1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) một số biện pháp chỉ đạo tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới việt nam (VNEN) ở các trường tiểu học huyện trực ninh

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 577,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức lớp học đối với cấp tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới, nhận thức rõ mô hình VNEN là đổi mới các hoạt động sư phạm, đó là đổi mới hệ t

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp chỉ đạo tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) ở các trường tiểu học huyện Trực Ninh

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giải pháp tác nghiệp

3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ 01/9/2013 đến 30/5/2015

- Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Tiểu học

- Chức vụ công tác: Chuyên viên

- Nơi làm việc: Cơ quan Phòng Giáo dục và Đào tạo

- Địa chỉ liên hệ: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định

- Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến 100%

5 Đồng tác giả: Không

6 Đơn vị áp dụng sáng kiến:

- Trường tiểu học Trực Phương:

Địa chỉ: Xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

- Trường tiểu học Trực Cát : Địa chỉ: TT Cát Thành, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

- Trường tiểu học Trực Nội:

Địa chỉ: Xã Trực Nội, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

- Trường tiểu học ATrực Đại : Địa chỉ: xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

- Trường tiểu học Trực Thuận : Địa chỉ: xã Trực Thuận, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

- Trường tiểu học Trực Cường : Địa chỉ: xã Trực Cường, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

- Trường tiểu học BTrực Hùng : Địa chỉ: xã Trực Hùng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

Trang 2

BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Một số biện pháp chỉ đạo tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới Việt

Nam (VNEN) ở các trường tiểu học huyện Trực Ninh

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định “Phát triển Giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền Giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”

Cấp tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Với mục tiêu : Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục

lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời

Trường tiểu học học là cái nôi đầu tiên cho mỗi học sinh bắt đầu cuộc sống học tập

và lao động Trong nhà trường, học sinh được tiếp thu những tri thức khoa học, những kĩ năng cần thiết để hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp ban đầu của con người mới Môi trường, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, luôn có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh

Nhằm thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức lớp học đối với cấp tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới, nhận thức rõ mô hình VNEN là đổi mới các hoạt động sư phạm, đó là đổi mới hệ thống tài liệu dạy học, phương pháp học, phương pháp giáo dục học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu áp dụng mô hình VNEN vào Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai dạy học thí điểm mô hình VNEN từ năm học

2011-2012 (6 tỉnh, 24 trường tiểu học), triển khai thử nghiệm trên diện rộng từ năm học 2011-

2012-2013, tại 1.447 trường tiểu học trên 63 tỉnh, thành phố trong cả nước Ngày 02/05/2012-2013,

Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục có Công văn số 2764/BGDĐT-GDTH về việc Hướng dẫn xây dựng kế hoạch triển khai mô hình VNEN năm học 2013-2014 (Cả nước có 20 tỉnh/thành phố với 257 trường tiểu học áp dụng mô hình) Ngày 15/04/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục có Công văn số 1939/BGDĐT-GDTH hướng dẫn xây dựng kế hoạch triển khai dạy học mô hình VNEN năm học 2014-2015

Thực hiện sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam Định, Phòng Giáo dục

và Đào tạo Trực Ninh chỉ đạo cấp tiểu học triển khai chương trình thí điểm mô hình

VNEN từ lớp 2 đến lớp 4 tại 7 trường tiểu học, với 2277 học sinh (trong đó: Khối lớp 2 :

26 lớp, 785 học sinh; khối lớp 3 : 24 lớp, 787 học sinh; khối lớp 4 : 25 lớp, 705 học sinh)

Mô hình VNEN là kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại Mô hình này dựa trên kết quả và thành tựu đổi mới giáo dục của quốc tế; vận dụng cách làm của giáo dục Colombia một cách sáng tạo, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam Mô hình này đã được UNICEF, UNESCO, Ngân hàng Thế giới (WB) ủng hộ

Trang 3

và đánh giá cao Mô hình VNEN tăng cường sự tương tác giữa giáo viên và học sinh, tạo không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện; giáo viên phải tự trau dồi, nâng cao trình độ; học sinh sẽ không học thụ động mà bắt buộc phải có sự trao đổi, tư duy với giáo viên và các bạn cùng lớp, từ đó sẽ nâng cao hiệu quả tiếp nhận đối với học sinh

