt ngàn, rừng già thăm thẳm
Các BTKH xuất hiện thường đứng vị trí sau THTM Những BTKH có thể là những tính từ hoặc cụm tính từ đi kèm để cụ thể hóa cho TH Vì thế, mỗi lần xuất hiện TH sẽ mang một nét nghĩa thẩm mĩ khác nhau, thể hiện sức sáng tạo độc đáo của nhà văn
Biến thể quan hệ (BTQH) là những biến thể nảy sinh trong sử dụng một THTM Cùng xuất hiện với THTM trong một câu văn còn có những TH khác giữ vai trò bổ sung ý nghĩa cho nó, đồng hiện với nó trong một khung ngữ nghĩa chung Sự tương tác giữa các TH sẽ tạo nên những biến thể do quan hệ của TH
Ví dụ: ta sẽ gặp lại họ trong hình hài cô gái - rừng, người nữ - rừng (hoặc nữ thú,
nữ thảo mộc ) tức là người nữ vốn sống một cách tự nhiên trong môi trường tự nhiên của mình là rừng [7,99]
Mối quan hệ giữa TH hằng thể và TH biến thể là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái cụ thể và cái trừu tượng, cái vô hình và cái hữu hình Giá trị của THTM được thể hiện qua mối quan hệ hai mặt này Điều này được cụ thể hóa qua mô hình sau:
YNTM n
Trang 352.1 Hình thức biểu hiện của THTM “rừng” trong sáng tác của Nguyên Ngọc
Chúng tôi tiến hành khảo sát Nguyên Ngọc tác phẩm (2007 - 3 tập), Nxb Hội nhà văn có 48 tác phẩm chứa THTM rừng, với 695 lần xuất hiện, cụ thể như sau:
XUẤT HIỆN
TỈ LỆ NHÓM TỪ NGỮ CHỈ RỪNG
1 Từ ngữ làm tên gọikhái quát
2 Từ ngữ làm tên gọi cụ thể Rừng U Minh, Rừng Xà Nu, Bến Rừng, Rừng Ba Lang, Rừng Trường
3 Từ ngữ chỉ bộ phận, vị trí
Trong rừng, rừng sâu, ngoài rừng, giữa rừng, trên rừng, đầu rừng, thành rừng, dưới rừng, xa rừng, rẻo rừng, bìa rừng, mép rừng, lòng rừng
4 Từ ngữ chỉ tập hợp, quần thể
Rừng đước, rừng tràm, làng rừng, rừng rậm, rừng mắm, rừng hoa, rừng mía, rừng sim, rừng cói, rừng hang hốc, rừng khộp, rừng lách, rừng dừa, rừng chông, rừng phi lao, rừng hoang, rừng quốc doanh
6 Từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất Rừng già, rừng thẳm, rừng bạt ngàn 6 0,9
8 Từ ngữ chỉ không gian Miệt rừng, không gian rừng, mảng rừng, bè rừng, khóm rừng, phà rừng,
9 Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên liên
10 Từ ngữ chỉ động vật liên quan đến rừng Heo rừng, thú rừng, gà rừng, thịt rừng, voi rừng 32 4,6
11 Từ ngữ chỉ thực vật liên quan đến rừng Cây rừng, gỗ rừng, rau rừng, trái cây rừng, tre rừng, chuối rừng, ổi rừng, lá
Trang 36NHÓM TỪ NGỮ CHỈ RỪNG LIÊN QUAN ĐẾN CON NGƯỜI
12 Từ ngữ chỉ người
Mẹ rừng, Cô gái rừng, Nữ rừng,
13 Từ ngữ chỉ hoạt động con người
Ăn rừng, vào rừng, phá rừng, giữ rừng, ra rừng, cháy rừng, lên rừng, sốt rét rừng, vô rừng, băng rừng, bảo
- Từ ngữ làm tên gọi khái quát TH rừng có 4 đơn vị là: rừng - 246 lần, rừng rú - 3
lần, rừng nguyên sinh - 3 lần, rừng nguyên thủy -1 lần
- Từ ngữ làm tên gọi cụ thể TH rừng (7 đơn vị, 31 lần): rừng U Minh, rừng Xà
Nu, Bến Rừng, rừng Ba Lang, rừng Trường Sơn
- Từ ngữ chỉ bộ phận, vị trí của rừng (13 đơn vị, 118 lần): trong rừng, rừng sâu, ngoài rừng, giữa rừng, trên rừng, đầu rừng, thành rừng
- Từ ngữ chỉ tập hợp, quần thể (17 đơn vị, 28 lần): rừng đước, rừng tràm, làng rừng, rừng rậm, rừng mắm
- Từ ngữ tên gọi chỉ phương hướng (2 đơn vị, 8 lần): rừng Tây Nguyên, rừng Đông Bắc.
b Từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất của rừng (BTKH) (3 đơn vị, 6 lần): rừng già - 4 lần, rừng thẳm, rừng bạt ngàn.
c Từ ngữ chỉ thời gian, không gian của rừng (Biến thể quan hệ 1)
- Nhóm chỉ thời gian (2 đơn vị, 4 lần): rừng đêm - 3 lần, rừng khuya Ví dụ: hay
là rừng đêm nó kêu như vậy?, rừng khuya nó không kêu lên như thế đâu [6,81]
- Nhóm chỉ không gian (8 đơn vị, 12 lần): miệt rừng - 4 lần, không gian rừng - 2 lần, mảng rừng, bè rừng Ví dụ: từ quãng phà rừng hiện nay trở xuống [6,633]
d Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên liên quan đến rừng (Biến thể quan hệ 2)
Có (3 đơn vị, 70 lần): núi rừng - 67 lần, mưa rừng - 2 lần, đất rừng Ví dụ: núi rừng Tây Nguyên [6,162]
e Từ ngữ chỉ động vật, thực vật liên quan đến rừng (Biến thể quan hệ 3)
- Nhóm chỉ động vật (5 đơn vị, 32 lần) gồm: heo rừng, thú rừng, gà rừng, thịt rừng, voi rừng Ví dụ: con heo rừng không xuống rẫy làng Kông Hoa nữa [6,62]
Trang 37- Nhóm chỉ thực vật (10 đơn vị, 13 lần): cây rừng, rau rừng, gỗ rừng Ví dụ: Núp
ăn toàn rau rừng, măng le [6,51]
f Nhóm từ ngữ chỉ con người, hoạt động của con người, tính chất, tâm lí con người liên quan đến rừng (Biến thể quan hệ 4)
- Nhóm chỉ người (4 đơn vị, 11 lần): mẹ rừng, cô gái rừng, Nữ rừng, người rừng
Ví dụ: hoặc ta sẽ gặp lại họ trong hình hài cô gái - rừng, người nữ - rừng (hoặc nữ thú,
nữ thảo mộc ) [7,99]
- Nhóm chỉ hoạt động của con người (24 đơn vị, 101 lần) gồm: ăn rừng, vào rừng,
xé rừng Ví dụ: nó leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi [6,400]
- Nhóm chỉ tính chất, tâm lí con người (6 đơn vị, 8 lần): mất rừng - 3 lần, thiếu rừng, sợ rừng, yêu rừng Ví dụ: tình yêu trai gái, yêu rừng, yêu con suối đầu làng
[6,507]
2.2 Ý nghĩa của tín hiệu “rừng”
2.2.1 Ý nghĩa cơ sở trong hệ thống của tín hiệu “rừng”
Cái biểu đạt của TH rừng trước hết được thể hiện ra bằng THNN rừng, có hình thức ngữ âm là [rung] là sự cụ thể hóa về mặt hình thức của THTM rừng trong thực tế
sử dụng nói chung và sáng tác của Nguyên Ngọc nói riêng Cái hình thức ngữ âm này chính là TH hằng thể mang tính trừu tượng, bất biến, làm nền tảng cho các biến thể của
TH rừng Từ rừng sẽ được cụ thể hóa bởi những biến thể ngôn ngữ về từ vựng, sự kết hợp và về quan hệ như: rú, rừng nguyên thủy, mép rừng, rừng thẳm, mẹ rừng, ăn rừng đây chính là những biến thể trong thực tế sử dụng của THTM rừng.
Tên gọi phổ biến nhất của THTM rừng là rừng và có những tên gọi đồng nghĩa như: rừng rú, rừng núi, rừng nguyên thủy, rừng nguyên sinh Khi ở trạng thái là từ nguyên liệu, chưa được sử dụng dưới dạng biến thể thì nghĩa của rừng được nêu trong
từ điển là: vùng đất rộng có nhiều cây cối mọc lâu năm Vào rừng hái củi Trồng cây gây rừng Rừng già [5,1062].
