SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG THPT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CÁC ĐỊA PHƯƠNG LÂN CẬN TRƯỜNG THPT ĐỂ NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH Lĩnh vực 2 Khoa.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CÁC ĐỊA PHƯƠNG LÂN CẬN TRƯỜNG THPT ĐỂ
NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH
Lĩnh vực: 2 - Khoa học xã hội và hành vi
NHÓM THỰC HIỆN:
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
Vĩnh Tường, tháng 10/2013
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Nội dung nghiên cứu 5
7 Những điểm mới của đề tài 5
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 7
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG LÂN CẬN TRƯỜNG THPT NGUYỄN VIẾT XUÂN 7
1.1 Môi trường đất 7
1.1.1 Thực trạng môi trường đất 7
1.1.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất 8
1.2 Môi trường nước 10
1.2.1 Môi trường nước mặt 10
1.2.2 Môi trường nước thải 12
1.2.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước 14
1.3 Môi trường không khí 15
1.3.1 Thực trạng môi trường không khí 15
1.3.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí 17
1.4 Chất thải rắn 18
1.4.1 Tình hình gia tăng chất thải rắn 18
1.4.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn 19
1.5 Đánh giá các nhân tố chung tác động tới môi trường 21 CHƯƠNG 2: NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN VIẾT XUÂN
Trang 32.1 Khái quát về học sinh trường THPT Nguyễn Viết Xuân 25
2.2 Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Viết Xuân về vấn đề môi trường 26
2.3 Giải pháp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trường THPT Nguyễn Viết Xuân 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 35
KẾT LUẬN KHOA HỌC 36
KHUYẾN NGHỊ 37
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Môi trường tự nhiên có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người cũngnhư sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ khôngchỉ của riêng ai, mà của mọi cá nhân, tổ chức trong cộng đồng xã hội Thực tế đãkhẳng định: cách ứng xử với môi trường tự nhiên của mỗi con người phần lớn đượchình thành và căn bản hoàn thiện trong thời kỳ còn ngồi trên ghế học đường Chính
vì vậy trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến công tác giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh các cấp: từ mẫu giáo đến phổ thông trunghọc Đây là quá trình giáo dục có tính mục đích nhằm phát triển ở học sinh nhữnghiểu biếu sơ đẳng về môi trường, có sự quan tâm đến vấn đề môi trường phù hợp vớilứa tuổi (thể hiện qua kiến thức, thái độ và hành vi của học sinh đối với môi trườngxung quanh), từ đó phát triển những kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường
Ở bậc trung học, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được được lồng ghéptích hợp qua nhiều môn học có liên quan như: Vật lí, Sinh học, Địa lí, Giáo dục côngdân Tuy nhiên, chúng em tự nhận thấy: do hạn chế về thời gian và tài liệu nên việcgiáo dục môi trường đôi khi còn mang tính hàn lâm, chung chung, chưa gắn liền vớithực tiễn nơi sinh sống và học tập của học sinh
Trường THPT Nguyễn Viết Xuân có hơn 1000 học sinh, chủ yếu sinh sống trênđịa bàn các xã phía Bắc của huyện Vĩnh Tường và một số xã của huyện Yên Lạc,Tam Dương Đây là những địa phương có nền kinh tế tương đối phát triển so vớimặt bằng chung của tỉnh Vĩnh Phúc, với cơ cấu ngành đa dạng: bên cạnh lĩnh vựcnông nghiệp còn có các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyềnthống và dịch vụ Bên cạnh những chuyển biến tích cực của bức tranh kinh tế, vấn
đề lao động và việc làm được giải quyết, mức sống của người dân nâng lên rõ rệt, thìtrong những năm gần đây, thực trạng môi trường của các địa phương này đang có
Trang 6chính quyền; và đặc biệt quan trọng chính là sự nhận thúc đúng đắn tự giác củangười dân về vấn đề này.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng em đã giành thời gian nghiên cứu và lựa
chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng môi trường các địa phương lân cận trường
THPT Nguyễn Viết Xuân để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh”.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học: Các kết quả nghiên cứu của đề tài về thực trạng môi trường làtài liệu tham khảo quan trọng, là những ví dụ minh hoạ sinh động để giáo viên và họcsinh sử dụng trong quá trình giảng dạy, học tập các vấn đề có liên quan đến môi trường.Ngoài ra, qua việc thực hiện đề tài này, chúng em được củng cố, kiểm chứng nhữngkiến thức đã học về môi trường, tác động của các hoạt động kinh tế tới môi trường…vàbước đầu được tiếp cận, làm quen với các phương pháp nghiên cứu khoa học
* Ý nghĩa thực tiễn: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tại trườngTHPT Nguyễn Viết Xuân, giúp học sinh có thái độ tích cực, tự giác và trách nhiệmhơn trong việc bảo vệ môi trường sống xung quanh bằng những việc làm thiết thực;thông qua đó chính các em học sinh lại là những tuyên truyền viên để nâng cao ýthức bảo vệ môi trường cho người thân trong gia đình và người dân địa phương
3 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Nâng cao nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn ViếtXuân về thực trạng môi trường tại nơi học tập và sinh sống; để từ đó có thái độ vàhành vi đúng đắn trong việc bảo vệ, gìn giữ môi trường