Như vậy, sau một thời gian triển khai dạy học theo mô hình VNEN, là một chuyên viên phụ trách chuyên môn cấp tiểu học, tôi nhận thấy : Mô hình VNEN tập trung đổi mới hoạt động giáo dục và hoạt động sư phạm, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp học và đánh giá học sinh tiểu học Mô hình VNEN khắc phục được những hạn chế của những mô hình dạy học hiện hành từ trước đến nay Các nhà trường, giáo viên và cha

mẹ học sinh đánh giá Mô hình VNEN có nhiều ưu điểm và tính khả thi cao :

- Ưu điểm của mô hình trường tiểu học mới Việt Nam

+ Giáo viên có tinh thần học hỏi, trách nhiệm trong công việc; tích cực trong việc trang trí lớp học, tạo môi trường thân thiện, giáo dục đối với học sinh

+ Trên cơ sở tài liệu hướng dẫn học tập là tài liệu 3 trong 1 (dành cho học sinh, giáo viên và CMHS) với những gợi ý về cách thức tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp nên giáo viên được định hướng tốt, giáo viên mới ra trường cũng có thể thực hiện

mô hình VNEN

+ Giáo viên được sự trợ giúp từ cộng đồng, từ phụ huynh học sinh trong việc hỗ trỗ trợ phương tiện dạy học, giúp học sinh hoàn thành nội dung bài học (phần ứng dụng), và ngay cả trong việc đánh giá học sinh

+ Học sinh được phát huy vai trò tự quản, vai trò quản lý lớp, quản lý nhóm,… nên các em rất tự tin, mạnh dạn, kỹ năng giao tiếp được rèn luyện tốt

+ Học sinh được học tập, làm việc với bạn trong nhóm, tham gia nhiều hoạt động học tập phong phú nhằm tự tìm tòi kiến thức, tự rèn luyện kĩ năng (bạn bè, thầy cô giúp

đỡ khi cần thiết), được tham gia đánh giá quá trình học tập của bạn,… nên các em thích thú với các hoạt động học tập; các em mạnh dạn, tự tin, năng động và tích cực hơn

+ Nhiều công cụ hỗ trợ trong lớp học như: hộp thư bè bạn, điều em muốn nói, con đường đến trường,… nên lớp học đẹp hơn, tình cảm bạn bè cũng được gắn bó hơn, môi trường học tập thân thiện và gần gũi hơn, học sinh thêm yêu bạn bè, yêu trường lớp hơn

Tuy nhiên, để mô hình thành công rất cần sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo, sự đồng thuận ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần của phụ huynh học sinh, sự nỗ lực quyết tâm của đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà trường và đặc biệt là sự quan tâm của toàn xã hội Có như thế, mô hình trường học mới Việt Nam mới có thể thành công không chỉ ở giai đoạn thí điểm mà sẽ trở thành xu thế phát triển tất yếu trong giai đoạn tiếp theo

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, là một chuyên viên phụ trách chuyên

môn cấp tiểu hoc, qua một thời gian chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tôi xin chia sẻ một số

biện pháp chỉ đạo tổ chức dạy học ở các trường tiểu học theo mô hình trường tiểu học mới Việt Nam (VNEN)

Trang 4

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Trước khi tạo ra sáng kiến, xuất phát từ thực tế trong những năm gần đây, tôi nhận thấy thực trạng khi triển khai tổ chức dạy học VNEN tại các trường tiểu học trong huyện trong điều kiện thuận lợi và khó khăn sau :

1.1 Thuận lợi

Giáo dục và Đào tạo được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện xác định

là một mũi nhọn quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo được coi trọng, coi đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương đất nước

Cấp tiểu học huyện Trực Ninh luôn được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Nhân dân và học sinh Trực Ninh có truyền thống tương thân tương ái, truyền thống hiếu học, sẵn sàng đầu tư sức người sức của cho sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo

Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên nhiệt tình, trách nhiệm, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng (99,8% đạt chuẩn, trong đó 86,4% đạt trên chuẩn) tương đối đủ về

số lượng và loại hình giáo viên,

Học sinh chăm ngoan, học tập tốt Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên đặc biệt nổi bật là chất lượng học sinh năng khiếu

Công tác xã hội hoá giáo dục phát triển mạnh mẽ, vững chắc, cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy, học tập, vui chơi ngày càng được nâng cao Gia đình, xã hội, các tổ chức đoàn thể nhân dân luôn quan tâm, chăm lo đến điều kiện học tập, vui chơi của học sinh

Công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia, trường Xanh-Sạch-Đẹp-An toàn, đổi mới không gian lớp học phát triển tạo đà thuận lợi để duy trì giữ vững, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục xóa mù chữ, giáo dục trẻ khuyết tật học hoà nhập

Công tác tuyên truyền, chuẩn bị các điều kiện để dạy học VNEN đã được quan tâm, chỉ đạo, triển khai có hệ thống, cơ bản, thời gian dài,

1.2 Khó khăn

Trực Ninh là một huyện có địa hình rộng, kéo dài, chủ yếu nhân dân trống lúa, người dân đi làm ăn xa nhiều, nên gặp khó khăn trong việc phát triển số lượng

Giáo dục và Đào tạo chưa đồng đều giữa các vùng miền, các xã, thị trấn

Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các nhà trường một bộ phận vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, hiệu quả công tác thấp

Tuy có nhiều cố gắng trong xây dựng cơ sở vật chất trường học song chưa đáp ứng được yêu cầu cao của sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay Hoạt động xanh hóa trường lớp ở một số trường chưa đảm bảo yêu cầu

Trang 5

Công tác rà soát, bảo quản, bổ sung, cải tiến cũng như làm mới đồ dùng, thiết bị dạy học chưa được quan tâm đúng mức Năng lực một số nhân viên phụ trách thiết bị trường học chưa đáp ứng yêu cầu, chủ yếu là kiêm nhiệm

Một số trường chưa tranh thủ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các ngành, các cấp; chưa làm tốt công tác tham mưu, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục

Một số trường chưa thường xuyên cập nhật thông tin trên Website để thực hiện công việc đúng tiến độ và yêu cầu của ngành, chưa phát huy hiệu quả công nghệ thông tin, mạng internet trong việc chỉ đạo và quản lí trường học; chưa khai thác và sử dụng triệt để tác dụng của các phần mềm trong giáo dục

Số trường có đủ điều kiện triển khai dạy học VNEN chưa nhiều

Triển khai dạy học VNEN tại các trường tiểu học còn mới, chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện

1.3 Thực trạng các trường tiểu học trong huyện trước khi triển khai dạy học VNEN

- Đối với các trường học

Mô hình các trường học chưa tập trung đổi mới hoạt động giáo dục và hoạt động

sư phạm, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp, hình thức dạy và học, và đánh giá học sinh tiểu học theo định hướng đổi mới hiện nay

+ Hoạt động dạy của giáo viên chưa sáng tạo, nặng về truyền thụ kiến thức

+ Hoạt động học của học sinh chưa chủ động, thụ động 1 chiều, hoạt động nhóm mang tính hình thức

- Đối với cán bộ quản lý, giáo viên

+ Tinh thần học hỏi, trách nhiệm trong công việc của một số cán bộ quản lý, giáo viên chưa tốt, chưa tích cực trong việc trang trí lớp học, tạo môi trường thân thiện, giáo dục đối với học sinh, chưa làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, đánh giá học sinh,

+ Giáo viên thiếu sự trợ giúp từ cộng đồng, từ phụ huynh học sinh trong việc hỗ trỗ trợ phương tiện dạy học, giúp học sinh hoàn thành nội dung bài học (phần ứng dụng), và ngay cả trong việc đánh giá học sinh

+ Công tác chủ nhiệm: Giáo viên chưa chủ động được thời gian để giáo dục học sinh (một số học sinh cá biệt…); Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn như thế nào để nâng cao chất lượng học sinh

