NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẮM TRỰC TUYẾN ONLINE SHOPPING CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ThS.. Từ Thị Hải Yến Khoa Kinh tế - Du lịch, Trường Đại học Đông Á TÓM TẮT Nghiên cứu
Trang 1NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẮM TRỰC TUYẾN (ONLINE SHOPPING)
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
ThS Từ Thị Hải Yến
Khoa Kinh tế - Du lịch, Trường Đại học Đông Á
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi nước Việt Nam thông qua việc khảo sát trực tuyến với bất kỳ khách hàng nào đã từng mua sắm trực tuyến Kết quả của cuộc nghiên cứu cho thấy ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng tại Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lợi ích tiêu dùng cảm nhận và qui chuẩn chủ quan Kết quả nghiên cứu giúp những nhà kinh doanh trực tuyến có cái nhìn cụ thể hơn đối với hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam; từ đó giúp họ có những quyết sách kinh doanh phù hợp đối với thị trường đầy tiềm năng này.
ABSTRACT
This study aims to explore the factors that inluence the Vietnamese consumers’ intention on online shopping The study was carried out in Vietnam via online survey with any customer who has ever used online shopping The result
of the study showed that Vietnamese consumers’ intention on online shopping was strongly affected by “Consumers’ beneit” and “Subjective norm” The study’s result helps the online business look more speciically on Vietnamese customers’ online shopping behavior; thus helping them come up with the business decisions appropriate for this potential market.
1 Giới thiệu
Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh trong những năm qua Theo nguồn nghiên cứu chính thức thì tính đến cuối năm 2010 số lượng thuê bao internet tại Việt Nam là 26,8 triệu (31% dân số) và đến tháng 11 năm 2011 số lượng thuê bao đã lên đến là 30,5 triệu (chiếm 35% dân số) Việc sử dụng internet vào hoạt động mua sắm còn tương đối thấp, chủ yếu người dân dùng internet cho các hoạt động xem tin tức, tìm kiếm thông tin, nghe nhạc, chat và chơi game Tuy nhiên trong vòng 3 năm trở lại đây mua sắm trực tuyến đã có những bước phát triển mạnh mẽ Đã có đến 35% hoạt động truy cập internet dành cho mua sắm trực tuyến Con số 35%
Trang 2chưa phải là cao bởi phần lớn các khách hàng vẫn còn dè dặt và sử dụng còn hạn chế dịch vụ này Để thành công, các doanh nghiệp (DN) kinh doanh trực tuyến cần nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định mua hàng của khách hàng để từ đó có những biện pháp thúc đẩy việc mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam Từ thực tiễn đó, tác giả mong muốn sẽ tìm hiểu các nhân tố tác động đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng tại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm hiểu ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam, phát triển và hiệu lực hóa thang đo ý định mua sắm trực tuyến để sử dụng trong ngành kinh doanh trực tuyến, cũng như đo lường mức độ quan trọng của các nhân tố tác động đến ý định mua sắm trực tuyến, từ đó đề xuất các giải pháp cho DN kinh doanh trực tuyến
2 Cơ sở lý thuyết
2.1 Mô hình cơ sở về các nhân tố tác động đến ý định mua sắm trực tuyến
2.1.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action)
Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA là một mô hình dự báo về ý định hành vi, xem ý định chính là phần tiếp nối giữa thái độ và hành vi Ý định của cá nhân để thực hiện hành vi
bị tác động bởi 2 yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan Thái độ đối với một hành động là chúng
ta cảm thấy như thế nào khi làm một việc gì đó Chuẩn chủ quan được xem như là những ảnh hưởng của môi trường xã hội lên hành vi của cá nhân Ý định là một chỉ số thể hiện sự sẵn sàng của một người để thực hiện những hành vi nhất định
2.1.2 Mô hình thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned behavior)
Thuyết TPB được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm biến “Hành vi kiểm soát cảm nhận” vào mô hình TRA Biến này bị tác động bởi hai biến số là niềm tin kiểm soát và sự dễ dàng cảm nhận Niềm tin kiểm soát được định nghĩa là một cá nhân cảm thấy tự tin về khả năng của anh/cô ta để thực hiện một hành vi, tương tự như sự tự tin Sự dễ sử dụng được định nghĩa
đó là sự đánh giá của một cá nhân về các nguồn lực cần thiết để đạt được kết quả
2.1.3 Mô hình chấp thuận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model)
Mô hình TAM dùng để mô hình hoá các nhân tố tác động đến sự chấp nhận công nghệ
mới của người sử dụng Trong mô hình TAM thì yếu tố “thái độ” được đo lường với 2 biến chấp nhận công nghệ đó là “sự hữu ích cảm nhận” và “sự dễ sử dụng cảm nhận”.