Trang 7chất lượng môi trường (đây là nhiệm vụ của các nhà môi trường học và các cấp quản
lí về môi trường) mà chỉ hướng tới các biện pháp giáo dục cụ thể thông qua các giờhọc chính khoá hoặc các buổi ngoại khoá để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường chohọc sinh tại trường THPT Nguyễn Viết Xuân
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
* Về không gian địa lí: Đề tài tập trung đánh giá thực trạng môi trường của 15 xã/thị
trấn có vị trí gần trường THPT Nguyễn Viết Xuân, bao gồm
- Các xã phía Bắc của huyện Vĩnh Tường: Đại Đồng, Chấn Hưng, Nghĩa Hưng, YênLập, Lũng Hòa, Tân Tiến, Bồ Sao, Việt Xuân, Kim Xá, Yên Bình, Thổ Tang, VĩnhSơn, Bình Dương
- Xã Đồng Văn thuộc huyện Yên Lạc
- Xã Hợp Thịnh thuộc huyện Tam Dương
Các địa phương này là nơi sinh sống của 94,6% học sinh trong trường (1.035/1.094học sinh), và đang có những vấn đề cần quan tâm về môi trường
* Số lượng mẫu khảo sát gồm: 1094 phiếu dành cho học sinh trong trường
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu thực trạng môi trường
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu Các tài liệu cần thu thập gồmcác đề tài nghiên cứu, báo cáo, thống kê số liệu, quy hoạch, dự án về môi trườngtrên địa bàn hai huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc Công việc này tiến hành trong giai
Trang 8- Phương pháp đánh giá chất lượng thành phần môi trường (đất, nước, không khí)bằng chỉ tiêu tổng hợp có trọng số và quy chuẩn về một thông số (chất) Để đánh giáchất lượng các thành phần môi trường hiện nay có 2 phương pháp: Đánh giá theo chỉ
số ô nhiễm (chỉ số tăng thì mức độ ô nhiễm tăng, môi trường càng bị ô nhiễm); đánhgiá theo chỉ số chất lượng môi trường (chỉ số chất lượng môi trường giảm thì chấtlượng môi trường càng xấu) [6] Trong đề tài này, chúng em sử dụng cách tiếp cậnthứ nhất
Dữ liệu đầu vào để tính toán dựa trên số liệu quan trắc chất lượng môi trường
của Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc trong “Báo cáo
quan trắc hiện trạng môi trường tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012” và “Đề án Bảo vệ môi trường huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2012 – 2017, định hướng đến 2020” Tổng số
điểm quan trắc là 27 điểm gồm 7 mẫu đất, 7 mẫu nước mặt, 8 mẫu nước thải và 5
mẫu không khí (vị trí các mẫu xem tại phụ lục 1).Mỗi thành phần môi trường có cácthông số khác nhau: Môi trường đất có 5 thông số (As, Pb, Cd, Cu, Zn), môi trườngnước có 6 thông số (TSS, BOD5, COD, NH4+, dầu mỡ khoáng, Coliform), môitrường không khí có 6 thông số (tiếng ồn, độ rung, bụi tổng số, khí CO, SO2, NO2).Đối với mỗi thông số, cho phép đặt trọng số theo quy ước khác nhau Trọng sốchung để đánh giá mức độ ô nhiễm từng loại môi trường (đất, nước, không khí) làtổng của các trọng số thành phần (coi mức độ độc hại của các thông số tới môitrường là như nhau) Thang phân cấp đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường tại địabàn nghiên cứu như sau:
2 Thông số ô nhiễm trung bình Từ 10 đến 15 điểm
- Phương pháp thực địa: Phương pháp này giúp thị sát tình hình thực tế, tác giả sẽ cócái nhìn khách quan khi tiến hành nghiên cứu; đồng thời bổ sung được những nội
Trang 9dung, những thông tin mà các nghiên cứu trên tài liệu có thể chưa phản ánh đượchết Trong thời gian thực hiện đề tài chúng em đã tiến hành đi thực địa 6 lần.
- Phương pháp thành lập bản đồ
* Phương pháp nghiên cứu thực trạng nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn
Viết Xuân về vấn đề môi trường: điều tra xã hội học, tức là thông qua bảng hỏi để
thu thập ý kiến của học sinh về các vấn đề liên quan đến môi trường, công tác bảo
vệ môi trường của chính quyền địa phương và bản thân các em học sinh Phươngpháp này được thực hiện qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị: xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng khung lí thuyết, chọnphương pháp điều tra, xây dựng bảng câu hỏi Phiếu khảo sát gồm 12 câu hỏi được
thiết kế theo các hình thức khác nhau (Phụ lục 3)
- Giai đoạn tổ chức điều tra: Điều tra đối với học sinh toàn trường Số lượng phiếuphát ra là 1090; số lượng phiếu nhận được thông tin phản hồi là 1085 phiếu
- Giai đoạn xử lí, phân tích và xã hội hoá kết quả điều tra: gồm các công việc nhưtổng hợp xử lí thông tin trên phiếu điều tra, phân tích thông tin, khẳng định giảthuyết nghiên cứu và viết báo cáo.[1]
6 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, tìnhtrạng rác thải rắn của các địa phương xung quanh trường THPT Nguyễn Viết Xuân vànguyên nhân gây nên thực trạng này
- Nghiên cứu nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Viết Xuân về vấn đề môitrường
- Nghiên cứu các giải pháp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trườngTHPT Nguyễn Viết Xuân nói riêng, cho học sinh trong nhà trường phổ thông nói chung
7 Những điểm mới của đề tài
Điểm mới nhất của đề tài so với các nghiên cứu trước đây về vấn đề môi trường là:
Trang 10- Phạm vi nghiên cứu không theo ranh giới hành chính cấp huyện/tỉnh, mà gắn liềnvới các địa phương nơi cư trú của hầu hết học sinh trường THPT Nguyễn Viết Xuân.