Ý nghĩa thẩm mĩ của TH rừng dù được biến chuyển như thế nào chăng nữa cũng
phải dựa trên nét nghĩa cơ sở này
2.2.2 Ý nghĩa thẩm mĩ hằng thể của TH “rừng” trong sáng tác của Nguyên Ngọc
a Ý nghĩa biểu trưng cơ bản đầu tiên, có tần suất cao nhất của rừng là: môi trường sống, là không gian rộng lớn, bao la, là rừng vàng biển bạc, là nơi trú ngụ của mọi loài sinh vật, trong đó có con người.
Rừng được khắc họa theo nghĩa thực, được biểu hiện chủ yếu qua các biến thể kết hợp mang nghĩa biểu vật: già, thăm thẳm, bạt ngàn
b Trong nhiều trường hợp, rừng thường được kết hợp với các hiện tượng tự nhiên khác như: núi, đất, mưa (mục 2.1.4) tạo nên những cặp THTM làm tăng giá trị biểu
đạt, gợi hình, gợi cảm Chúng ta có thể rút ra những ý nghĩa thẩm mĩ cơ bản sau:
Trang 38Rừng là tài sản chung của dân làng, của cộng đồng: Họ có truyền thống luôn quyết sống chết giữ gìn sự toàn vẹn, trong sạch và bền vững rừng núi của làng [7,121] Rừng là một nét đẹp của tự nhiên: Hoa nở trên núi Chư Lây, đỏ và trắng chấm phá, đây đó trên nền xanh bao la của núi rừng [6,157]
Rừng thể hiện sức mạnh, sức sống bất diệt của con người: Họ trường tồn như đất đai, như núi rừng, như nhân dân [7,37]
Nếu người dân vùng biển khai thác nguồn lợi từ khơi xa, người đồng bằng sống
dựa vào đồng ruộng thì người Tây Nguyên lại tuân theo quy luật uống núi ăn rừng: Đấy
là cách tốt nhất để vừa lấy được cái ăn ra từ rừng vừa nuôi rừng [7,11]
c Không gian và thời gian của rừng vô cùng đa dạng (mục 2.1.3), thông qua những BTQH của nhóm này, ta càng có cơ sở để khẳng định rằng, rừng đã trở thành
một phần máu thịt trong trí óc và tâm khảm của con người, đặc biệt là người dân Tây
Nguyên: Con người ở đây lấy không gian rừng để đo thời gian, để tính nhịp sống của mình [7,10].
d Sự chuyển nghĩa của rừng rất phong phú (mục 2.1.5, mục 2.1.6), THTM rừng còn biểu trưng cho cuộc sống đau thương của con người trong chiến tranh nhưng họ đã
kiên cường đứng lên chống ngoại xâm Ý nghĩa ấy được miêu tả qua những hình ảnh:
Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương [6,389]
Rừng mang vai trò của một địa đạo, là nơi ẩn náu, bảo vệ chiến sĩ cách mạng: năm năm, chưa hề có một cán bộ bị giặc bắt hay giết trong rừng làng này [6,398]
Rừng mang biểu tượng cho sự khởi đầu của con người Ông viết: Khởi đầu là rừng, nguyên lai là rừng [9,108]
Rừng là sợi dây nối từ mở đầu đến kết thúc: Rừng là sự vĩnh hằng, là cõi vô cùng
[7,23]
THTM rừng luôn gắn với đời sống con người, để rồi từ đó tạo nên THTM kép
rừng - người, rừng - làng: Chỉ có rừng, như ngàn đời nay chưa hề có tăm hơi con
người… [9,107] ( ) Và con người ấy một hôm bỗng đùng đùng ra đi, bỏ lại tất cả, tất
cả bỗng trở thành vô nghĩa, trở về với rừng, với nguyên thủy [9,36].
Rừng như một đấng tối cao - huyền linh - minh triết mà con người Tây Nguyên hướng đến: trùm lên tất cả, tiếng rì rầm vĩnh cửu của mẹ rừng cái ngôn ngữ nền của cuộc sống mà người Tây Nguyên nào cũng nghe hiểu được từ thuở nảo thuở nào đến giờ [9,61].