Từ ba mô hình nghiên cứu trên thì mô hình TAM thường được sử dụng cho các nghiên liên quan đến giải thích và dự đoán sự chấp nhận công nghệ
2.2 Các mô hình ứng dụng nghiên cứu về ý định mua sắm trực tuyến
Tác giả cũng đã tham khảo mô hình nghiên cứu ý định mua sắm trực tuyến tại các quốc gia Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Bangladesh để đưa ra mô hình nghiên ý định mua sắm trực tuyến tại Việt Nam
Trang 33 Mô hình và phương pháp nghiên cứu
3.1 Mô hình nghiên cứu về nhân tố tác động đến ý định mua sắm trực tuyến
Nghiên cứu này sử dụng mô hình TAM để làm cơ sở xây dựng mô hình giải thích Bên
cạnh đó tác giả cũng đề xuất thêm hai biến vào mô hình nghiên cứu đó là “sự tin tưởng cảm nhận”, “chuẩn chủ quan”.
Mô hình đề xuất cho nghiên cứu được minh họa như hình 1
Hình 1 Mô hình nghiên cứu ý định mua sắm trực tuyến đề xuất tại Việt Nam
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng đồng thời cả hai phương pháp nghiên cứu Giai đoạn đầu, nghiên cứu định tính nhằm xác định mô hình, các nhân tố, các biến đo lường phù hợp cho nghiên cứu tại Việt Nam Giai đoạn hai, khảo sát định lượng được thực hiện đây là cách tiếp cận chính của nghiên cứu này Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thông qua phỏng vấn web-based Bảng câu hỏi được tác giả thiết kế trên công cụ Google Docs, sau đó được gửi đến các đáp viên thông qua các địa chỉ e-mail hoặc diễn đàn Đối tượng khảo sát là tất cả người tiêu dùng tại Việt Nam, những người đã hơn một lần mua sắm trực tuyến
Newton và Rudestam (1999) đề nghị một quy tắc 4:1 cho các items Một Items được sử dụng thì tương ứng với 4 đáp viên Nghiên cứu này sử dụng 33 items, theo nguyên tắc này thì
sẽ điều tra tối thiểu 132 phiếu Khảo sát định lượng được thực hiện từ trong tháng 04/2013, đối tượng chọn mẫu là tất cả những người tiêu dùng trực tuyến tại Việt Nam Phương pháp lấy mẫu thuận tiện, và được tiến thành thông qua khảo sát qua internet Kết quả là sau khi loại bỏ những bảng khảo sát không hợp lệ thì số lượng mẫu hợp lệ thu về là 244
Trang 44 Kết quả nghiên cứu
4.1 Mô tả mẫu
Dữ liệu phân tích dùng cỡ mẫu N = 244 Kết quả phân tích cho thấy: Nữ giới mua hàng trực tuyến nhiều hơn nam giới Hầu như những người trẻ tuổi có xu hướng chấp nhận các hoạt động mua sắm trực tuyến nhiều hơn hẳn so với các độ tuổi lớn, trung niên Nhóm mua hàng chiếm tỷ lệ cao nhất là những người có trình độ học vấn Đại học (52,5%) Phân tích các thông tin liên quan đến tần suất mua hàng cũng như những mặt hàng hóa được giao dịch, có thể thấy mặt hàng thời trang là mặt hàng được mua nhiều nhất (có đến 165 đáp viên trả lời là mua mặt hàng này) Trang mua hàng trực tuyến nhiều nhất là trang mạng xã hội facebook
4.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
4.2.1 Thực hiện EFA lần 1
Sau khi thực hiện phân tích nhân tố và xoay nhân tố theo phương pháp Varimax có 6 nhân
tố được hình thành, có 4 items (biến quan sát) được bỏ đi vì có giá trị nhỏ hơn 0,5 bao gồm các
items “Sự hoạt động của trang web trực tuyến đáp ứng được mong đợi của tôi”; “Tôi có thể
dễ dàng mua các sản phẩm trực tuyến với chất lượng tốt hơn là mua trong các cửa hàng truyền thống”; “Các sản phẩm trực tuyến được giao hàng một cách nhanh chóng”; “Mua bán qua mạng mất ít thời gian hơn so với mua bán qua các cửa hàng truyền thống từ khi tìm kiếm thông tin đến lúc thanh toán”.
