LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: @Trong quá trình dạy học môn toán ở trường THCS chúng ta thường có thói quen giải các bài tập một cách đơn điệu và dừng lại ở đó mà chưa quan tâm nhiều đến kết quả..
Trang 1111Equation Chapter 1 Section 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" ỨNG DỤNG CỦA MỘT HỆ THỨC HÌNH HỌC VÀO GIẢI
TOÁN"
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU:
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
@Trong quá trình dạy học môn toán ở trường THCS chúng ta thường có thói quen giải
các bài tập một cách đơn điệu và dừng lại ở đó mà chưa quan tâm nhiều đến kết quả Vì
vậy khi học sinh gặp bài toán mới thường bị động, không biết bắt đầu từ đâu để tìm lời
giải Những kết quả đó có thể đơn giản nhưng không tầm thường Bởi đôi khi kết quả đó
lại là công cụ hữu hiệu để giải quyết các bài toán khác khó hơn hoặc làm cầu nối giữa
những bài toán lạ với những bài toán đã biết
Vì vậy người thầy không nên xem nhẹ kiến thức cơ bản mà cần phát huy tính sáng tạo
của học sinh trước kết quả của mỗi bài toán được giải xong Kết quả đó cần được phân
tích, phát triển, tổng quát hóa, đặc biệt hóa…từ đó tạo nên một lớp bài toán “cùng họ
hàng với nhau” hoặc những bài toán có chung bài toán gốc.Biển cả bao la cũng bắt
nguồn từ những con suối nhỏ, một bài toán dù khó đến đâu cũng có cội nguồn từ bài toán
đã biết Như vậy với mỗi buổi học ôn tập kiến thức, dạy bồi dưỡng học sinh khá giỏi
thầy và trò không cần phải giải thật nhiều bài toán, đôi khi chỉ cần một đến hai bài là đủ
và bài toán đó không phải ở đâu xa mà ở ngay trong sách giáo khoa hoặc sách bài tập
Thực tế qua hoạt động dạy học như vậy người thầy cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm
quý báu cho bản thân, thậm chí học tập được từ học trò thêm những điều bổ ích
Làm như vậy là chúng ta đã tạo được sự hứng thú cho người học, phát huy được tính
tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của học sinh, khơi nguồn cảm hứng tự nghiên cứu
tài liệu cho học sinh đó chính là tiền đề cho các em từng bước chiếm lĩnh tri thức một
cách chủ động trước những vấn đề mới và khó Qua đó nhằm giáo dục tính kiên trì, bản
lĩnh cá nhân góp phần giáo dục kỷ năng sống cho học sinh trong suốt quá trình học tập
Chính vì những lý do trên nên bước đầu tôi đã chọn tên đề tài nghiên cứu: “ Ứng
dụng của một hệ thức hình học vào giải toán” đây chỉ là một phần kiến thức nhỏ hẹp
trong vô vàn những bài toán đơn giản nhưng có rất nhiều ứng dụng để giải các bài toán
khác
II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1 Giúp giáo viên từng bước thay đổi tư duy, phương pháp dạy – học thụ động một
chiều sang dạy học chủ động, sáng tạo qua từng đơn vị kiến thức đơn giản đảm bảo tính
liên thông
2 Giúp học sinh tiếp cận kiến thức mới một cách chủ động, sáng tạo thông qua các tư
duy toán học logic
Trang 3III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu ứng dụng của một hệ thức hình học vào giải toán
2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc ứng dụng của một hệ thức hình học vào giải
các bài toán có liên quan của 32 học sinh khá, giỏi học lớp 9A năm học 2012- 2013
trường THCS nơi bản thân đang công tác
IV GIẢ THIẾT KHOA HỌC:
1 Dự kiến: Đề tài sẻ được lấy ý kiến của giáo viên toán tại trường sau đó áp dụng thể
nghiệm cho học sinh khá giỏi môn toán trong toàn trường
2 Dự báo: Đề tài sẻ áp dụng có hiệu quả đối với những buổi dạy nâng cao kiến thức,
bồi dưởng học sinh giỏi
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Phương pháp điều tra
