1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020

116 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Phương Pháp Xây Dựng Chiến Lược Phát Triển Khoa Học Và Công Nghệ Cấp Tỉnh, Áp Dụng Cho Tỉnh Quảng Ninh Giai Đoạn 2006 – 2020
Tác giả Trần Văn Minh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nhóm Văn Toán
Trường học Trường Đại Học Mỏ – Địa Chất
Chuyên ngành Kinh Tế Cụng Nghiệp
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 740,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CễNG NGHỆ CẤP TỈNH.. Bảng 2.1: Kết quả cuộc điều tra về q

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ – ĐỊA CHẤT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ – ĐỊA CHẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Nhâm Văn Toán

HÀ NỘI, 2007

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người viết luận văn

TRẦN VĂN MINH

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Lí THUYẾT XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC

VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

1.2 Các phương pháp tổng quát và tuần tự xây dựng chiến lược 12

1.4 Một số phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT

TRIỂN KHOA HỌC, CễNG NGHỆ CẤP TỈNH XÂY DỰNG LUẬN CỨ

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CễNG

2.1 Phương pháp hoạch định chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp

2.2 Xây dựng luận cứ hoạch định chiến lược phát triển khoa học, công

CHƯƠNG 3 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CễNG NGHỆ

3.3 Các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ ưu tiên 89

DANH MỤC CễNG TRèNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

1 Bảng 1.1: Bảng điểm đánh giá theo phương pháp chuyên gia 21

2 Bảng 2.1: Kết quả cuộc điều tra về quy trình và công cụ xây dựng chiến

lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh bằng phương pháp chuyên

3 Bảng 2.2: Kết quả điều tra Delphi vòng 3 về các chỉ tiêu chủ yếu của

chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh 41

10 Bảng 2.9: Vốn ngân sách sự nghiệp khoa học, công nghệ tỉnh Quảng

11 Bảng 2.10: Kết quả triển khai nghiên cứu khoa học – phát triển công

12 Bảng 2.11: Các lĩnh vực khoa học, công nghệ ưu tiên của tỉnh Quảng

13 Bảng 2.12: Tính tương thích giữa các lĩnh vực khoa học, công nghệ ưu

tiên của tỉnh Quảng Ninh với các chương trình trọng điểm về khoa học,

Trang 6

15 Bảng 2.14: Các thông số của phương án A1 74

18 Bảng 2.17: Các thông số của phương án KXH1 77

19 Bảng 2.18: Các thông số của phương án KXH2 78

20 Bảng 2.19: Các thông số của phương án KXH3 79

21 Bảng 2.20: Các thông số của phương án KNS1 80

22 Bảng 2.21: Các thông số của phương án KNS2 81

23 Bảng 2.22: Các thông số của phương án KNS3 82

Trang 7

30 Hình 1.1.Mô hình quản trị chiến lược tổng quát 10

31 Hình 1.2.Quy trình tám bước xây dựng chiến lược 11

33 Hình 1.4.Mô hình phương pháp thẩm tra biện chứng 13

34 Hình 1.5.Mô hình kế hoạch hóa từ trên xuống 14

37 Hình 1.8.Tác động thúc đẩy – lôi kéo của khoa học, công nghệ và phát

38 Hình 1.9.Mối quan hệ giữa các yếu tố trong chiến lược phát triển khoa

39 Hình 1.10.Ma trận thứ tự ưu tiên các cơ hội 23

40 Hình 1.11.Ma trận thứ tự ưu tiên các nguy cơ 24

41 Hình 2.1.Quy trình và các công cụ xây dựng chiến lược phát triển khoa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Đầu thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ Động lực cho sự phát triển chính là cuộc cách mạng khoa học, công nghệ với những bước phát triển có tính đột phá vào cuối thế kỷ XX Những thành tựu to lớn của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin – truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng mới,… đang làm cho xã hội loài người chuyển từ thời đại công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức Khoa học, công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu Sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc một phần rất lớn vào năng lực khoa học, công nghệ

Chiến lược Phát triển khoa học, công nghệ Việt Nam đến năm 2010 đã chỉ rõ: – Phát triển khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

– Phát triển kinh tế – xã hội phải dựa vào khoa học, công nghệ Phát triển khoa học, công nghệ định hướng vào các mục tiêu kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh

– Bảo đảm sự gắn kết giữa khoa học, công nghệ với giáo dục và đào tạo; giữa khoa học và công nghệ; giữa khoa học xã hội – nhân văn, khoa học tự nhiên

và khoa học kỹ thuật

– Đẩy mạnh tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ thế giới, đồng thời phát huy năng lực khoa học, công nghệ nội sinh, nâng cao hiệu quả sử dụng tiềm lực khoa học, công nghệ của đất nước

– Tập trung đầu tư của nhà nước vào các lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên; đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động khoa học, công nghệ