4.2.2 Đặt tên lại cho các nhân tố và hiệu chỉnh mô hình
Dựa vào kết quả ma trận xoay các nhân tố, ta đặt tên lại cho các biến và điều chỉnh mô
hình Các biến mới là “Khả năng sử dụng”, “Sự tin tưởng cảm nhận”, “Chuẩn chủ quan”,
“Lợi ích tiêu dùng cảm nhận”, Sự đa dạng lựa chọn”.
4.2.3 Kiểm tra độ tin cậy
Sau khi kiểm tra độ tin cậy của các nhân tố thì chỉ có nhân tố thứ 5 (Sự đa dạng lựa chọn)
có hệ số Cronbach alpha = 0,522 (< 0,6) nên nhân tố này bị loại bỏ khỏi mô hình Các nhân tố còn lại đều có hệ số Cronbach alpha > 0,6 do vậy có thể khẳng định độ tin cậy của các nhân tố
4.2.4 Phân tích EFA cho yếu tố “Ý định mua hàng”
- Chỉ có 1 nhân tố được rút ra, nhân tố này cũng được đặt tên là “Ý định mua sắm”
- EFA cũng phù hợp vì tổng phương sai trích bằng 61,59% (> 50%), KMO = 0,693 (> 0,5), Sig của kiểm định Bartlett = 0,000 (< 0,05)
Như vậy, so với mô hình nghiên cứu hợp tuyển từ lý thuyết ban đầu, kết quả thực nghiệm
đã đưa ra mô hình nghiên cứu mới Vậy mô hình nghiên cứu được điều chỉnh lại như hình 2
Trang 5Hình 2 Mô hình nghiên cứu đã được điều chỉnh
4.3 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
4.3.1 Giá trị hội tụ (Convergent validity)
Sau khi thực hiện CFA bằng Amos kết quả cho thấy chỉ có 1 biến quan sát BI3 < 0.5, các biến quan sát còn lại đều có trọng số chuẩn hóa lớn hơn 0,5 nên ta thực hiện lại phân tích nhân
tố khẳng định lần 2 Sau khi thực hiện CFA lần 2 thì các biến quan sát đều lớn hơn 0,5 nên có thể kết luận thang đo đạt giá trị hội tụ
4.3.2 Đo lường độ phù hợp của mô hình
Kết quả sau khi chạy CFA thì thấy các chỉ số GFI và TLI chưa đạt yêu cầu, các chỉ số còn lại đạt yêu cầu Nên kết quả kiểm định CFA bằng phần mềm AMOS thực hiện theo nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ có MI > 6 Sau đó mô hình được chạy lại CFA và có sự điều chỉnh tiếp cho phù hợp
Sau khi thực hiện điều chỉnh mối quan hệ giữa các sai số, kết quả CFA cho thấy các chỉ số đánh giá độ phù hợp của mô hình lý thuyết đều được cải thiện hơn Sau đó phân tích nhân tố khẳng định được thực hiện lại sau khi đã điều chỉnh mối quan hệ giữa các cặp sai
số Sau khi thực hiện CFA lần 2, mô hình này có giá trị thống kê chi bình phương là 336,321 với 248 bậc tự do và giá trị p = 0,000 Chi bình phương tương đối theo bậc tự do CMIN/df là 1,356 (< 2) Các chỉ tiêu khác như TLI = 0,958 (> 0,95), CFI = 0,966 (> 0,9), GFI = 0,900 = 0,9 và RMSEA = 0,038(< 0,08) Do đó, mô hình này phù hợp với dữ liệu thị trường
Trang 64.3.3 Đánh giá độ tin cậy của các thang đo
Các thang đo đạt yêu cầu trong một mức giới hạn nhất định bởi vì độ tin cậy tổng hợp của các thang đo hầu như đều lớn hơn 0,7 và phương sai trích của các thang đo thì đạt giá trị xấp xỉ
với yêu cầu (> 0,5), ở đây có 2 thang đo là "Chuẩn chủ quan", "Ý định mua sắm trực tuyến" với giá trị AVE lần lượt là 0,56; 0,65 và 3 thang đo “Khả năng sử dụng”, “Sự tin tưởng cảm nhận”,
“Lợi ích tiêu dùng cảm nhận” với các giá trị AVE lần lượt là 0,41; 0,47; 0,44 (chỉ xấp xỉ với yêu