Đã tiến hành điều tra đối với 32 học sinh lớp 9A giải một số bài toán liên quan đến hệ
thức có bảng số kèm theo
2 Phương pháp thực nghiệm
Đã áp dụng thực nghiệm tương đối thành công khi giảng dạy nâng cao kiến thức cho 32
học sinh lớp 9A
3 Phương pháp quy nạp
Sau khi tiến hành phương pháp điều tra và thực nghiệm bản thân đã rút ra được kết luận
tương đối về sự thụ động của học sinh có năng lực khá giỏi trong việc tiếp cận và giải
quyết các bài toán có liên quan đến hệ thức đưa ra
VI ĐÓNG GÓP VỀ TÍNH KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI:
1 Đối với tập thể:
Phù hợp với đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Giúp cho tập thể giáo viên toán thay đổi cách nhìn khi giảng dạy các tiết luyện tập
ôn tập, đặc biệt là bồi dưỡng học sinh giỏi…
2 Đối với cá nhân:
Đã từng bước thay đổi phương pháp dạy học phù hợp giúp học sinh tích cực, chủ động, tự tin, sáng tạo trong học tập
Trang 4B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
&Trong khung chương trình, sách giáo khoa hiện hành của bộ GD&ĐT bậc THCS môn toán học sinh được học 4 tiết/tuần nên đa số thời gian chỉ để truyền đạt kiến thức lý
thuyết cơ bản Học sinh được thực hành qua các tiết luyện tập, ôn tập chủ yếu bằng
phương pháp thụ động, giải bài tập là chính Ngoài ra không ít giáo viên nhận thức chưa
đúng về chuẩn KTKN, giảm tải nên chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học Mặt
khác bản thân giáo viên cũng chưa quen phát triển, tổng quát hóa, đặc biệt hóa, khai
thác sâu thêm các kết quả của những bài toán "điển hình" để phục vụ học sinh khá giỏi
Vì vậy đối tượng học sinh khá giỏi thường tự hài lòng với kết quả đó
II CƠ SỞ THỰC TIỂN:
1 Thực trạng.
1.1 Thuận lợi:
Thực tế tại trường chúng tôi việc dạy học theo hướng mở cũng đã được nhà trường, tổ
chuyên môn quan tâm đúng mức nhằm giúp giáo viên và học sinh nhìn nhận sâu sắc
những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, sách bài tập Đa số giáo viên giảng dạy
môn toán đã chú ý đến phương pháp dạy học, chú trọng khắc sâu kiến thức cơ bản, từ đó
phân tích, khai thác thêm, phát hiện những vấn đề mới liên quan
Tỉ lệ học sinh khá giỏi ở trường nơi đang công tác tương đối cao nên thuận lợi cho công tác giảng dạy
Nguyên nhân: Được sự quan tâm của Chi bộ, Ban giám hiệu nhà trường và tổ
chuyên môn Giáo viên được tham gia các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học do
PGD&ĐT tổ chức hoặc tổ chuyên môn tổ chức các chuyên đề chuyên sâu
1.2 Khó khăn:
Chất lượng giáo viên toán không đồng đều nên khó khăn trong đổi mới phương
pháp dạy học
Học sinh vẫn còn thói quen học theo phương pháp cũ nên lười suy nghĩ những vấn
đề mới liên quan đến kiến thức cơ bản
Nguyên nhân: Một số giáo viên tuổi cao nên gặp khó khăn trong đổi mới PPDH
Có những giáo viên không chịu khó học hỏi, tham khảo tài liệu nên kiến thức bị mai một không theo kịp xu thế mới
Một bộ phận phụ huynh chưa thật quan tâm đến việc học ở nhà của học sinh
Trang 51.3 Kết quả điều tra.
Tôi đã tiến hành điều tra thực nghiệm 32 học sinh khá, giỏi lớp 9A trường THCS nơi tôi đang công tác việc giải bài toán 4 và bài toán 7 trong đề tài có liên quan đến hệ
thức hình học đã học năm học 2012 – 2013:
Kết quả thu được như sau:
Số lượng HS
được điều
tra
sinh có liên
hệ đến hệ thức
SL học sinh không có sự liên hệ
SL học sinh liên tưởng đến kiến thức khác
32
Điều tra việc giải các bài toán có liên quan đến hệ thức hình học
SL: 5 em TL: 16%
SL: 18 em TL: 56%
SL: 9em TL: 28%
Nhận xét : Nhìn vào bảng kết quả ta thấy đa số học sinh không có sự liên hệ với hệ