- Thể hiện kết quả nghiên cứu về vấn đề môi trường qua các bản đồ do chính tác giảthành lập, như vậy học sinh có thể quan sát một cách trực quan, dễ hiểu; vừa biếtđược thực trạng từng loại môi trường gắn với mỗi địa phương; vừa phân tích đượccác nhân tố ảnh hưởng tới môi trường nói chung và từng thành phần của môi trườngnói riêng
Trang 11KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG LÂN
CẬN TRƯỜNG THPT NGUYỄN VIẾT XUÂN 1.1 Môi trường đất
1.1.1 Thực trạng môi trường đất
Các địa phương lân cận trường THPT Nguyễn Viết Xuân về cơ bản vẫn pháttriển ngành kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, do đó diện tích đất canh tác trồng lúa,hoa màu và chăn nuôi chiếm tỉ trọng lớn Diện tích tự nhiên của 15 xã/thị trấn thuộcphạm vi nghiên cứu là 7925,76 ha; trong đó đất sử dụng cho nông nghiệp là5.608,34 ha (chiếm 70,76%) Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trường đã tiếnhành lấy mẫu và phân tích mẫu đất tại một số vị trí như sau:
Bảng 1.1: Kết quả quan trắc môi trường đất
(Đơn vị: mg/kg)Mẫu Asen Chì (Pb) Cadimi (Cd) Đồng (Cu) Kẽm (Zn)
- Giá trị giới hạn áp dụng cho mẫu đất nông nghiệp
Trang 12Qua kết quả phân tích cho thấy: hàm lượng các kim loại nặng trong đất như:Asen (As), Chì (Pb), đồng (Cu), kẽm (Zn) tuy vẫn nằm trong giới hạn cho phépnhưng đều ở mức cao Riêng hàm lượng Cadimi (Cd) tại một số vị trí đã vượt quáQuy chuẩn: vị trí đất trồng rau dọc quốc lộ 2 của xã Đại Đồng (Đ1) vượt 1,25 lần sovới quy chuẩn (cao nhất trong số các mẫu quan trắc trên địa bàn toàn huyện VĩnhTường), vị trí đất trồng rau tại xóm Nội xã Chấn Hưng (Đ2) vượt 1,1 lần, vị trí đấttrồng rau tại xã Bình Dương vượt 1,05 lần.
Để so sánh mức độ ô nhiễm giữa các địa phương với nhau, chúng tôi cho điểmcác chỉ tiêu của môi trường đất như sau:
Bảng 1.2: Điểm đánh giá các thông số ô nhiễm môi trường đất
- Nhóm có thông số ô nhiễm cao (trên 15 điểm): xã Lũng Hòa với 18 điểm
- Nhóm có thông số ô nhiễm trung bình (từ 10 đến 15 điểm): xã Đại Đồng với 14điểm; xã Chấn Hưng, thị trấn Thổ Tang và xã Bình Dương với 13 điểm
- Nhóm có thông số ô nhiễm thấp (dưới 10): xã Hợp Thịnh với 6 điểm và xã ĐồngVăn với 9 điểm
1.1.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất nói chung có thể là các yếu tố tựnhiên (thiên tai, quá trình xói mòn, rửa trôi…) hoặc các yếu tố nhân tạo (chất thải và
Trang 13nước thải từ sinh hoạt, từ các hoạt động sản xuất công nghiệp – tiểu thủ côngnghiệp,làng nghề truyền thống và sản xuất nông nghiệp…ngấm trực tiếp xuống đất).Trong đó các yếu tố nhân tạo giữ vai trò chủ yếu.
Các địa phương lân cận trường THPT Nguyễn Viết Xuân, trong cơ cấu kinh tếngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo (trừ một số xã như Thổ Tang, Hợp Thịnh,Đồng Văn, Lũng Hòa, Việt Xuân) [7], do đó ngành nông nghiệp là ngành có tácđộng tới môi trường đất nhiều nhất Phần lớn đất trong vùng là đất phù sa, được hìnhthành do quá trình bồi đắp trước đây của sông Hồng; ngày nay do nằm trong đê nênkhông được bồi thêm hàng năm nữa, trong đất đã có sự phân hóa, hình thái phẫudiện khác nhiều so với đất phù sa được bồi tụ ban đầu Nhìn chung, đây là đất có độphì cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực, rau đậu vàcây ăn quả Hầu hết mẫu đất tại các địa phương này đều chứa hàm lượng kim loạinặng khá cao và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật họ Clo hữu cơ với nồng độ < 0,001mg/kg Nguyên nhân chủ yếu là do trong quá trình canh tác nông nghiệp, người dân
đã lạm dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật
- Trong các loại phân bón hóa học như phân lân thường chứa các kim loại nặng nhưAsen, Cadimi, Chì Việc sử dụng phân đạm với lượng lớn cũng làm tính chất đấtbiến đổi rõ rệt theo từng năm, mất dần chất dinh dưỡng, cùng với quá trình rửa trôicác ion Mg2+, Ca2+, K+ và tích tụ các ion Al3+, Fe3+ dẫn đến quá trình kết vón, đá onghóa, độ xốp của đất ngày càng giảm dần
- Thuốc bảo vệ thực vật là các chất hoá học hữu cơ hay vô cơ, rất cần thiết để diệtsâu, bệnh, cỏ dại bảo vệ cây trồng Nhưng các chất này có khả năng diệt khuẩn caonên còn đồng thời tiêu diệt nhiều vi sinh vật có ích làm các hoạt tính sinh học củađất bị giảm Ngoài ra nó còn có tính bền trong môi trường, tồn tại lâu trong đất, xâmnhập vào thành phần cây trồng, gây độc cho con người khi sử dụng các sản phẩmnông sản Các thuốc bảo vệ thực vật cũng chứa nhiều kim loại nặng như: As, Pb, Zn,
Cu, Mn…mức độ gây hại tương tự như phân bón hoá học
Trang 14Các chỉ số về kim loại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất tại cácđịa phương trên địa bàn nghiên cứu tuy hiện nay vẫn nằm trong giới hạn cho phépnhưng thường tồn dư rất lâu trong đất, nên nếu không sớm có biện pháp giảm thiểu thìtrong vài năm tới nồng độ của chúng sẽ vượt quá giới hạn cho phép do sự tích tụ quatừng năm Tăng cường công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của ngườidân trong việc kiểm soát và sử dụng các loại phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thựcvật; chú trọng sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh trong sản xuất nông nghiệp là mộtnhiệm vụ cấp bách và cần thiết.
Qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy, các địa phương có thông số ô nhiễm môitrường đất cao đều là những địa phương đang chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng vàmục đích sử dụng đất: từ trồng lúa sang trồng rau, thực phẩm và chăn nuôi gia súcgia cầm với quy mô lớn (như Lũng Hòa, Đại Đồng, Chấn Hưng, Thổ Tang)
1.2 Môi trường nước
1.2.1 Môi trường nước mặt
Huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc và Tam Dương nói chung, các xã trên địa bàn lâncận trường THPT Nguyễn Viết Xuân nói riêng đều có mật độ ao, hồ, đầm khá dày,phân bố đều khắp, với trữ lượng nước dồi dào; ngoài ra còn có thủy vực thuộc haicon sông là sông Phan và sông Phó Đáy Tuy nhiên, chất lượng nước mặt đã và đang
có chiều hướng suy giảm Khi tiến hành khảo sát chúng tôi thấy các ao, hồ, đầm ởmột số địa điểm đã đổi màu và bốc mùi khó chịu Qua số liệu quan trắc của Trungtâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trường tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả như sau:
Bảng 1.3: Kết quả quan trắc môi trường nước mặt
NH4+
(mg/l)
Dầu mỡkhoáng(mg/l)
TổngColiform(MPN/100ml)
Trang 15Ghi chú: Giá trị giới hạn trích theo QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn quốc gia
về chất lượng môi trường nước mặt.
Qua kết quả phân tích ta thấy ở các điểm quan trắc trên, môi trường nước mặt đã vàđang bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi các chất: tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầuoxy sinh hoá (BOD5), nhu cầu oxy hoá học (COD), amoni (NH+
Chúng tôi cho điểm các chỉ tiêu của môi trường nước mặt như sau:
Bảng 1.4: Điểm đánh giá các thông số ô nhiễm môi trường nước mặt
>7.500đến 9.000
>9.000đến12.000
Trang 16Căn cứ vào trọng số tổng của mỗi mẫu nước mặt, có thể thấy mức độ ô nhiễmmôi trường nước mặt tại các địa phương phân hóa thành 3 mức như sau:
- Nhóm có thông số ô nhiễm cao (trên 15 điểm): xã Lũng Hòa (19 điểm), Hợp Thịnh(18 điểm), Vĩnh Sơn (17 điểm), Yên Lập (16 điểm)
- Nhóm có thông số ô nhiễm trung bình (từ 10 đến 15 điểm): xã Kim Xá (14 điểm),
xã Đồng Văn (13 điểm)
- Nhóm có thông số ô nhiễm thấp (dưới 10): xã Bồ Sao (8 điểm)
1.2.2 Môi trường nước thải
Bên cạnh sự suy giảm chất lượng nước mặt, thì tình trạng ô nhiễm môi trườngnước thải cũng là vấn đề đáng quan tâm trên địa bàn các xã lân cận trường THPTNguyễn Viết Xuân Theo khảo sát của Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trườngthì nước thải trên địa bàn nói chung đều đã bị ô nhiễm từ trung bình đến nặng, cụ thểnhư sau:
Bảng 1.5: Kết quả quan trắc môi trường nước thải
Mẫu (mg/l)TSS (mg/l)BOD5 (mg/l)COD (mg/l)NH4+
Dầu mỡkhoáng(mg/l)
Tổng Coliform(MPN/100ml)
Trang 17Qua kết quả phân tích thì các chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải của những địaphương trên chủ yếu là: chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu ôxi hóa sinh học (BOD5),nhu cầu ôxi hóa học (COD), amoni (NH4+), tổng Colifrom Tất cả các thông số nàyđều vượt quá Quy chuẩn cho phép nhiều lần.