+ Công tác bồi dưỡng tay nghề cho giáo viên: Giáo viên còn lúng túng trong việc dạy theo mô hình VNEN; Giáo viên dần chỉ chú trọng đến môn chính như: Toán, Tiếng việt còn các môn khác được xem như môn phụ thì ít quan tâm hơn; Giáo viên bộ môn vắng, không giáo viên dạy thay

Trang 6

+ Công tác nâng cao chất lượng dạy bộ môn : Giáo viên chưa đảm bảo nội dung bài dạy trong một thời gian quy định (35-40 phút), nhất là những môn như Tập làm văn, Tập đọc, Toán

+ Công tác kiểm tra, chấm trả bài: Giáo viên chưa coi trọng công tác kiểm tra, chấm trả bài

+ Công tác phụ đạo học sinh yếu: Đối với giáo viên bộ môn thì số lượng học sinh yếu cần phụ đạo sẽ nhiều hơn so với việc chủ nhiệm một lớp; Phụ huynh học sinh ít quan tâm đến con em mình

- Đối với học sinh

+ Học sinh chưa được phát huy vai trò tự quản, vai trò quản lý lớp, quản lý nhóm,… nên các em thiếu tự tin, chưa mạnh dạn, kỹ năng giao tiếp kém

+ Học sinh không được học tập, làm việc với bạn trong nhóm, tham gia nhiều hoạt động học tập phong phú nhằm tự tìm tòi kiến thức, tự rèn luyện kĩ năng (bạn bè, thầy cô giúp đỡ khi cần thiết), chưa được tham gia đánh giá quá trình học tập của bạn,… nên các

em không thích thú với các hoạt động học tập; các em chưa mạnh dạn, tự tin, năng động

và tích cực trong các hoạt động

+ Học sinh chưa nắm được kiến thức ngay tại lớp theo yêu cầu đạt chuẩn kiến thức

và kỹ năng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Học sinh phải về nhà làm thêm bài tập hoặc phải học bài cũ; điều này làm tăng áp lực công việc học sinh

+ Một khó khăn nữa mà bất cứ trường tiểu học nào cũng sẽ gặp phải khi triển khai thực nghiệm mô hình VNEN, đó là học sinh từ lớp 1 lên lớp 2 khả năng điều hành của nhóm trưởng chưa tốt, chưa quen với việc tự nghiên cứu, tự rút ra bài học nên phải mất nhiều thời gian để giáo viên hướng dẫn học sinh ở những tháng đầu năm học mới

- Điều kiện phục vụ các hoạt động giáo dục ở trường tiểu học

+ Thiếu công cụ hỗ trợ trong lớp học như: hộp thư bè bạn, điều em muốn nói, con đường đến trường,… nên lớp học không hấp dẫn, thiếu sinh động, tình cảm bạn bè trong lớp ít được gắn bó, môi trường học tập thiếu thân thiện và gần gũi, học sinh còn hạn chế trong việc yêu trường lớp, bạn bè

+ Còn rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất không thể “một sớm, một chiều” mà khắc phục được ngay : diện tích lớp học nhỏ, sĩ số học sinh lại đông nên việc trang trí góc học tập, góc cộng động chưa được như mong muốn; đồng thời, 5-6 học sinh/nhóm

và 6 nhóm/lớp nên việc kiểm tra việc tự lập kế hoạch hoạt động nhóm của học sinh bị hạn chế Bên cạnh đó, bàn ghế chưa đúng quy định của lớp học theo mô hình VNEN, cụ thể là ghế phải tách rời bàn

+ Chưa làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục và phối hợp với các tổ chức xã hội, các ban ngành đoàn thể, cha mẹ học sinh trong việc chuẩn bị các điều kiện, tổ chức các hoạt động cho học sinh học tập,

Trang 7

1.4 Qua khảo sát thực tế về hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh năm học 2013-2014, 2014-2015, tôi nhận thấy kết quả chung như sau:

Giáo viên đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng mô hình lớp học kiểu mới, phối kết hợp với Cha mẹ học sinh và các

tổ chức xã hội, đánh giá học sinh theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh còn hạn chế :

Thực hiện tốt 7/194 = 3,6%, khá 21/194 = 10,8%, trung bình 90 /194 = 46,4%, chưa tốt 76/194 = 39,2%

- Kết quả đánh giá hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh

Khối lớp

Số học sinh

Hình thành và phát triển một số phẩm chất

Hình thành và phát triển một số năng lực

Số học sinh

Trang 8

+ Khối lớp 3 : Hoàn thành : 97%; chưa hoàn thành : 3%

+ Khối lớp 4 : Hoàn thành : 97%; chưa hoàn thành : 3%

+ Khối lớp 5 : Hoàn thành : 98%; chưa hoàn thành : 2%

1.5 Trước khi có sáng kiến, chưa có tác giả nào nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm

chỉ đạo, tổ chức dạy học VNEN tại các trường tiểu học huyện Trực Ninh

2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 2.1 Công tác chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo

Phòng Giáo dục và Đào tạo Trực Ninh đã thực hiện tốt tinh thần các văn bản chỉ đạo của Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo và các chương trình tập huấn về tổ chức dạy học theo mô hình VNEN, cụ thể:

- Tham mưu với UBND huyện, chỉ đạo, tuyên truyền để các ban ngành, đoàn thể, các xã thị trấn, nhân dân hiểu rõ một trong những nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo là đổi mới nội dung chương trình, phương pháp, cách đánh giá học sinh Đó chính là chủ trương triển khai dạy học VNEN ở các trường tiểu học trong huyện

Từ đó các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội, nhân dân cùng chăm lo cho giáo dục

- Triển khai kịp thời những văn bản chỉ đạo của cấp trên về nội dung, phương pháp tập huấn, tổ chức dạy học, đánh giá học sinh tnheo chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành

- Tổ chức tốt các lớp tập huấn cấp Miền, huyện, tham dự cấp tỉnh, cấp Quốc gia

Đặc biệt tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên tham quan học tập những địa phương trong và ngoài tỉnh đã và đang triển khai dạy học theo mô hình VNEN đạt hiệu quả

- Phòng Giáo dục và Đào tạo duyệt kế hoạch tổ chức dạy học, phân công chuyên môn với các đơn vị tham gia mô hình VNEN, đặc biệt giáo viên các lớp dạy học VNEN

- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn riêng cụm trường đối với các trường triển khai dạy học VNEN 02 lần /tháng Tổ chức dự giờ thăm lớp và hội thảo thống nhất phương pháp tổ chức lớp học, rút kinh nghiệm cho việc tổ chức dạy học/từng môn học Lãnh đạo và chuyên viên Phòng dự chỉ đạo trực tiếp

- Tổ chức hội thảo đối với các trường tham gia VNEN để nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện nhằm chỉ đạo khắc phục kịp thời những tồn tại vướng mắc cho các nhà trường và giáo viên

- Tăng cường kiểm tra, uốn nắn, rút kinh nghiệm công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện của các cơ sở giáo dục

Để chuẩn bị tốt điều kiện triển khai dạy học VNEN, từ năm học 2011-2012;

2012-2013, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường tiểu học trong toàn huyện chuẩn

bị các điều kiện về đội ngũ, cơ sở vật chất thiết bị trường học, đặc biêt tập trung đổi mới không gian lớp học theo mô hình VNEN, dần từng bước tiếp cận và triển khai dạy học VNEN Năm học 2013-2014, toàn cấp học tập trung học tập, nghiên cứu, triển khai, vận

Trang 9

dụng linh hoạt, thí điểm một số hoạt động, nội dung dạy học VNEN, như : xây dựng lớp học kiểu mới, thành lập các Hội đồng tự quản, tổ chức hoạt động học tập, đưa các tiết dạy ra ngoài không gian lớp học, phối hợp với các lực lượng xã hội để giáo dục học sinh theo hướng phát triển năng lực, Năm học 2014-2015, Phòng Giáo dục và Đào tạo triển khai dạy học VNEN tại 7 trường tiểu học trong toàn huyện : trường tiểu học Trực Phương, Trực Cát, Trực Nội, Trực Thuận, Trực Cường, A Trực Đại, B Trực Hùng, dự kiến triển khai dạy học theo mô hình VNEN tại 28/28 trường tiểu học trong toàn huyện năm học 2015-2016