Trang 9

Để cụ thể hoá chiến lược phát triển khoa học, công nghệ Quốc gia, cần thiết phải xây dựng các chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh Ở Việt Nam, cho đến thời điểm này, về mặt phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để Chúng ta chưa có được một quy trình và các công cụ thống nhất để thực hiện nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh Cũng chính vì lẽ đó, đến nay hầu hết các tỉnh trong cả nước chưa xây dựng được chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cho tỉnh mình, tỉnh Quảng Ninh cũng nằm trong số đó

Tại Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XII, mục tiêu tổng quát cho phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 ÷ 2010 đã được xác định là:

Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ và đồng bộ, động viên mọi nguồn lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích cực Hội nhập quốc tế; phấn đấu phát triển kinh tế với tốc độ cao, ổn định, bền vững, gắn kết với các lĩnh vực văn hoá – xã hội; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của các hệ thống chính trị; bảo đảm quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thật sự trở thành một địa bàn động lực và phát triển năng động trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc

bộ và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2015 Quảng Ninh cũng đã

cụ thể hoá mục tiêu tổng quát trên bằng Quy hoạch Tổng thể phát triển kinh tế –

xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Vấn đề đặt ra

là, Quảng Ninh cần sớm xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ để thúc đẩy một cách mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ trên địa bàn tỉnh, nhằm tạo ra động lực mạnh cho nền kinh tế

Chính vì những lý do đó, đề tài: Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 ÷ 2020 là hết sức cần thiết Đề tài sẽ góp phần giải quyết về lý luận và

Trang 10

thực tiễn vấn đề hoạch định chiến lược phát triển khoa học, công nghệ địa phương, tạo tiền đề cho việc xây dựng chiến lược này càng sớm càng tốt

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài

– Đối tượng nghiên cứu: Về lý thuyết, sẽ nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh Về thực hành, sẽ ứng dụng phương pháp xây dựng chiến lược được lựa chọn để hoạch định Chiến lược Phát triển Khoa học, Công nghệ tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 – 2020

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Công việc nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong việc xác định quy trình và các công cụ để hoạch định chiến lược khoa học, công nghệ cấp tỉnh + Công việc thực hành được thực hiện trên tập hợp số liệu thực tế của tỉnh Quảng Ninh với thời gian hồi cứu tài liệu là 5 năm (từ 2001 – 2005)

3 Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu của Đề tài

– Phương pháp nghiên cứu: Người viết luận văn sẽ phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đạt được mục tiêu của đề tài (phương pháp phân tích

hệ thống, phương pháp phân tích chính sách, phương pháp dự báo, phương pháp nhìn trước công nghệ – Foresight,…)

– Cơ sở dữ liệu: Số liệu trong đề tài được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh (giai đoạn 2001 ÷ 2005); từ các tư liệu lưu trữ của tỉnh, số liệu điều tra thực tế

4 Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài

– Nghiên cứu, đề xuất phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh có tính khoa học và tính thực tiễn cao

– Thực hành xây dựng Chiến lược Phát triển Khoa học, Công nghệ tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 ÷ 2020

Trang 11

5 Nội dung nghiên cứu của Đề tài

Nội dung đề tài gồm 3 phần:

– Tổng quan lý thuyết xây dựng chiến lược và các phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ

– Phương pháp hoạch định chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh Xây dựng luận cứ để hoạch định Chiến lược Phát triển Khoa học, Công nghệ tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 ÷ 2020

– Chiến lược Phát triển Khoa học, Công nghệ tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn

2006 ÷ 2020 (Dự thảo)

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài

– Ý nghĩa khoa học: Đề xuất phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh, bao gồm các nội dung cơ bản và kỹ thuật tiến hành Kết quả nghiên cứu có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu, hoàn thiện phương pháp luận xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh có tính khoa học và tính thực tiễn cao

– Ý nghĩa thực tiễn: Quảng Ninh là địa phương mà người viết luận văn hiện đang công tác, do vậy, ngoài ý nghĩa là một luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, hy vọng rằng, những kết quả nghiên cứu sẽ tạo thêm cơ sở khoa học cho việc xây dựng và ban hành chiến lược phát triển khoa học, công nghệ của tỉnh Quảng Ninh, nhằm thực hiện thắng lợi Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Kết quả đề tài có thể coi là một dự thảo về Chiến lược Phát triển Khoa học, Công nghệ tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 ÷ 2020 để các cấp có thẩm quyền xem xét, tham khảo

7 Kết cấu của Luận văn

Toàn bộ nội dung của luận văn được trình bày gồm 3 chương, 12 hình và 29 bảng

Trang 12

Luận văn được hoàn thành tại Khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Mỏ – Địa chất Hà Nội Người viết luận văn đã được học tập chương trình thạc sĩ kinh tế công nghiệp tại đây, nhờ quá trình đào tạo, chỉ dẫn của nhiều thầy, cô giáo trong trường Nhân dịp này, người viết luận văn xin bày

tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đối với các thầy, cô giáo của nhà trường Đặc biệt, người viết luận văn trân trọng tri ân người hướng dẫn khoa học của mình – PGS.TS Nhâm Văn Toán vì sự chỉ dẫn tận tình có trách nhiệm của thầy trong quá trình hoàn thành luận văn này Người viết luận văn cũng xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các nhà quản lý trong và ngoài tỉnh, các đồng nghiệp