- Đối với chỉ tiêu tổng chất rắn lơ lửng (TSS), cả 8/8 vị trí vượt Quy chuẩn chophép Cao nhất là khu vực gần UBND xã Tân Tiến (NT8), nồng độ TSS vượt tới9,26 lần
- Đối với nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) cả 8/8 vị trí quan trắc vượt Quy chuẩn, caonhất là khu vực gần UBND xã Bình Dương (NT6) vượt 34,74 lần
- Chỉ tiêu nhu cầu oxi hóa COD cả 8/8 vị trí đều vượt Quy chuẩn Cao nhất là khuvực gần UBND xã Bình Dương (NT6) vượt 19,55 lần
Chúng tôi cho điểm các chỉ tiêu của môi trường nước thải như sau:
Bảng 1.6: Điểm đánh giá các thông số ô nhiễm môi trường nước thải
>600 đến800
>800 đến1000BOD5 0 - 100 >100 đến
400
> 400 đến800
> 800 đến1200
>1200đến 1600 >1600COD 0 - 500 >500 đến
1000
>1000 đến1500
>1500 đến2000
>2000đến 2500
>2500đến 3000
NH4+ 0 - 10 >10 đến
30
>30 đến60
>60 đến
90 > 90Dầu mỡ
khoáng 0 - 1 >1 đến 2 >2 đến 3 >3 đến 4
Tổng
Coliform
0 đến50.000
>50.000đến100.000
>100.000đến150.000
>150.000đến200.000
>200.000đến250.000Căn cứ vào trọng số tổng của mỗi mẫu nước thải, có thể thấy mức độ ô nhiễmmôi trường nước thải tại các địa phương phân hóa thành 3 mức như sau:
Trang 18- Nhóm có thông số ô nhiễm cao (trên 15 điểm): xã Bình Dương (21 điểm), Tân Tiến(20 điểm), Yên Bình (19 điểm), Đại Đồng (18 điểm), Lũng Hòa (16 điểm).
- Nhóm có thông số ô nhiễm trung bình (từ 10 đến 15 điểm): xã Vĩnh Sơn (13 điểm),Việt Xuân (12 điểm)
- Nhóm có thông số ô nhiễm thấp (dưới 10 điểm): Thổ Tang (8 điểm)
1.2.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước
Các địa phương trong vùng có diện tích nước mặt tương đối lớn Cùng với quátrình phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu khai thác và sử dụng nước của người dânngày càng tăng Các thuỷ vực có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước chosản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, tuy nhiên hiện nay chất lượng nướcmặt trong vùng đang có chiều hướng suy giảm Nguồn phát sinh chất thải, nước thảichủ yếu từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụthương mại và đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Trong khi đó, hầu nhưcác địa phương chưa có biện pháp xử lý sơ bộ nào trước khi thải vào các nguồn tiếpnhận vì vậy chất lượng nước bị suy giảm với tốc độ nhanh chóng
- Từ chăn nuôi: Số lượng gia súc, gia cầm trong vùng khá lớn (đàn trâu có hơn 1.400con, đàn bò có hơn 7.200 con, đàn lợn có hơn 35.000 con, đàn gia cầm có 336.000con) [3, 4, 5], trong khi đó nhiều cơ sở chăn nuôi chưa hợp vệ sinh (ví dụ: xã LũngHòa có 85%, xã Chấn Hưng có 47,4% cơ sở chăn nuôi chưa hợp vệ sinh) [7]
- Trong nuôi trồng thủy sản: thức ăn dư thừa phân hủy thối rữa cùng với phân và cácloại rác thải khác đọng lại dưới đáy hồ; ngoài ra còn các hóa chất và kháng sinh tồn
dư trong quá trình nuôi
- Trong trồng trọt: các hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học một phần đượccây trồng hấp thu, một phần ngấm xuống đất, một phần ô-xy hóa thành dạng khí baylên, còn lại lượng lớn được rửa trôi theo nguồn nước chảy vào kênh mương, ao hồ,sông ngòi
- Trong sinh hoạt: lượng nước thải sinh hoạt bình quân cho một người dân khoảng
50 – 80 lít/ngày Như vậy tổng lượng nước thải sinh hoạt trong vùng khoảng 6.764
m3 – 10.823 m3/ngày Ngoài ra trên địa bàn còn có hàng trăm nhà hàng, quán ăn bìnhdân và các dịch vụ rửa xe với lượng nước thải tạo ra khoảng 150 – 200 m3/ngày Hầu
Trang 19hết nước thải chưa được xử lí, 90% lượng nước thải này đổ thẳng vào các ao, hồtrong khu dân cư sau đó chảy ra sông và một phần ngấm xuống đất [9]
Trong các thủy vực tại địa bàn nghiên cứu, sông Phan đang bị ô nhiễm nghiêmtrọng, nhất là đoạn chảy qua thị trấn Thổ Tang, xã Đồng Văn, Lũng Hòa, Vĩnh Sơn
Do sông Phan là nguồn tiếp nhận nước thải, rác thải của nhiều làng nghề chưa đượcquy hoạch nằm xen kẽ trong khu dân cư (trong đó có làng nghề sản xuất và chế biếnphế thải sắt thép Đồng Văn, làng nghề rắn Vĩnh Sơn); ngoài ra còn có nguồn thải từcác hoạt động thương mại đang phát triển mạnh của các địa phương khác (Thổ Tang,Lũng Hòa) Qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy nhiều đoạn sông đang bị các loạirác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại làng nghề, vật liệu xây dựng đổ phủ kín hai bên
bờ Tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước thường là các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng,kim loại nặng, các anion có độc tính cao, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật Điềunày sẽ làm ảnh hưởng tới hệ động thực vật thuỷ sinh hiện có của sông Phan đồngthời cũng làm giảm chất lượng, năng suất của cây trồng nông nghiệp, nuôi trồngthuỷ sản khi lấy nguồn nước từ sông Phan
1.3 Môi trường không khí
1.3.1 Thực trạng môi trường không khí
Hiện nay, chất lượng môi trường không khí trên địa bàn đang có chiều hướngsuy giảm Theo kết quả quan trắc của Trung tâm Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường,không khí tại một số địa điểm trong vùng đã có dấu hiệu ô nhiễm về lượng bụi vàtiếng ồn
Bảng 1.7: Kết quả quan trắc môi trường không khí
Mẫu Tiếng ồn
(dBA)
Bụi tổng số(mg/m3)
Độ rung(dB)
CO(mg/m3)
Trang 20- Giá trị giới hạn trích theo QCVN 05:2009/BTNMT – Quy chuẩn quy định giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh.