cầu AVE > 0,5) Đây là một giới hạn của đề tài nghiên cứu do còn những hạn chế về số lượng mẫu quan sát, thời gian nghiên cứu Vì thế tác giả tạm chấp nhận các thang đo đạt yêu cầu trong một giới hạn nhất định
4.4 Phân tích mô hình cấu trúc (SEM)
Đo lường độ phù hợp của mô hình:
Hình 3 Mô hình cấu trúc SEM
Kết quả chạy SEM lần 1 có các chỉ số CFI, GFI và TLI chưa đạt yêu cầu Kết quả chạy SEM bằng phần mềm AMOS thực hiện theo nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ có MI > 6 Kết quả của SEM lần 2 thể hiện về mức độ phù hợp chung, chi bình phương tương đối theo bậc tự
do CMIN/df là 1,370 (< 2) Các chỉ tiêu khác như TLI = 0,957 (> 0,95), CFI = 0,964 (> 0,9), GFI = 0,900 và RMSEA = 0,039 (< 0,08) Mô hình này phù hợp với dữ liệu thị trường như bảng 1
Trang 7Bảng 1 Dữ liệu thị trường
Giả Thuyết Mối quan hệ Estimate S.E C.R P Standardized
estimate
Với mô hình này, khả năng sử dụng không có tác động trực tiếp lên ý định mua sắm, sự tin tưởng cảm nhận không tác động trực tiếp lên ý định mua sắm, sự tin tưởng cảm nhận cũng không tác động trực tiếp lên lợi ích tiêu dùng cảm nhận.
Sau khi phân tích EFA, CFA, SEM, tác giả đã rút ra được mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng tại Việt Nam có dạng như hình 4
Không ảnh hưởng Có ảnh hưởng
Hình 4 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến trong điều kiện Việt Nam
5 Kết luận và hàm ý chính sách
5.1 Kết luận
Qua mô hình nghiên cứu, tác giả rút ra một số kết luận:Ý định mua sắm trực tuyến tại Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lợi ích tiêu dùng cảm nhận và qui chuẩn chủ quan Trong khi đó khả năng sử dụng cũng như sự tin tưởng cảm nhận không có tác động đến ý định mua sắm trực tuyến
Trang 85.2 Đề xuất giải pháp
5.2.1 Tăng cường lợi ích cho khách hàng trực tuyến
- Nhà kinh doanh trực tuyến cần cung cấp thông tin sẵn có hoàn toàn, quy trình đặt hàng thuận tiện, và có nhiều tùy chọn để giao dịch trong khi mua hàng…
- Các DN bán hàng trực tuyến có thể khai thác hình thức làm marketing theo kiểu SEM (Search Engine Marketing) để đẩy mạnh hoạt động bán hàng cho doanh nghiệp mình
- Các DN bán hàng trực tuyến cần thường xuyên tiến hành điều tra về phản ứng cũng như tiếp thu ý kiến của khách hàng để tiếp tục phát triển cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thích hợp Một phổ sản phẩm kinh doanh rộng, có nhiều mẫu mã lựa chọn với chất lượng đảm bảo sẽ làm nên ưu thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
- Các DN cần chú trọng việc xây dựng dịch vụ khách hàng: cho đổi trả hàng sau khi mua; các website bán hàng trực tuyến có thể xây dựng chế độ nhận lời bình từ cộng đồng người mua; các DN kinh doanh trực tuyến có thể tự mình hoặc liên kết với nhau để thành lập một bên trung gian thứ ba Trung gian này sẽ tổ chức các hoạt động giao hàng, nhận tiền từ bất kì một khách hàng trực tuyến nào trên toàn quốc trong thời gian ngắn nhất Khi khách hàng mua hàng với cửa hàng trực tuyến nào mà có xác nhận của tổ chức này thì họ sẽ được đảm bảo về sự an toàn, chất lượng của hàng hóa cũng như các khoản tiền mà họ đã thanh toán