đã dành cho sự cộng tác, giúp đỡ có hiệu quả

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn trong luận văn còn nhiều thiếu sót, cả về nội dung lẫn hình thức Xin trân trọng tiếp thu mọi ý kiến của người đọc luận văn

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC

VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC

PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ

Trong chương này, người viết luận văn sẽ trình bày một cách có chọn lọc những vấn đề cốt lõi về chiến lược và quản trị chiến lược – trong đó đặc biệt chú trọng đến quy trình và phương pháp hoạch định chiến lược Đây là những vấn đề rất cần thiết để có thể lựa chọn được một quy trình và phương pháp hợp lý khi hoạch định chiến lược khoa học, công nghệ cấp tỉnh Thuật ngữ chiến lược – straregy sử dụng trong chương này được hiểu theo nghĩa rộng nhất, lúc đó chúng

ta chưa quan tâm đến đối tượng, phạm vi mà chiến lược tác động đến Cũng trong chương này, người viết luận văn sẽ dành một phần để trình bày một cách cụ thể các phương pháp (nói đúng hơn là các công cụ) thường được sử dụng khi hoạch định chiến lược khoa học, công nghệ trên thế giới và ở Việt Nam Việc làm như vậy cho phép không cần phải trình bày lại khi sử dụng các phương pháp này để hoạch định chiến lược phát triển khoa học, công nghệ tỉnh Quảng Ninh

1.1 Tæng quan vÒ lý thuyÕt x©y dùng chiÕn l−îc

1.1.1 Khái niệm về chiến lược và một số vấn đề có liên quan [7], [9], [12], [13], [18]

Thuật ngữ chiến lược (straregy) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, ghép giữa hai từ “stratos” (quân đội, bầy, đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều khiển) Thuật ngữ này vốn xuất phát từ lĩnh vực quân sự Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử khoa học quân sự nhận thấy rằng, vai trò của chiến lược nổi lên rõ rệt khi mục tiêu cuối cùng không thể đạt được bằng một chiến dịch đơn lẻ, mà cần phải trải qua một số giai đoạn trên con đường hành động Cần phải kết hợp các chiến dịch, sao cho các mục tiêu cục bộ đạt được trong từng chiến dịch hợp thành một con đường ngắn nhất đạt tới mục tiêu quân sự cuối cùng Có nhiều cách nói khác nhau về chiến lược:

Trang 14

– Chiến lược là mô hình tổng hợp các hành động cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu đã định ra

– Chiến lược của một tổ chức là tập hợp của tất cả các mục tiêu chính và các phương pháp để đạt được mục tiêu đó

– Chiến lược là hướng phát triển trong một giai đoạn xác định để đạt được các lợi thế cạnh tranh lâu dài và các mục đích chung của tổ chức

– Chiến lược là kế hoạch tổng hợp về mọi mặt, hướng tới thực hiện được sứ mạng và các mục tiêu khác nhau của tổ chức với hiệu quả lớn nhất

– Chiến lược là tổ hợp mục tiêu dài hạn và con đường để đạt tới mục tiêu đặt ra Tuy cách nói về chiến lược là không hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung, hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng, nội dung chiến lược bao gồm: – Định rõ mục tiêu cần đạt

– Chỉ rõ con đường cần đi

– Định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn

Một số ít tác giả không cho phần xác định mục tiêu vào nội dung của chiến lược và coi chiến lược là công cụ, là con đường để đạt mục tiêu đề ra

Trong ba yếu tố mục tiêu, con đường và nguồn lực, phần lớn các tác giả công nhận nguồn lực là yếu tố hạn chế, nhiệm vụ của chiến lược là phải tìm ra phương thức sử dụng các nguồn lực để có thể đạt được mục tiêu cao nhất

Việc làm rõ mục tiêu cần đạt có ý nghĩa vô cùng quan trọng Thiếu mục tiêu hành động chung, các phân hệ sẽ chạy theo mục tiêu cục bộ của mình và thậm chí nhiều khi còn xung đột lẫn nhau và kết quả là không thể có được hành động thống nhất Mục tiêu thống nhất cũng sẽ qui định tiêu chuẩn đánh giá tính hợp lý của hướng hành động lựa chọn và đóng vai trò là thước đo hiệu quả đạt được, định hướng chung cho hoạt động của toàn hệ thống Nhiều tác giả đồng ý quan điểm rằng, mục tiêu xác định không đúng đắn có nghĩa là đã theo đuổi, giải quyết