thức đã học để giải các bài toán có liên quan
1.4 Các giải pháp đã thực hiện.
Thay đổi phương pháp dạy học: Đối với những kiến thức, những bài tập có tính điển hình có thể áp dụng làm được nhiều bài tập khác Giáo viên nên phân tích kỷ, nhìn
nhiều góc độ khác nhau Tiếp đến có thể đề xuất các bài toán tương tự Đặc biệt là hình
thành kỷ thuật phân tích bài toán để làm tái hiện các kiến thức đã học Thực tế nếu giáo
viên làm được như vậy thì sẻ phát huy được tính chủ động của học sinh trong quá trình
học tập
Kiến thức: Đề tài còn liên quan đến một số kiến thức về đại số như các bất đẳng thức quen thuộc
Sau đây là nội dung chính của đề tài nghiên cứu, đã áp dụng dạy nâng cao kiến thức tại Lớp 9A trường THCS nơi bản thân đang công tác
III NỘI DUNG CHÍNH.
Trước hết ta tìm hiểu bài toán gốc để có hệ thức hình học ứng dụng trong đề tài
µBài toán gốc: Cho tam giác ABC một đường thẳng bất kỳ cắt các cạnh AB , AC thứ
tự tại E và F.
Trang 6Chứng minh hệ thức:
Lời giải: Kẻ các đường cao EH và BK của các tam giác AEF và ABC
Do EH // BK nên
Ta có:
Vậy:
.
AEE ABC
S AB AC
r
K
H F E
C B
A
Hình 1
Nhận xét: Đến đây nếu giáo viên và học sinh chỉ dừng lại ở kết quả mà
không quan tâm những ứng dụng của nó thì thật đáng tiếc
Sau đây là một số ứng dụng của hệ thức
µ Một số ứng dụng của bài toán gốc.
´Bài 1: Cho tam giác ABC có trung tuyến AM Đường thẳng bất kỳ cắt các cạnh AB,
AC và AM thứ tự tại E, F và I.
Chứng minh:
2.
AE AF AI
Trang 7Chứng minh: Ta có:
r
M
I
F E
C B
A
Hình 2
AE AF AI
&Đặc biệt khi I là trọng tâm ta có bài tập sau:
´Bài 2: Cho tam giác ABC có trung tuyến AM Đường thẳng bất kỳ đi qua trọng tâm
G cắt các cạnh AB và AC thứ tự tại E và F.
Chứng minh:
3
AB AC
AE AF
Giải: Ta có thể giải bài này theo nhiều cách khác nhau:
Lời giải 1(Hình 3): Từ kết quả của bài 1 ta có ngay kết quả 3
AB AC
AE AF
Trang 8M
G F E
A
Hình 3 Lời giải 2(Hình 4):
K
I M
G F E
A
Hình 4
Kẻ (I, K thuộc AM) Ta có:
;
AE AG AF AG
Cộng vế theo vế ta được: (1)
Mặt khác: BIM CKM MIMK (2)
Từ (1) và (2) suy ra: 2. 3
AE AF AG
AB AC
AE AF
Lời giải 3(Hình 5):
K I
M
G F E
A
Hình 5
Trang 9Kẻ BI, CK lần lượt song song với AM (I, K thuộc d)khi đó MG là đường trung bình của
hình thang BCKI nên BI + CK = 2GM (*):
(2)
Từ (*), (1) và (2) suy ra:
3
AB AC
AE AF
Lời giải 4(Hình 6):
Kẻ BI, AK, MP, CQ lần lượt vuông góc với d khi đó MP là đường trung bình của
hình thang vuông BCQI do đó: BI + CQ = 2 PM (1)
G
Q P
K
E
C B
A
M
Hình 6
kết hợp với (1) BI + CQ = AK
Vậy:
3
AB AC
AE AF
Trang 10Nhận xét: Từ kết quả của bài tập 2 ta thấy
AB AC
AE AF
= 3 luôn không đổi khi đường thẳng d thay đổi và cắt hai cạnh AB, AC của tam giác ABC Kết quả quan trọng này
lại trở thành bài toán gốc để giải quyết một số bài toán khác.
Chẳng hạn:
´Bài 3: Cho tam giác ABC vuông tại A có trung tuyến AM Đường thẳng bất kỳ đi qua
trọng tâm G của tam giác cắt các cạnh AB và AC thứ tự tại E và F.