5.2.2 Tăng cường các hoạt động quảng bá trang web trực tuyến
Theo kết quả nghiên cứu thì tác giả nhận thấy rằng chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến Điều này cho thấy các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến cần chú ý đến việc tác động vào cộng đồng xã hội càng nhiều thì cơ hội kinh doanh của họ càng tăng Để làm được điều này, các doanh nghiệp có thể sử dụng những công cụ marketing riêng của mình
để chuyển tải thông điệp: sử dụng hình thức mua sắm trực tuyến sẽ cho người sử dụng một hình ảnh là người hiện đại Bên cạnh đó tùy theo đặc điểm khách hàng mục tiêu của mình, các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến có thể tạo liên kết với các trang web có nhiều khách hàng mục tiêu truy cập Chính biện pháp này sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng tạo ra những liên kết xã hội thông qua việc khách hàng mục tiêu truy cập vào website của doanh nghiệp
6 Kết luận
Nhìn chung, xu hướng mua sắm trực tuyến đang ngày càng tăng nhanh tại các quốc gia đang phát triển Việt Nam là một quốc gia có tốc độ thâm nhập và phát triển internet gần tương đương với các quốc gia như Trung Quốc, Phillipin và Thái Lan Tại Việt Nam, trong vòng 3 năm trở lại đây hoạt động mua sắm trực tuyến đã có những bước phát triển mạnh mẽ Đã có đến 35% hoạt động truy cập internet dành cho mua sắm trực tuyến Như vậy số lượng người sử dụng
Trang 9Internet cho hoạt động mua sắm trực tuyến tại Việt Nam đang ngày càng tăng hứa hẹn những chuyển biến tốt đẹp cho các nhà kinh doanh trực tuyến Tuy nhiên để đẩy mạnh số người mua sắm trực tuyến thì các DN kinh doanh trực tuyến Việt Nam cần có những đầu tư mạnh mẽ hơn
về cơ sở hạ tầng, các chính sách bán hàng, dịch vụ chăm sóc khách hàng hay chính là những chiến lược kinh doanh cụ thể hơn nhằm tối đa hóa sự thỏa mãn khách hàng…
Nghiên cứu này là một khảo sát sơ bộ để thăm dò thái độ hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động mua sắm trực tuyến tại Việt Nam Từ mô hình nghiên cứu hợp tuyển lý thuyết ban đầu, kết quả nghiên cứu áp dụng với bối cảnh người tiêu dùng Việt Nam đã đề xuất được một
mô hình mới Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định mua sắm của người tiêu dùng Việt Nam liên quan đến lợi ích tiêu dùng cảm nhận và chuẩn chủ quan Mặc
dù còn nhiều hạn chế, nhưng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp cơ sở ra quyết định cho các DN kinh doanh trực tuyến Kết quả nghiên cứu giúp những nhà kinh doanh trực tuyến có những cái nhìn cụ thể hơn đối với hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam;
từ đó giúp họ có những quyết sách kinh doanh phù hợp đối với thị trường đầy tiềm năng này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
[1] Lê Thế Giới và cộng sự (2006), Nghiên cứu Marketing lý thuyết và ứng dụng, NXB
Thống Kê
[2] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB
Thống Kê
[3] Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007), Nghiên cứu khoa học Marketing ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.