Trang 15

một vấn đề đặt ra không trúng từ đầu và điều đó dẫn tới phung phí các nguồn lực, như vậy, còn nguy hiểm hơn cả trường hợp giải quyết không có hiệu quả vấn đề được đặt ra đúng đắn

Mục tiêu được hiểu khái quát nhất là cái “đích” cần đạt tới Mục tiêu chiến lược chỉ gắn với các thời kỳ chiến lược xác định nên các mục tiêu chiến lược cũng mang những đặc trưng riêng

Trước hết các mục tiêu chiến lược thường là dài hạn do nhiều nhà quản trị học cho rằng chiến lược là dài hạn Ngày nay quan niệm này không còn mang tính tuyệt đối, vì đã xuất hiện các quan điểm về khoảng thời gian không dài của chiến lược, về chiến lược tức thời

Hệ thống mục tiêu chiến lược bao giờ cũng là một hệ thống các mục tiêu (khác nhau ở cả tính chất tổng quát, phạm vi,…), mỗi mục tiêu đóng vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển, có tác động qua lại một cách biện chứng lẫn nhau

Hệ thống mục tiêu chiến lược cần thỏa mãn các yêu cầu:

– Tính nhất quán: Tính nhất quán đòi hỏi các mục tiêu phải thống nhất, phù hợp nhau, việc hoàn thành mục tiêu này không cản trở việc thực hiện các mục tiêu khác Đây là yêu cầu đầu tiên, đóng vai trò quan trọng để đảm bảo rằng hệ thống mục tiêu phải được thực hiện và phải hướng vào hoàn thành các mục tiêu tổng quát của từng thời kỳ chiến lược

Hệ thống mục tiêu phải thống nhất Khi hệ thống mục tiêu không thống nhất

sẽ dẫn đến nhiều tác hại như không thực hiện được mọi mục tiêu đã xác định, gây

ra nhiều mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức…

Nếu xem xét toàn bộ thời kỳ chiến lược, xem xét mối quan hệ giữa các mục tiêu dài hạn (chiến lược) và các mục tiêu ngắn hạn hơn (chiến thuật) đòi hỏi phải xác định rõ ràng các mục tiêu trong từng khoảng thời gian cụ thể, phải đảm bảo tính liên kết, tương hỗ lẫn nhau giữa các mục tiêu và phải xác định rõ mục tiêu ưu tiên trong từng thời kỳ cụ thể

Trang 16

– Tính cụ thể: Xét trên phương diện lý luận, khoảng thời gian càng dài bao nhiêu thì hệ thống mục tiêu càng giảm tính cụ thể bấy nhiêu và ngược lại Tuy nhiên, yêu cầu về tính cụ thể của hệ thống mục tiêu không đề cập đến tính dài ngắn của thời gian mà yêu cầu mục tiêu chiến lược phải đảm bảo tính cụ thể Muốn vậy, khi xác định mục tiêu chiến lược cần chỉ rõ: mục tiêu liên quan đến những vấn đề gì, giới hạn thời gian thực hiện, kết quả cụ thể cuối cùng cần đạt Giữa tính cụ thể và tính chính xác về định lượng có mối liên hệ mật thiết với nhau Vì vậy, khi hình thành mục tiêu chiến lược phải cố gắng xây dựng các mục tiêu định lượng đến mức cao nhất trong trường hợp có thể

Hệ thống mục tiêu càng cụ thể bao nhiêu càng tạo cơ sở để cụ thể hoá ở các cấp thấp hơn, các thời kỳ ngắn hạn hơn Mặt khác, mục tiêu không cụ thể thường

có tác dụng rất thấp trong quá trình tổ chức thực hiện chiến lược

– Tính khả thi: Mục tiêu chiến lược là các tiêu đích được xác định trong một thời kỳ chiến lược Do đó, các “tiêu đích” này đòi hỏi sự cố gắng của người chịu trách nhiệm thực hiện nhưng lại không được quá cao mà phải sát thực và có thể đạt được Có như vậy, hệ thống mục tiêu mới có tác dụng khuyến khích sự nỗ lực vươn lên của mọi bộ phận (cá nhân) và cũng không quá cao đến mức làm nản lòng những người thực hiện Vì vậy, giới hạn của cố gắng là “vừa phải”, nếu quá

sẽ phản tác dụng

Muốn kiểm tra tính khả thi của hệ thống mục tiêu phải đánh giá các mục tiêu trong mối quan hệ với kết quả phân tích và dự báo môi trường chiến lược

– Tính linh hoạt: Môi trường chiến lược thường xuyên thay đổi nên đòi hỏi

hệ thống mục tiêu phải linh hoạt để có thể điều chỉnh khi môi trường thay đổi Tính linh hoạt là điều kiện đảm bảo để biến các mục tiêu chiến lược thành hiện thực Mặt khác, do môi trường chiến lược thường xuyên biến động nên tính linh hoạt còn đòi hỏi khi hình thành hệ thống mục tiêu phải tính đến các biến động có thể có Các tính toán này cho phép chỉ ra giới hạn và chỉ khi nào môi trường biến động quá giới hạn đó mới cần đến hoạt động điều chỉnh chiến lược