2.2 Nội dung tập huấn chương trình VNEN 2.2.1 Nội dung triển khai chương trình VNEN đối với các trường tiểu học 2.2.1.1 Mô hình dạy học VNEN

Mô hình dạy học của VNEN chuyển cơ bản từ hoạt động dạy của giáo viên sang hoạt động của học sinh Tức là chuyển từ phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp dạy học tích cực

Với mô hình này thì lớp học được chia theo nhóm, gồm có : Chủ tịch hội đồng tự quản, các Phó chủ tịch hội đồng tự quản và các ban phù hợp với nhu cầu từng lớp và chính các em là người bầu ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm mục đích phục vụ tốt cho công việc học tập

Lớp học của các em được trang bị và trang trí rất cẩn thận như : góc học tập, góc thư viện, góc cộng đồng, hộp thư bạn bè, bảng nội quy lớp …

Cấu trúc của bài học thiết kế theo mô hình VNEN bao gồm các bước:

- Đánh giá năng lực, phẩm chất của học sinh

- Học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau - đánh giá có sự tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng

- Theo công văn 5737/BGDĐT-GDTH ngày 21/8/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo V/v Hướng dẫn thí điểm đánh giá học sinh tiểu học; Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học

Trang 10

2.2.1.2 Bốn thành tố quan trọng của mô hình VNEN

- Chương trình : Trên cơ sở chương trình quốc gia, điều chỉnh tài liệu dạy học, hình thức tổ chức lớp học, phương pháp dạy học, đồ dùng dạy học và cách thức tiến hành kiểm tra đánh giá theo hướng tăng cường tính chủ động của giáo viên, khuyến khích học sinh tự học, tự đánh giá

- Giáo viên: Chú trọng tính hiệu quả của công tác tập huấn, bồi dưỡng giáo viên,

cụ thể : Khuyến khích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng, tích cực trau dồi nâng cao kiến thức, không ngại khó khăn, chủ động sáng tạo làm đồ dùng dạy học ; Xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán; hình thành các trường kiểu mẫu (trường “hạt nhân”) để giáo viên đến tham quan, học tập

- Cộng đồng : Cha mẹ học sinh, địa phương và cộng đồng tích cực tham gia hỗ trợ nhà trường, hướng dẫn học sinh ứng dụng kiến thức vào đời sống thực tế

- Công tác quản lý : Tăng quyền chủ động cho giáo viên và nhà trường; phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của những nhà quản lí giáo dục, đặc biệt là cấp trường

2.2.1.3 Nguyên tắc cơ bản của mô hình VNEN

- Lấy học sinh làm trung tâm (học sinh được học theo tốc độ của riêng mình; tự quản và tự giác cao trong học tập)

- Nội dung học gắn bó chặt chẽ với cuộc sống hằng ngày của học sinh

- Xếp lớp linh hoạt : Học sinh được lên lớp trên nếu đạt các mục tiêu giáo dục tối thiểu, thời gian này có thể kéo dài hơn 1 năm học đối với một bộ phận học sinh chậm phát triển

- Phụ huynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với giáo viên giúp đỡ học sinh một cách thiết thực trong học tập; tham gia giám sát việc học tập của con em mình (không chỉ họp phụ huynh và nghe lời nhận xét hay phê bình, nhắc nhở về con mình)

- Hướng dẫn các trường tài liệu hướng dẫn học tập (tài liệu tự học “ba trong một”)

- Tài liệu hướng dẫn học tập là một thành phần cơ bản của chương trình VNEN

+ Đối với học sinh: Đây là tài liệu có tính tương tác cao, thuận tiện cho việc học tập cá nhân cũng như học theo nhóm Tài liệu bao gồm một chuỗi các hoạt động được thiết kế nhằm giúp hoc sinh tự học, phù hợp với đặc điểm, trình độ của từng đối tượng (học tập “cá thể hóa”)