[4] Nguyễn Khánh Duy (2008), Thực hành mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) với phần mềm AMOS, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
[5] www.vnnic.net: Bộ Thông tin và Truyền thông: Trung tâm thống kê Internet tại Việt Nam [6] http://www.mba-15.com/view_news.php?id=673: Managenent of Business Association [7] www.vneconomy.vn: Thời báo kinh tế Việt Nam
Tiếng Anh
[8] Aizah H., Erlane K G and Jamaliah S (2009), “Does Consumers’ Demographic Proile
Inluence Online Shopping?: An Examination Using Fishbein’s Theory”, Canadian Social Science, 5(6), 19 – 31.
[9] Ajzen, I (1985), “From intentions to actions: A theory of planned behavior In J Kuhl,& J
Beckmann (Eds.)”, Springer series in social psychology, pp 11-39.
Trang 10[10] Ajzen, I (1991), “The theory of planned behavior”, Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50, 179-211.
[11] Alreck, P and Settle, R B (2002), "Gender Effects on Internet, Catalogue and Store
Shopping", Journal of Database Marketing, Vol 9, No 2:150-162.
[12] Carol Kaufman-Scarborough, Jay D Lindquist (2002), "E-shopping in a multiple channel
environment", Journal of Consumer Marketing, Vol 19 Iss: 4, pp.333 - 350
[13] Charles Oppenheim, Louise Ward (2006), "Evaluation of web sites for B2C e-commerce",
Aslib Proceedings: New information Perspectives, vol 58 Iss: 3, pp.237 - 260
[14] Chuttur M.Y (2009), "Overview of the Technology Acceptance Model: Origins,
Developments and Future Directions" , Working Papers on Information Systems, 9(37).
[15] Clyde W Holsapple & Sharath Sasidharan (2005), “The dynamics of trust in B2C
e-commerce: a research model and agenda”, Information Systems and eBusiness Management, Vol.3 No 4 pp 377-403.
[16] Davis, F.D (1989), “Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of
information technology”, MIS Quarterly, Vol.13 No.13, pp 318-39.
[17] Davis, L.D, Bagozzi, R.P and Warshaw, P.R (1989), “User acceptance of compter
technology: a comparision of two theorical models”, Management Science, Vol 35 NO 8,
pp 982-1003
[18] David Gefen; Elena Karahanna; Detmar W Straub (2003), “Trust and TAM in online
shopping: An integrated model”, MIS Quarterly, Vol 27 No 1; pp 51-90.
[19] Fishbein, M and Ajzen, I (1975), Belief, Attitude, Intention and Behavior: An Introduction
to Theory and Research, MA: Addison-Wesley.
[20] Hooper, D., Coughlan, J and Mullen, M.R (2008), “Structural Equation Modelling:
Guidelines for Determining Model Fit”, The Electronic Journal of Business Research Methods, 6(1), 53 – 60.
[21] Hsiu-Fen Lin (2007), “Predicting consumer intentions to shop online: An empirical test of
competing theories”, Electronic Commerce Research and Applications, 6, 433–442 [22] Hussey, J and R Hussey (1997), Business Research: A Practical Guide for Undergraduate and Postgraduate Students, London, Macmillan
[23] Jan Jonker, Bartjan Pennink (2010), The essence of Research Metholody: A concise guide for Master and PhD students in Management Science, publisher Springer
[24] Joines, L J., Scherer, W C., & Scheufele, A D (2003), “Exploring motivations for
consumer web use and their implications for e-commerce”, Consumer Marketing, 20 (2),
90-108
[25] Kwek Choon Ling, 2010, “The Effects of Shopping Orientations, Online Trust and Prior
Online Purchase Experience toward Customers’ Online Purchase Intention”, International Business Research, Vol 3, No 3.