Trang 17

1.1.2 Quản trị chiến lược [6], [9], [17]

Có thể định nghĩa: Quản trị chiến lược là tổng hợp các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chiến lược được diễn ra

và lặp đi lặp lại theo hoặc không theo chu kì thời gian, nhằm đảm bảo luôn tận dụng được tối đa cơ hội, hạn chế hoặc xoá bỏ được các nguy cơ trên con đường thực hiện các mục tiêu của mình

Quản trị chiến lược có đặc trưng rất cơ bản là lấy hoạch định chiến lược làm hạt nhân của toàn bộ hoạt động quản trị Hơn thế nữa, quản trị chiến lược còn bao hàm cả việc tổ chức thực hiện mọi hoạt động một cách toàn diện theo tầm nhìn chiến lược

Khái niệm quản trị chiến lược cũng phản ánh nội dung chủ yếu của quá trình quản trị chiến lược, bao gồm ba giai đoạn là: hoạch định chiến lược, tổ chức thực hiện chiến lược và kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chiến lược

Mô hình quản trị chiến lược xem Hình 1.1

Hình 1.1.Mô hình quản trị chiến lược tổng quát



Quyết định chiến lược



Phân phối nguồn lực



Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh



Phân tích và dự báo môi trường bên ngoài



Phân tích và dự báo môi trường bên trong

Hình thành chiến lược

Đánh giá

và điều chỉnh chiến lược

Tổ chức thực hiện chiến lược

Trang 18

1.1.3 Hoạch định chiến lược và qui trình hoạch định chiến lược [9], [17]

Hoạch định chiến lược là quá trình sử dụng các phương pháp, công cụ và kĩ thuật thích hợp nhằm xác định chiến lược trong một thời kỳ xác định

Bản chất của hoạch định chiến lược là xây dựng bản chiến lược cụ thể trong một thời kỳ xác định nào đó Mặc dù cùng xác định mục tiêu và giải pháp trong một thời kỳ cụ thể, song giữa hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch không giống nhau Điểm khác biệt cơ bản giữa chúng trước hết là ở phương pháp xây dựng Nếu xây dựng một bản kế hoạch chủ yếu dựa vào quá khứ và kinh nghiệm thì hoạch định chiến lược lại không chỉ dựa vào các dữ kiện quá khứ, hiện tại mà phải đặc biệt chú trọng công tác dự báo tương lai Về bản chất, nếu kế hoạch hoàn toàn mang tính chất tĩnh và thích ứng thì chiến lược lại hoàn toàn mang tính động và tấn công

Quy trình hoạch định chiến lược xem Hình 1.2

Hình 1.2.Quy trình tám bước xây dựng chiến lược



Hình thành các phương

án chiến lược



Quyết định chiến lược tối

ưu

Xác định các nhiệm

vụ nhằm thực hiện chiến lược lựa chọn



Tổng hợp kết quả phân tích và dự báo

về môi trường bên ngoài



Trang 19

1.2 C¸c ph−¬ng ph¸p tæng qu¸t vµ tuÇn tù x©y dùng chiÕn l−îc

1.2.1 Các phương pháp tổng quát xây dựng chiến lược [9], [12], [17]

án chiến lược đã được thiết lập Nếu tất cả các luận cứ đưa ra phê phán đều không

đảm bảo tính thuyết phục, lúc đó sẽ thừa nhận phương án chiến lược đã xây dựng Nếu thấy cần thiết phải sửa chữa, thay đổi, bộ phận phản biện phải chỉ rõ phải thay đổi nội dung gì và vì sao lại phải thay đổi nó

Phương pháp này sẽ có hiệu quả nếu bộ phận phản biện thực sự là những chuyên gia am hiểu và có kinh nghiệm về các vấn đề chiến lược

Mô hình phương pháp xem Hình 1.3

Hình 1.3.Mô hình phương pháp phản biện

Phương pháp này có hai bộ phận xây dựng hai phương án chiến lược độc lập

Phương án được đề xuất

Phản biện

Chiến lược được quyết định

Trang 20

nhưng phải đối lập nhau Người ta gọi một phương án là thuận và phương án kia

là phương án đối lập với nó Đặc trưng và cũng là đòi hỏi cơ bản là cả hai phương

án đều phải hợp lý nhưng có mâu thuẫn trong chương trình hành động

Sau khi xây dựng xong hai phương án đối lập thì cùng nhau tranh luận nhằm phát hiện những tiềm ẩn trong khái niệm, giả định và giải pháp Trên cơ sở đó hai bên cùng thiết kế một phương án chiến lược mới hoàn thiện hơn Mô hình phương pháp thẩm tra biện chứng xem Hình 1.4