Chứng minh:
AE AF BC
Chứng minh:
Lời giải1(Hình7):
Áp dụng kết quả bài 2 , bất đẳng thức Bunyacovsky và định lí Pythagore ta có:
2
9
AB AC
Vậy:
AE AF BC
F
B
A
Hình 7
Lời giải 2(Hình 8):
Trang 11
F E
G H
B
A
Hình 8
Kẻ AH vuông góc với EF (H thuộc EF) Áp dụng hệ thức lượng cho tam giác vuông
AEF ta có: 2 2 2
(1)
AE AF AH
(2)
BC
Từ (1) và (2) ta có: 2 2 2
AE AF BC
Dấu đẳng thức xẩy ra khi H trùng G
´Bài 4: Cho tam giác ABC có trung tuyến AM Đường thẳng bất kỳ đi qua trọng tâm
G cắt các cạnh AB và AC thứ tự tại E và F.
Tìm giá trị nhỏ nhất của diện tích tam giác AEF
Lời giải (Hình 9):
M
G F E
A
Hình 9
Áp dụng bất đẳng thức (a + b)2 4ab Đẳng thức xẩy ra khi a = b ta có:
4
ABC
AEF
S
Đẳng thức xẩy ra Vậy GTNN(S AEF) =
9
4S ABC
Câu hỏi đặt ra là liệu có tìm được giá trị lớn nhất của diện tích tam giác AEF
không?
Trang 12´Bài 5: Cho tam giác ABC có trung tuyến AM Đường thẳng bất kỳ đi qua trọng tâm
G cắt các cạnh AB và AC thứ tự tại E và F.
Tìm giá trị lớn nhất của diện tích tam giác AEF
Lời giải (Hình 9): Ta có: 3
AB AC
AE AF
Đặt:
(1 2) 3
AB
AE
AC
x AF
Ta có:
(3 ) ( 1)(2 ) 2 2
ABC
AEF
không đổi Đẳng thức xấy ra khi và chỉ khi x = 1 hoặc x = 2
Vậy GTLN của
1 2
Dấu bằng đạt được khi E trùng B hoặc F trùng C
@Nhận xét:
Từ bài 4 và bài 5 ta có thể tìm được GTNN và GTLN của tứ giác BCFE
´Bài 6: Cho tam giác ABC có trung tuyến AM Đường thẳng bất kỳ đi qua trọng tâm
G cắt các cạnh AB và AC thứ tự tại E và F.
Tìm giá trị nhỏ nhất của tổng diện tích các tam giác BFE và CEF
Lời giải (Hình 10):
Hình 10
Kẻ BP, MI, CN cùng vuông góc với đường thẳng EF
Khi đó: BP CN 2MI (Đường trung bình của hình thang)
J F E
N
H I K
M
C B
A
Trang 13Ta có:
S S EF BP CN EF MI EF MI EF AH S
(2) Do:
9 4
(3)
Từ (1), (2), (3) suy ra: S BEF S CEF 94S ABC
Vậy GTNN(S BEF S CEF) =
9
4S ABC
Tiếp tục dùng kết quả của bài toán gốc Ta có các bài tập sau:
´Bài 7: Gọi AP, BF, CE lần lượt là các đường cao của tam giác nhọn ABC.
Chứng minh rằng:
Lời giải (Hình 11):
Ta có:
Tương tự ta có:
Do đó:
.r
Hình 11
F E
C A
Trang 14´Bài 8: Gọi AP, BF, CE lần lượt là các đường phân giác trong của tam giác nhọn
ABC Tìm điều kiện của tam giác ABC để GTLN của
Lời giải(Hình 12): Đặt AB = c, AC = b, BC = a
Ta có:
Tương tự ta có:
(1) Hình 12
Dấu “ = ” đạt được khi và chỉ khi a = b = c
@Nhận xét:
Như vậy nếu biết độ dài 3 cạnh kết hợp với định lý Hêrông ta sẻ tính được diện tích
tam giác EFP
´Bài 9: Trên 3 cạnh AB, BC, CA của tam giác ABC lần lượt lấy M, N, P sao cho
k
MB NC PA
.Tìm k để
5 8
MNP ABC
S
Lời giải (Hình 13):
P
F E
C B
A
Trang 15Từ giả thiết suy ra: 1
AB BC AC k
và
1 1
AB BC AC k
(t/c tỉ lệ thức)
2
.