- Tiếng ồn: Trích theo QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn.
- Độ rung: Trích theo QCVN 27:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung
Qua kết quả phân tích ta thấy, một số địa điểm có các thông số vượt giới hạn chophép về tiếng ồn và lượng bụi
- Về tiếng ồn: tại khu vực cây xăng quân đội của xã Hợp Thịnh (KK1) vượt 1,11 lần.tại cổng chợ Thổ Tang (KK4) vượt 1,03 lần
- Về nồng độ bụi, khu vực cây xăn quân độ của xã Hợp Thịnh (KK1) vượt 1,16 lần
Do khí thải được phát tán nên hầu hết các chỉ tiêu trong không khí đều thấp hơntiêu chuẩn cho phép, song vẫn có ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân trong khuvực và các vùng lân cận Qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy tại nhiều địa điểm chưa
có số liệu quan trắc, môi trường không khí cũng đang phải đối mặt với tình trạng giatăng bụi bẩn, nhất là trên các tuyến quốc lộ, huyện lộ và tại cổng các chợ lớn
Chúng tôi cho điểm các chỉ tiêu của môi trường không khí như sau:
Bảng 1.8: Điểm đánh giá các thông số ô nhiễm môi trường không khí
Điểm
Tiếng ồn 0 - 65 > 65 - 70 > 70 - 75 > 75 - 80Bụi tổng số < = 0,2 > 0,2 – 0,3 > 0,3 – 0,4
Độ rung 40 - 50 > 50 - 60 > 60 - 70
SO2 < = 0,015 > 0,015 – 0,020 >0,020–0,025
NO2 < = 0,013 > 0,013 – 0,016 >0,016–0,019 > 0,019Căn cứ vào trọng số tổng của mỗi mẫu không khí, có thể thấy mức độ ô nhiễmmôi trường không khí tại các địa phương phân hóa thành 3 mức như sau:
Trang 21- Nhóm có thông số ô nhiễm cao (trên 15 điểm): xã Hợp Thịnh (17 điểm), thị trấnThổ Tang (16 điểm).
- Nhóm có thông số ô nhiễm trung bình (từ 10 đến 15 điểm): xã Đồng Văn (14điểm), Việt Xuân (13 điểm)
- Nhóm có thông số ô nhiễm thấp (dưới 10 điểm): xã Tân Tiến (9 điểm)
1.3.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí
Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí rất phức tạp:
- Do hoạt động giao thông: Dọc tuyến quốc lộ 2A (đoạn từ ngã tư Quán Tiên đến hếthuyện Vĩnh Tường) và một số tuyến tỉnh lộ đi qua các xã như Việt Xuân, Thổ Tang,Kim Xá, Yên Bình, có nhiều xe trọng tải lớn lưu thông nên lượng bụi trong khôngkhí cao, trong đó các khí độc hại như CO, SO2, NOx, hơi xăng dầu, bụi chì,benzen….Chỉ tính riêng trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, lượng xe tham gia giaothông thời kỳ 2001 – 2006 tăng 13%/năm, năm 2012 tăng thêm 40%, dự tính đếnnăm 2020 tăng thêm 100% Như vậy lượng phát thải các chất khí gây ô nhiễm môitrường không khí do hoạt động giao thông đường bộ sẽ tăng tương ứng với số lượng
xe lưu thông trên đường, tức là đến năm 2020 tăng gấp hai lần so với năm 2012 [9]
- Do hoạt động xây dựng: Trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng cho các cụm côngnghiệp, cụm tiểu thủ công nghiệp – làng nghề, các đường giao thông, các khu dân cư,lượng khói bụi phát sinh không chỉ từ chính các phương tiện cơ giới đang lưu thông màcòn từ bùn, đất, cát, sỏi và các vật liệu xây dựng khác được chuyên chở trên xe
- Do sản xuất nông nghiệp: Hoạt động chăn nuôi và giết mổ gia súc gia cầm gây mùi
xú uế Bên cạnh đó, các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu chủ yếu được xử
lý bằng cách đốt rồi dùng tro bón ruộng; cách làm này vừa gây lãng phí, vừa gây ônhiễm môi trường không khí do khói bụi, đồng thời còn gây nguy cơ cháy nổ
- Do các hoạt động kinh tế khác: Hoạt động chế biến nông sản (xã Lũng Hòa, ThổTang), tái chế phế liệu (xã Đồng Văn), đốt gạch ngói thủ công (xã Đại Đồng, Yên Bình,
Bồ Sao) không chỉ ảnh hưởng đến nồng độ bụi trong không khí mà còn gây ra tiếng ồn