Hình 1.4.Mô hình phương pháp thẩm tra biện chứng

Theo phương pháp này, cần tổ chức xây dựng tối thiểu 2 phương án chiến lược Về nguyên lý, xây dựng được càng nhiều phương án chiến lược để đưa ra lựa chọn càng tốt Kỹ thuật sử dụng máy tính điện tử hiện nay cho phép xây dựng được rất nhiều phương án chiến lược khác nhau

Sau khi đã có nhiều phương án được xây dựng, bộ phận có thẩm quyền sẽ phân tích ưu, nhược điểm của từng phương án gắn với mục tiêu để lựa chọn phương án chiến lược tối ưu Muốn lựa chọn đúng phương án tối ưu cần sử dụng các chuyên gia am hiểu, có kinh nghiệm đánh giá và lựa chọn

1.2.2 Tuần tự xây dựng chiến lược [9], [12], [17]

Phương án 2 Phương án 1

Tranh luận

Phương án được quyết định

Trang 21

Đặc trưng cơ bản của kế hoạch hóa từ trên xuống là chiến lược được xây dựng từ cấp cao nhất xuống đến cấp thấp nhất, cấp dưới dựa vào mục tiêu và giải pháp chiến lược cấp trên đã xác định để xây dựng chiến lược cho mình

Theo tuần tự này quá trình hoạch định chiến lược đảm bảo được tính thống nhất, không mâu thuẫn mục tiêu Tuy nhiên, hạn chế cơ bản của phương pháp này là ở chỗ có thể dẫn đến thiếu thông tin ở bên dưới và do đó, chất lượng của chiến lược có thể thấp

Kế hoạch hóa từ trên xuống đòi hỏi phải tính đến sự phân cấp tổ chức xây dựng chiến lược một cách khoa học

Mô hình kế hoạch hoá từ trên xuống xem Hình 1.5

Hình 1.5.Mô hình kế hoạch hóa từ trên xuống

1.2.2.2 Kế hoạch hóa từ dưới lên

Đặc trưng cơ bản của kế hoạch hóa từ dưới lên là chiến lược được xây dựng

từ cấp thấp nhất ngược lên đến cấp cao nhất Cấp cao có số liệu chiến lược của cấp dưới để xây dựng chiến lược của cấp mình

Mô hình kế hoạch hoá từ dưới lên xem Hình 1.6

Hình 1.6.Mô hình kế hoạch hóa từ dưới lên

1.2.2.3 Kế hoạch hóa hai chiều

Trang 22

Kế hoạch hóa hai chiều có đặc trưng cơ bản là quá trình hoạch định chiến lược được tiến hành đồng thời: vừa từ trên xuống và vừa từ dưới lên Về nguyên tắc, cấp trên chuyển xuống cấp dưới thông tin gì và ngược lại cấp dưới chuyển lên cấp trên thông tin gì hoàn toàn phụ thuộc vào sự phân cấp kế hoạch hóa

Mô hình kế hoạch hoá hai chiều xem Hình 1.7

Hình 1.7.Mô hình kế hoạch hóa hai chiều Với kế hoạch hóa 2 chiều, trong quá trình hoạch định chiến lược nếu có mâu thuẫn sẽ giải quyết kịp thời và ở mọi cấp kế hoạch đều có đủ thông tin cần thiết

để hoạch chiến lược Tuy nhiên, kế hoạch hóa 2 chiều sẽ luôn dẫn đến chi phí cho công tác kế hoạch hóa là lớn

1.3 ChiÕn l−îc ph¸t triÓn khoa häc, c«ng nghÖ

1.3.1 Thuật ngữ chiến lược phát triển khoa học, công nghệ

Thuật ngữ chiến lược khoa học, công nghệ ngày càng được dùng khá phổ biến, nhưng hiện chưa có sự thống nhất về nội hàm của khái niệm này

Theo tác giả S.Minulinxky [32], chiến lược phát triển khoa học, công nghệ

là việc xác định các phương hướng chủ yếu, các con đường phát triển, các vấn đề

ưu tiên và những nỗ lực hướng đích trong lĩnh vực khoa học, công nghệ

Theo các học giả Trung Quốc [7], [12], chiến lược phát triển khoa học, công nghệ là những chuẩn tắc, qui định những hành vi trong các hoạt động khoa học, công nghệ, mang tính chất toàn diện và lâu dài hoặc của một Nhà nước, hoặc của một khu vực, hoặc của một tổ chức, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của bản thân khoa học, công nghệ, đồng thời phục vụ tốt việc phát triển kinh tế – xã hội

Cấp kế hoạch hóa 1

Cấp kế hoạch hóa 2a Cấp kế hoạch hóa 2b

Trang 23

Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất, chiến lược phát triển khoa học, công nghệ gồm 4 yếu tố:

– Tư tưởng chỉ đạo (quan điểm phát triển khoa học, công nghệ)