AMP
ABC
S AB AC k
Tương tự: 2 ; 2
Từ đó ta có:
MNP
S
= 1- 2
3 1
k
k
Do đó:
5 8
MNP ABC
S
1- 2
3 1
k
k =
5
8 k2 – 6k + 1 = 0 Bài toán có hai nghiệm:
1 3 2 2 ; 2 3 2 2
k k thoả mãn
Hình 13
´Bài 10: Cho hình bình hành ABCD trên các cạnh BC, CD lần lượt lấy các điểm M,
N sao cho 2
k
MC DN
Gọi P, Q theo thứ tự là giao điểm của AM, AN với BD.
a) So sánh diện tích của PMNQ và APQ
b) Tính diện tích tam giác AMN theo k và theo diện tích của ABCD
Lời giải (hình 14): a) Ta có:
.
.
AMN
APQ
Theo giả thiết có:
1
N
P M
C B
A
Trang 161 2
k
Kết hợp với định lý talét ta có:
1
AP AD BC k
và
1
2 1
AQ AB DC k
Thay vào (*) ta có:
AMN
APQ
S
k
= 2 Suy ra: S MNPQ S APQ
b) Chú ý rằng: S ABCD 2S ABC 2S ADC 2S CBD
.
ABM
ABC
S BA BC BC k
ADN
ABD
S DA DC DC k
Ta có:
2 1
1 ;
2
k
Suy ra:
2
1
1
2 2 1
2 1 2 1
AMN
ABM
S
S
Từ đó tính được: SAMN theo k và diện tích của ABCD
Trang 17Hình 14
µKết quả đạt được:
Sau khi đề tài hoàn thiện tôi đã áp dụng với lớp 9A trường THCS nơi đang công tác
năm học 2013 – 2014 thấy hiệu quả khá rõ nét Không những thế khi tôi dạy những bài
toán đơn giản ở sách giáo khoa học sinh từng bước hình thành được thói quen phân tích,
tìm tòi, sáng tạo và tự tin tiếp cận kiến thức
Kết quả cụ thể:
Số lượng HS
được điều
tra
sinh có liên
hệ đến hệ thức
SL học sinh không có sự liên hệ
SL học sinh liên tưởng đến kiến thức khác
30
Điều tra việc giải các bài toán có liên quan đến hệ thức hình học
SL: 16 em TL: 53%
SL: 5em TL: 17%
SL: 9em TL: 30%
Nhận xét: Qua bảng số liệu ta thấy sau khi thay đổi phương pháp dạy số lượng HS có sự
liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức mới chiếm tỉ lệ tương đối cao
Sau đây kết quả học sinh giỏi cấp Huyện, cấp Tĩnh của trường trong 3 năm học gần đây
Năm học
Q
P
N M
D
C B
A
Trang 182010 - 2011 10 100% 3 0 0%
Báng số liệu cho thấy kết quả học sinh đạt được mang tính ổn định qua từng năm học
Sau đây là kết quả học sinh đậu vào THPT lớp chủ nhiệm 9A trong 3 năm học liền kề
Những số liệu đó chứng tỏ dạy học phân hóa đối tượng, điều chỉnh phương pháp phù hợp
nhằm tăng sự chủ động về phía học sinh thì kết quả đạt được là rất khả quan
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận:
Đề tài chỉ là một minh chứng cho phương pháp dạy học phân hóa đối tượng học sinh
Trong khuôn khổ đề tài chỉ áp dụng cho đối tượng là học sinh khá giỏi Trong quá trình
thực hiện đề tài bản thân đã tiến hành điều tra thực nghiệm, trải nghiệm qua nhiều năm
học và thấy được hiệu quả của việc áp dụng các kiến thức cơ bản, các kết quả đẹp dù đơn
giản nhưng có rất nhiều ứng dụng Trong quá trình thực hiện bản thân đã nhận được sự
cộng tác của Tổ chuyên môn, các bạn đồng nghiệp và của học lớp 9A của từng năm học
nên đề tài đã được thực hiện đúng tiến độ và có thời gian thể nghiệm
Các ví dụ trong đề tài chỉ mang tính minh họa cho việc áp dụng của một hệ thức hình học trong rất nhiều những hệ thức như vậy Đề tài không tham vọng nêu lên hết
những hệ thức khác Đây chỉ là kinh nghiệm nhỏ của bản thân trong quá trình dạy học,