Trang 22Các loại bụi trong không khí có kích thước nhỏ nên dễ dàng xâm nhập vào cơthể qua đường hô hấp, gây ra các kích thích cơ học và phát sinh bệnh về đường hôhấp như ghẹt mũi, viêm mũi, viêm xoang, viêm phổi tắc nghẽn mãn tính…Nếu bámvào mắt gây bệnh loét giác mạc, viêm mắt, đau mắt đỏ Trong khói bụi có rất nhiều
vi khuẩn, vi nấm độc hại, cả chất nhựa dầu từ khói xe thải ra, khi con người tiếp xúctrong thời gian dài sẽ ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe Đặc biệt đáng lo ngại,theo phân tích của các cơ quan chức năng thì chỉ tiêu tiếng ồn và bụi trong khôngkhí đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Do đó cần phải có cácbiện pháp giảm thiểu tình trạng này, nhằm bảo vệ môi trường không khí, bảo vệ sứckhỏe của người dân
1.4 Chất thải rắn
1.4.1 Tình hình gia tăng chất thải rắn
Theo đánh giá của Chi cục Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Phúc, tìnhtrạng gia tăng lượng chất thải rắn hiện nay đang là vấn đề môi trường cấp bách cần
ưu tiên trên địa bàn huyện Vĩnh Tường nói riêng, ở vùng nông thôn Vĩnh Phúc nóichung Nguồn phát sinh chủ yếu từ rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình và các chợ;
từ hoạt động sản xuất nông nghiệp; từ hoạt động sản xuất của các làng nghề
Riêng về chất thải rắn trong sinh hoạt: Theo kết quả nghiên cứu của Sở TàiNguyên và Môi trường Vĩnh Phúc, hệ số phát thải chất thải rắn sinh hoạt ở vùngnông thôn hiện nay khoảng 0,5 kg/người/ngày, dự báo đến năm 2015 lên tới khoảng0,6 kg/người/ngày, năm 2020 có thể lên tới 0,8 kg/người/ngày [7] Căn cứ vào hệ sốphát sinh rác thải và số dân của các địa phương, có thể ước tính lượng rác thải sinhhoạt hàng ngày của các địa phương hiện nay như sau:
Bảng 1.9: Lượng rác thải rắn sinh hoạt hàng ngày của các địa phương
31/12/2012
Lượng chất thải rắnphát sinh (tấn/ngày)
Trang 23(Nguồn: Xử lí số liệu từ niên giám thống kê)
Tuy nhiên trên thực tế, lượng rác thải sinh hoạt giữa các địa phương khônggiống như con số ước tính trên, vì nó không chỉ phụ thuộc vào số dân mà còn phụthuộc vào hoạt động kinh tế và mức sống của người dân ở từng địa phương Các địaphương có thu nhập cao, có hoạt động kinh doanh dịch vụ thương mại và các cụmcông nghiệp, làng nghề phát triển thì lượng rác thải phát sinh càng nhiều, như: thịtrấn Thổ Tang khoảng 12 tấn/ngày, xã Đại Đồng khoảng 4-5 tấn/ngày…[9] Địaphương đang đối mặt với vấn nạn rác thải lớn nhất là thị trấn Thổ Tang (huyện VĩnhTường) Nơi đây có số lượng dân cư tập trung đông với mật độ dân số cao nhấthuyện: 2.963 người /km2 [3]; tỷ lệ người dân làm dịch vụ, buôn bán chiếm tới 85%;ngoài ra còn hàng ngàn lượt người đến giao dịch, buôn bán mỗi ngày Theo ước tính,mỗi ngày lượng rác thải ra trên địa bàn thị trấn khoảng 10 đến 12 tấn, riêng khu vựcchợ Giang cũng lên tới 1 - 1,5 tấn rác thải mỗi ngày
Căn cứ vào lượng rác thải rắn trong sinh hoạt ước tính như trên, có thể phânthành 3 nhóm như sau:
- Nhóm có lượng rác thải cao (trên 5 tấn/ngày): Thổ Tang, Đại Đồng, Vĩnh Sơn,Đồng Văn, Hợp Thịnh, Bình Dương
- Nhóm có lượng rác thải trung bình (4 – 5 tấn/ngày): Lũng Hòa, Kim Xá, Yên Bình,Chấn Hưng, Nghĩa Hưng
- Nhóm có lượng rác thải thấp (dưới 4 tấn): Yên Lập, Tân Tiến,Việt Xuân, Bồ Sao
1.4.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn
* Từ sinh hoạt
Theo kết quả phân tích của Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ Môi trường Vĩnh
Trang 24Theo ước tính tại bảng 1.9 thì tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các khudân cư trên địa bàn nghiên cứu khoảng 67,2 tấn/ngày.