Tài liệu hướng dẫn học sinh sử dụng các đồ dùng học tập ở góc học tập, sử dụng sách, tài liệu tham khảo ở góc thư viện trong lớp học cũng như tìm tòi tham khảo tư liệu

ở môi trường xung quanh các em, ở gia đình và trong cộng đồng

Như vậy các hoạt động học tập của học sinh không chỉ tiến hành ngay tại lớp học

mà còn thực hiện ở môi trường xung quanh trường học, trong cộng đồng Do đó, nó góp phần kích thích hứng thú, sự tìm tòi, khám phá tri thức ở học sinh

Trang 11

+ Đối với giáo viên: Tài liệu là sự tích hợp nội dung và quá trình dạy học (bao gồm cả phương pháp và hình thức tổ chức dạy học), khắc phục được tình trạng giảng dạy theo lối truyền thụ kiến thức thường gặp Tạo thuận lợi cho giáo viên trong quá trình

tổ chức hoạt động dạy học trên lớp, không mất nhiều thời gian soạn giáo án Dựa vào tài liệu, giáo viên có thể soạn bài bổ sung cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình, có

quyền điều chỉnh nội dung dạy học cho sát với đặc điểm cụ thể ở địa phương

+ Với phụ huynh học sinh: Tài liệu có chú trọng đến các hoạt động học tập được thực hiện ở nhà của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho cha mẹ học sinh và cộng đồng tham gia vào quá trình học tập của các em thông qua việc giúp đỡ, hướng dẫn học sinh học tập, bổ sung các kiến thức, kĩ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu học tập của trẻ

Ở tiểu học, có các tài liệu hướng dẫn dạy học các môn Toán, Tiếng Việt, Khoa hoc

tự nhiên, Khoa hoc Xã hội từ lớp 1 đến lớp 5 Chương trình VNEN rất chú trọng đến rèn luyện ngôn ngữ, chú trọng môn Tiếng Việt ngay từ lớp đầu cấp để học sinh dần đạt được các kĩ năng cơ bản : nghe, nói, đọc hiểu, viết Điều này hết sức hợp lí, vì học sinh làm việc chủ yếu qua tài liệu hướng dẫn học tập, cần có kĩ năng vững vàng về đọc hiểu tài liệu Và, tài liệu hướng dẫn học tập trong trường học kiểu mới có thể ví như “người thầy thứ hai” của lớp học

2.2.1.4 Cấu trúc của tài liệu hướng dẫn học tập VNEN Một bài trong tài liệu hướng dẫn học tập thường có các phần sau :

- Mở đầu của một bài học là tên bài, thông thường là một câu hỏi liên quan đến chủ

đề sẽ học

- Các hoạt động cơ bản, bao gồm :

+ Hoạt động khởi động : nhằm kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh

về chủ đề sắp học Hoạt động này rất đa dạng, có thể là một ví dụ, một bức tranh minh họa, một câu hỏi, một câu chuyện, một tình huống,… thường bắt đầu với những kiến thức học sinh đã biết hoặc bắt đầu từ kinh nghiệm của bản thân học sinh

+ Hoạt động khám phá và trao đổi kiến thức, thông tin ở trong nhóm Học sinh chia sẻ kiến thức hoặc kinh nghiệm liên quan đến chủ đề trong câu hỏi đặt ra ở tài liệu hướng dẫn học tập

+ Phần xây dựng, hình thành kiến thức: đây là bước trung tâm, bao gồm một loạt hoạt động được thiết kế có xem xét đến tình hình thực tế, môi trường gần gũi, quen thuộc với học sinh; các hoạt động này đơn giản, cụ thể và là một phần trong đời sống hằng ngày Đây là các hoạt động giúp học sinh xây dựng kiến thức mới và chiếm lĩnh kiến thức thông qua quan sát, phân tích, thảo luận, tiếp xúc với các văn bản, qua trao đổi với các học sinh khác và với giáo viên