Rừng đóng vai trò là rừng thiêng nước độc nhưng lại rất gần gũi và hài hòa nếu con người biết ứng xử với nó Vì thế rừng đối với con người chính là môi trường sống duy nhất.
Rừng chính là cơ sở, là đích đến tốt đẹp của con người, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Trong quá trình thực hiện chức năng nghệ thuật của mình, rừng luôn mang ý nghĩa phổ quát: rừng là sự vật tự nhiên, có quan hệ mật thiết với đời sống vật chất và
Trang 39tinh thần của con người; rừng không chỉ là tài nguyên mà còn là sức sống, là hơi thở,
là ngọn nguồn của sự trường tồn trong đời sống Rừng biểu tượng cho sự rộng lớn, kì
vĩ bao chứa giá trị vật chất, tinh thần, rừng biểu trưng cho nếp cảm, nếp nghĩ, nếp sống của con người Tây Nguyên, vì thế rừng luôn là hình ảnh ẩn dụ cho con người.
3 Đặc trưng văn hóa Tây Nguyên qua THTM rừng
Để xác lập nên trường liên tưởng phải dựa vào nghĩa ngữ dụng của từ điển hình,
từ được coi là nguyên mẫu Khi từ ấy xuất hiện trong các văn bản nghệ thuật, chúng
sẽ được bổ sung nhiều ý nghĩa mới, gắn liền với các nhân tố giao tiếp trong bối cảnh nghệ thuật Nghĩa liên tưởng được hình thành trong trường hợp này sẽ rất mới, rất bất ngờ thế nhưng trong quá trình lĩnh hội, người tiếp nhận vẫn hiểu và lí giải được bởi
các nhân vật giao tiếp có chung kiến thức nền - nghĩa cơ sở của THTM trong hệ thống trường liên tưởng Với YNTM rừng đã được trình bày, chúng ta thấy rõ được các ý
nghĩa mới được hình thành rất thú vị, độc đáo dựa trên trường nghĩa liên tưởng và ngữ cảnh nghệ thuật
Khi nghiên cứu THTM rừng, chúng tôi nhận thấy xuất hiện mối quan hệ giữa rừng và văn hóa Tây Nguyên: Mà không hiểu rừng, ý nghĩa và vai trò của nó trong đời sống con người ở đây thì rất khó, hoặc hầu như không thể hiểu gì về Tây Nguyên, con người Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên [7,21]
Đó còn là mối quan hệ giữa rừng và làng: bên này là tự nhiên: rừng, bên kia là văn hóa: làng [7,21]
Đối với không gian văn hóa làng của người Tây Nguyên phải tồn tại đủ bốn yếu
tố: thứ nhất là rừng (rừng đầu nguồn, rừng canh tác, rừng nguyên sinh - rừng thiêng), thứ hai là bến nước, thứ ba là khu mộ địa và cuối cùng đó mới chính là làng - nơi họ
sinh sống trên những ngôi nhà sàn, nhà trệt, nơi đêm tối họ quây quần với nhau nghe
hát kể sử thi để rồi vọng vào rừng sâu thứ âm thanh giao tiếp với Yàng: qua không gian rừng mênh mông, từ ngàn đời nay đêm đêm các làng Tây Nguyên vẫn đọc tiếng chiêng của nhau như vậy đấy, làm nên cuộc trò chuyện vĩnh cửu của con người trên vùng đất mênh mang và mãi mãi còn bí ẩn này [8,57] Yàng có mặt ở khắp nơi, nhưng chỉ trong khu rừng thiêng kia thì mới là nơi quần tụ đầy đủ tất cả các Yàng, cho nên khi đến với
một làng Tây Nguyên, người lạ không được chạm chân đến những không gian thiêng
ấy, làm như thế nghĩa là xúc phạm thần linh, khiến cho thần linh thức giấc, có khi là tức giận, khi đó Yàng sẽ trừng phạt con người
Rừng luôn là gốc rễ của con người và văn hóa Tây Nguyên, ai ai cũng đều phải nhớ đến rừng, nhớ đến: năm làng chúng tôi ăn rừng Đá Thần Gô [7,22] Ăn rừng bao
chứa những nét nghĩa rất mới lạ, chỉ người Tây Nguyên mới hiểu được, bởi nó là dấu
ấn đặc trưng của văn hóa: Ấy là cái năm làng làm rẫy ở khu rừng có tên như vậy [9,22] Nguyên Ngọc còn cho chúng ta hiểu rừng ở nhiều tầng nghĩa khác nhau:
1 - Ở đây người ta “ăn rừng” (tức là người ta làm rẫy, lấy cái ăn ra từ rừng), rừng đi vào trong máu thịt con người, cũng hoàn toàn giống như ta nói ta bú sữa mẹ,
Trang 40mẹ cho ta cái ăn, cho ta máu thịt Ta là một phần không thể tách rời của mẹ rừng Ta
từ mẹ rừng mà ra [9,22].