* Từ hoạt động sản xuất nông nghiệp:
Rác thải từ sản xuất nông nghiệp bao gồm chai, lọ, bình, vỏ, bao bì đựng cácloại phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, rơm rạ, thực vật dư thừa Tuy đây lànguồn chất thải rắn thuộc danh mục độc hại cần thu gom, xử lý đúng quy định,nhưng trên thực tế sau khi sử dụng người nông dân thường vứt bừa bãi ven các kênh
đê, mương nước hoặc dọc các tuyến giao thông nội đồng; nguy hiểm hơn, có khi cònvứt xuống ao, hồ đầu nguồn nước sinh hoạt
* Từ các làng nghề truyền thống và làng nghề tiểu thủ công nghiệp:
Trên địa bàn nghiên cứu có: làng nghề rắn Vĩnh Sơn (tổng số hộ là 1.295 hộ,trong đó có 61,77% hộ làm nghề); làng nghề cơ khí vận tải đường thủy Việt An, xãViệt Xuân (tổng số hộ là 158 hộ, trong đó 85% hộ làm nghề); làng nghề tái chế kimloại phế thải tại xã Đồng Văn [9] Chất thải rắn làng nghề gồm nhiều chủng loạikhác nhau, ngày càng gia tăng về số lượng, đa dạng và phức tạp về thành phần như:nhãn mác, tạp chất không tái sinh, chi tiết kim loại, cao su (ở các hộ tái chế nhựa), rỉsắt, vụn kim loại nặng (ở các hộ tái chế kim loại); nước thải, phân rắn, rấn chết, các phếphẩm từ thức ăn của rắn (ở làng nghề rắn Vĩnh Sơn) Qua kết quả điều tra do Trung
Trang 25tâm Tài nguyên và Bảo vệ Môi trường Vĩnh Phúc thực hiện, lượng chất thải rắn phátsinh trung bình mỗi ngày tính riêng tại làng nghề rắn Vĩnh Sơn đạt khoảng 10,7 tấn.Trong khi lượng chất thải rắn ngày càng gia tăng thì công tác thu gom, xử líchưa đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật và vệ sinh môi trường Các chất thải rắn sinhhoạt chưa được phân loại tại nguồn Gần 80% lượng rác thải sinh hoạt trên địa bànđược hợp tác xã dịch vụ vệ sinh môi trường hoặc tổ vệ sinh môi trường ở các xã, thịtrấn thu gom, vận chuyển đến bãi rác tập trung hoặc bãi rác tạm; tuy nhiên việc thugom mới tiến hành ở một số khu vực trung tâm đông dân cư, tỉ lệ thu gom trungbình đạt khoảng 40 – 50%, tần suất thu gom khoảng 8 – 15 lần/tháng Toàn bộ lượngrác thải thu gom vẫn xử lí bằng phương pháp chôn lấp, đổ lộ thiên hoặc đốt tự do.Bên cạnh đó còn một số địa phương chưa bố trí được bãi rác tập trung để tập kết và
xử lí rác thải như xã Kim Xá, Việt Xuân, Yên Lập, Tân Tiến…[2] Rác thải tại cáclàng nghề, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất chế biến, kinh doanh, dịch vụ bênngoài cụm công nghiệp bao gồm nhiều chất thải nguy hại nhưng vẫn chưa được xử lítheo đúng quy định Hầu hết các làng nghề hiện nay bố trí gần khu dân cư tập trungnên hoạt động thu gom xử lí chất thải rắn càng gặp nhiều khó khăn
1.5 Đánh giá các nhân tố chung tác động tới môi trường
Mỗi thành phần của môi trường chịu sự tác động của các nhân tố khác nhau Tuynhiên, qua phân tích cơ sở lý luận và khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy chất lượngmôi trường từng thành phần nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung trên địa bànnghiên cứu đều chịu sự tác động của các nhân tố sau:
* Thứ nhất: Sự gia tăng dân số
Dân số và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự biến động dân số sẽ
có tác động tích cực hoặc tiêu cực tới chất lượng môi trường Dân số càng đông và giatăng nhanh thì sức ép tới môi trường và tài nguyên càng lớn do nhu cầu về nhà ở, lươngthực thực phẩm và các sản phẩm công nghiệp; lượng nước thải, khí thải, chất thải rắntăng cao Theo niên giám thống kê năm 2012, dân số của các địa phương trong phạm
Trang 26vi nghiên cứu là 135.294 người, chủ yếu là đồng bào dân tộc Kinh Mật độ dân sốbình quân toàn khu vực là 1.707 người/km2 (cao hơn mật độ dân số trung bình toàntỉnh: 816 người/km2), nhưng phân bố không đều: tập trung ở các địa phương cóngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển như Thổ Tang (2.963 người/km2),Đồng Văn (2.713 người/km2), Tân Tiến (2.082 người/km2), Đại Đồng (1.880người/km2), Nghĩa Hưng (1.768 người/km2)…Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của các
xã thuộc loại cao trong tỉnh, thấp nhất là xã Bồ Sao (0,36%), cao nhất là xã ChấnHưng (2,32%), các địa phương khác dao động trong khoảng 1,4 – 1,8% [3,4,5]
* Thứ hai: Sự phát triển kinh tế
Sự phát triển kinh tế và môi trường tự nhiên có mối quan hệ khăng khít vớinhau: môi trường tự nhiên là điều kiện cho kinh tế phát triển và kinh tế phát triển là
cơ sở tạo nên các biến đổi của môi trường tự nhiên Các địa phương lân cận trườngTHPT Nguyễn Viết Xuân nhìn chung có nền kinh tế tương đối phát triển so vớinhiều địa phương khác trong tỉnh (ví dụ: Thổ Tang đạt 101 tỷ đồng, Yên Lập đạt hơn
94 tỷ đồng, Vĩnh Sơn đạt 89 tỷ đồng…) Cơ cấu kinh tế trong những năm gần đâyđang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: giảm tỉ trọng nông - lâm - thủy sản,tăng tỉ trọng ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ (vídụ: tỉ trọng ngành thương mại dịch vụ xã Việt Xuân là 69%, Lũng Hòa là 64%,; tỉtrọng ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của xã Đồng Văn là 58,8% ) [7].Trên địa bàn đang hình thành những vùng sản xuất tập trung, những cụm côngnghiệp, làng nghề như: Tân Tiến, Thổ Tang, Đại Đồng, Chấn Hưng, Đồng Văn, HợpThịnh, Vĩnh Sơn, Việt Xuân, cùng với đó là sự gia tăng số lượng và quy mô các nhàmáy, xí nghiệp và hệ thống cơ sở hạ tầng (mạng lưới giao thông, các chợ, trườnghọc, bệnh viện…).[9]
* Thứ ba: Công tác quản lý bảo vệ môi trường của các cấp, các ngành
Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường đã có, song những hướng dẫn cụ thể của cơquan chuyên môn để thực hiện với tình hình tại mỗi địa phương còn thiếu và chưa đồng