+ Phần tăng cường, củng cố có thể được thực hiện thông qua câu chuyện hoặc trò chơi Một loạt hoạt động mở rộng cũng có thể được sử dụng trong phần này nhằm phục

vụ việc học ở các lớp lớn hơn và kích thích sự phát triển của trẻ

Trang 12

- Các hoạt động thực hành: được thiết kế nhằm củng cố kết quả học tập thông qua thực hành và hoạt động của học sinh Các bài tập hỗ trợ có yêu cầu kết hợp giữa lí thuyết và thực hành giúp giáo viên kiểm chứng xem học sinh có tiếp thu được kiến thức,

kĩ năng mới hay không Sau phần thực hành, học sinh trình bày các hoạt động để Giáo

viên đánh giá, nhận xét

- Các hoạt động áp dụng: nhằm xem xét học sinh có thể áp dụng kiến thức, kĩ năng

đã học vào các tình huống cụ thể hằng ngày được hay không, bao gồm các tình huống trong gia đình và trong cộng đồng Điều này đem lại ý nghĩa cho giáo dục, lợi ích cho gia đình và cộng đồng Các hoạt động áp dụng và mở rộng đã khuyến khích học sinh tích luỹ kiến thức thông qua các nguồn khác nhau (thư viện, hàng xóm, gia đình và các

tổ chức khác,…) nhằm giải quyết các vấn đề, các tình huống khó khăn của chính bản thân các em Cách thức tốt nhất là tiếp cận với những hoạt động áp dụng và mở rộng (ví dụ: các dự án đơn giản, khám phá môi trường, nghiên cứu quy mô nhỏ, phỏng vấn, đối

thoại ); học sinh trình bày các việc làm của mình, giáo viên ghi kết quả vào biểu đồ theo dõi sự tiến bộ và hoàn thành xuất sắc công việc của học sinh

2.2.1.5 Phương pháp, hình thức tổ chức dạy học

- Tại các trường lớp VNEN, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Rèn luyện, tăng cường khả năng suy nghĩ, phân tích, tổng hợp, quan sát, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; thể hiện rõ ý thức tự học, độc lập trong học tập; bộc lộ tính tự tin trong giao tiếp, ý thức tự quản và tự giác cao trong hoạt động tập thể, trong sinh hoạt và học tập cho học sinh

- Hình thức dạy học tại các lớp VNEN chủ yếu là dạy theo nhóm, theo cặp (hoặc giáo viên làm việc trực tiếp với cá nhân) Giáo viên tập trung học sinh khi cần nhận xét, đánh giá chung hoặc hướng dẫn hoạt động cho toàn lớp

- Đầu giờ, mỗi học sinh được giáo viên giao nhiệm vụ và mục tiêu học tập cụ thể Em nào đã hoàn thành mục tiêu sẽ được giáo viên tiếp tục hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ học tập tiếp theo Học sinh có thể tự điều chỉnh thời gian học tập và hoạt động của chính mình

- Hướng dẫn học sinh học tập theo nguyên tắc hợp tác triệt để Học sinh trong từng nhóm hoặc từng cặp cùng nhau hợp tác và hợp tác với giáo viên hướng dẫn để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ được giao Đôi khi có những vấn đề do chính các em đưa ra

để các bạn cùng thảo luận và cùng giải quyết

- Phát triển sự hợp tác giữa học sinh, tính thân thiện, đoàn kết, trách nhiệm công dân của các học sinh cũng như xây dựng thái độ tham gia và tinh thần dân chủ Chuyển đổi trường học truyền thống, thúc đẩy sự tham gia hợp tác của học sinh, khuyến khích lịch học linh hoạt, giúp cho việc dạy học phù hợp với nhịp độ tiếp thu của trẻ

2.2.1.6 Đánh giá kết quả học tập của học sinh học VNEN

- Học sinh luôn được tự đánh giá, sau đó nhờ giáo viên đánh giá kết quả công việc (hoạt động) của bản thân Mỗi học sinh có bảng tự theo dõi sự tiến bộ của cá nhân Giáo

Ngày đăng: 10/10/2022, 09:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w