2 - Rừng không chỉ là không gian, rừng còn là thời gian Người ta lấy không gian
để đo thời gian (…) lịch pháp của mối quan hệ sinh học giữa con người với rừng Cuộc đời con người ấy được tính bằng chu kỳ mẹ rừng cho họ máu thịt qua từng mùa rẫy [9,22].
3 - “Thế giới” hay “vũ trụ” của con người ấy là làng, làng trong mối quan hệ sinh tồn với rừng Mỗi làng không chỉ có không gian riêng mà còn có thời gian riêng của mình, một thứ không - thời gian lấy rừng làm hệ tọa độ… [9,23]
Cuộc đời con người được đếm bằng mùa rẫy và rừng được lấy làm thước đo thời gian của vòng đời người; chết là được thần linh phía rừng thiêng đón nhận trở về, bởi vậy rừng chính là tâm linh: Đố ai có thể tìm ra được một biểu hiện văn hóa nào ở đây
mà không liên quan đến rừng [7,23].
Ta còn tìm ra được những món ăn, thức uống đặc trưng cho hương vị núi rừng: rượu cần lại là tinh chất tập trung nhất chắt ra từ rừng [6,544]
Rừng là không gian tâm linh bí ẩn và thiêng liêng: con người ấy đã từ rừng đi ra, sau khoảng trần gian ngắn ngủi này, bây giờ tất phải trả về lại cho rừng [9,108] Như vậy, khi tựu chung các yếu tố lại với nhau thì rừng vừa là môi trường sống
vừa là không gian văn hóa đồng thời là không gian tâm linh, nhưng tất cả đều là một:
một mẹ rừng, một không gian rừng trong đó có sự sống, có văn hóa và có tâm linh.
4 Kết luận
Đóng vai trò là một hiện tượng tự nhiên nhưng khi TH rừng đi vào thế giới nghệ
thuật sẽ phải chịu sự chi phối, tác động của các quy luật ngôn ngữ Nghiên cứu các hình
thức ngôn ngữ và nội dung ý nghĩa của THTM rừng chúng tôi xem xét mối quan hệ
giữa hằng thể - biến thể của TH, THTM
Thứ nhất, việc nghiên cứu cái biểu đạt của THTM được chúng tôi phân tích dựa trên ba dạng biến thể của TH: BTTV, BTKH, BTQH Các dạng biến thể này đều được nghiên cứu trên quan hệ ngữ cảnh và xét cùng với các yếu tố ngôn ngữ đi kèm đứng trước hoặc sau nó trong những văn cảnh cụ thể Đồng thời còn được xem xét trên góc
độ văn hóa, đời sống
Thứ hai, khi nghiên cứu các biến thể, chúng tôi đã tìm ra được những ý nghĩa
thẩm mĩ cụ thể của THTM rừng trong mỗi lần xuất hiện Ba dạng biến thể có quan hệ
kết hợp chặt chẽ với nhau, cùng bổ sung ý nghĩa biểu đạt cho nhau Cho nên, giá trị
ý nghĩa của TH rừng là kết quả của sự kết hợp, sắp xếp nhiều phương thức biểu hiện
khác nhau
Từ ý nghĩa hằng thể, dưới ngòi bút và sự sáng tạo độc đáo của mình, nhà văn đã xây dựng và bổ sung nghĩa biểu đạt mới, được soi chiếu, áp đặt vào nhiều trường hợp khác nhau của THTM Những nét nghĩa biểu hiện biến thể này được tri nhận cụ thể bởi