– Mục tiêu cần đạt

– Các trọng điểm ưu tiên

– Các giải pháp mang tính chiến lược

Các chuyên gia nghiên cứu chiến lược khoa học, công nghệ của Trung Quốc nhấn mạnh: chiến lược phát triển khoa học, công nghệ chính là sách lược, mưu lược phát triển khoa học, công nghệ; là những nguyên tắc hành động quan trọng, qui định các thời kỳ và giai đoạn phát triển; là công trình chung thâu tóm toàn cục, quyết định chính sách, kế hoạch, nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ

1.3.2 Mối quan hệ giữa chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Một số yếu tố cần xem xét khi xây dựng chiến lược khoa học, công nghệ [7], [11], [16]

Các nhà nghiên cứu lịch sử khoa học, công nghệ thường quan tâm tới hai chức năng cơ bản của khoa học, công nghệ, đó là:

– Phục vụ kinh tế – xã hội

– Dẫn đường cho kinh tế – xã hội (đi trước kinh tế – xã hội)

Để có thể thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng mong muốn, cần phải có những bước phát triển vượt trước hợp lý về mặt khoa học, công nghệ và đào tạo với vai trò là các yếu tố hợp thành ngày càng quan trọng của hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội

Để thực hiện các mục tiêu của chiến lược kinh tế – xã hội, cần chủ động đảm bảo một hệ số vượt trước hợp lý về mặt khoa học, công nghệ Điều này tỏ ra đặc biệt quan trọng trong giai đoạn cách mạng khoa học, công nghệ năng động hiện nay

Trang 24

Người ta đã tổng kết và khái quát tác động của hoạt động khoa học, công nghệ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia trên ba phương diện: – Cơ cấu lại nền sản xuất, nền công nghiệp

– Nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế

– Đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế và sự phồn vinh của đất nước

Hợp lực của các phương diện tác động nói trên là sức mạnh kinh tế, tăng năng lực cạnh tranh của một quốc gia Người ta thường ví von một cách hình ảnh rằng, đó là tác động thúc đẩy của khoa học và công nghệ (T&T push) đối với phát triển kinh tế – xã hội

Sự phát triển kinh tế – xã hội, về phần mình, lại tạo ra những nhu cầu phát triển khoa học và công nghệ, tác động lôi kéo các hoạt động khoa học và công nghệ vận động theo nguyên lý, quy luật của kinh tế thị trường Ở phương diện tác động này người ta nói rằng đó là sự tác động lôi kéo của nhu cầu thị trường (demand pull) đối với hoạt động khoa học, công nghệ Sơ đồ tính đến cả tác động thúc đẩy và lôi kéo tương tác lẫn nhau cũng như tác nhân tác động từ nền kinh tế thế giới và khu vực (cơ hội, thách thức…) như Hình 1.8

Để có thể định ra một chiến lược phát triển khoa học, công nghệ đúng đắn, ngoài sự quan tâm tới các qui luật phát triển nội tại của khoa học, công nghệ, cũng cần phải xem xét đầy đủ tới tác động tương hỗ giữa các yếu tố môi trường, trong đó, đặc biệt lưu ý tới các khía cạnh:

– Phát hiện những nhu cầu kinh tế – xã hội đang và sẽ đặt ra trong tương lai, đòi hỏi có sự tham gia của hệ thống khoa học, công nghệ

– Đánh giá (dự báo) đúng các xu thế phát triển khoa học, công nghệ của thế giới và tác động của nó tới việc lựa chọn con đường phát triển khoa học, công nghệ cho riêng mình

– Định lượng khả năng huy động các nguồn lực có thể đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ

Trang 25

Hình 1.8.Tác động thúc đẩy – lôi kéo của khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế Chúng ta có thể minh hoạ mối quan hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố có ảnh hưởng tới việc hoạch định chiến lược phát triển khoa học, công nghệ dưới dạng sơ đồ ở Hình 1.9

Hình 1.9.Mối quan hệ giữa các yếu tố trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ

Trình độ phát triển khoa học và công nghệ

Yêu cầu

từ kinh tế – xã hội

CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KHOA HỌC

Cơ cấu lại kinh tế

Nâng cao năng suất hiệu quả nền kinh tế

Đảm bảo tăng trưởng kinh tế

Phát triển kinh tế – xã hội

Sức mạnh kinh tế Tác động

Kinh tế thế giới và khu vực – Cơ hội

– Thách thức Nhu cầu về phát triển

khoa học và công nghệ

Trang 26

1.4 Mét sè ph−¬ng ph¸p x©y dùng chiÕn l−îc ph¸t triÓn khoa häc, c«ng nghÖ

1.4.1 Phương pháp chuyên gia [8], [9], [18]

Phương pháp chuyên gia là phương pháp dự báo dựa trên cơ sở thu thập và

xử lý những đánh giá, dự báo của các chuyên gia Quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia có thể chia thành ba giai đoạn:

Giai đoạn 1 – Lựa chọn chuyên gia: Để tiến hành dự báo theo phương pháp chuyên gia cần phải tiến hành lựa chọn chuyên gia Có hai loại chuyên gia là các nhà phân tích và các chuyên gia đánh giá Các nhà phân tích là những người có trình độ chuyên môn cao, có hiểu biết sâu rộng về vấn đề được đưa ra đánh giá và những vấn đề có liên quan Đó là một tập thể chuyên gia nhiều ngành, có nhiệm

vụ tổ chức việc trưng cầu ý kiến của các chuyên gia đánh giá, cung cấp những thông tin cần thiết cho các chuyên gia đánh giá; phân tích, tổng hợp ý kiến các chuyên gia đánh giá và đưa ra kết luận thể hiện ý kiến chung của tập thể chuyên gia Trong giai đoạn này phải xây dựng được hệ thống chỉ tiêu để đánh giá năng lực các chuyên gia và xác định được số lượng các chuyên gia cần thiết Việc đánh giá các chuyên gia có thể tiến hành theo hình thức tự đánh giá hoặc đánh giá qua các chuyên gia khác Số lượng chuyên gia phụ thuộc vào vấn đề cần dự báo và nguồn tài chính Kinh nghiệm cho thấy việc lựa chọn chuyên gia cần được thực hiện một cách kỹ lưỡng, tránh lựa chọn các chuyên gia “vạn năng”, tránh quá ít hoặc quá nhiều chuyên gia

Giai đoạn 2 – Trưng cầu ý kiến các chuyên gia: Trưng cầu ý kiến là giai đoạn chính trong hoạt động phối hợp giữa các nhà phân tích và các chuyên gia đánh giá Nội dung của giai đoạn này là đề ra nhiệm vụ và nêu câu hỏi cho các chuyên gia, đảm bảo các thông tin cần thiết cho các chuyên gia, thu thập những đánh giá, những kiến nghị của các chuyên gia về vấn đề cần tiến hành dự báo Trưng cầu ý kiến có thể tiến hành theo các hình thức như phỏng vấn, hội

Trang 27

thảo, hội nghị hoặc theo hình thức tấn công não Mục đích của việc trưng cầu ý kiến theo hình thức tấn công não là nhằm thu được những tư tưởng mới, những quyết định mới về một vấn đề nào đó nhờ sự sáng tạo tập thể của các chuyên gia trong một kỳ hội nghị được tiến hành theo những quy tắc nhất định, đó là: vấn đề cần được trưng cầu ý kiến được phát biểu dưới dạng những thuật ngữ cơ bản và chỉ có một tiêu điểm (tức là quy về một mối); không tuyên bố bất kỳ một tư tưởng nào, quyết định nào là sai và không dừng cuộc tấn công lại; ủng hộ bất kỳ một tư tưởng mới nào ngay cả khi tư tưởng mới đó chỉ có thể được thực hiện trong tương lai xa xôi; và thường xuyên động viên các chuyên gia để tạo ra tranh luận tự do Trong các hình thức trưng cầu ý kiến trên, các nhà phân tích làm việc, tọa đàm trực tiếp với tập thể các chuyên gia đánh giá Việc trưng cầu ý kiến cũng có thể được tiến hành theo hình thức vắng mặt Đó là hình thức các nhà phân tích trưng cầu ý kiến của các chuyên gia đánh giá qua phiếu trưng cầu Phương pháp Delphi là một phương pháp rất nổi tiếng của hình thức trưng cầu vắng mặt Mục đích của phương pháp Delphi là tìm hiểu ý kiến của các chuyên gia về một vấn

đề nào đó trong điều kiện không tổ chức những cuộc tranh luận trực tiếp giữa họ với nhau nhưng cho phép mọi người có thể cân nhắc lại ý kiến của mình sau mỗi lần tham khảo câu hỏi và câu trả lời của tập thể Phương pháp Delphi được tiến hành theo các quy tắc sau: các câu hỏi được ghi trong phiếu trưng cầu phải được lựa chọn sao cho các câu trả lời mang đặc trưng về lượng; các câu hỏi cho các chuyên gia được tiến hành làm nhiều vòng, sau mỗi vòng các câu hỏi và câu trả lời lại được chính xác thêm; trong trường hợp có những ý kiến riêng biệt trái với ý kiến của đa số thì người ta yêu cầu cá nhân chuyên gia trình bày quan điểm riêng của mình; và khi chuyển từ vòng này sang vòng khác người ta xử lý các câu trả lời bằng phương pháp thống kê nhằm thu nhận những đặc trưng chung của các câu trả lời Giai đoạn 3 – Phân tích ý kiến của các chuyên gia: Phân tích ý kiến của các chuyên gia là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia để dự báo Những ý kiến đánh giá của chuyên gia thường tập trung

Trang 28

giải quyết hai vấn đề là đánh giá thời gian xuất hiện của sự kiện và xác định tầm quan trọng của sự kiện

Phân tích ý kiến đánh giá của các chuyên gia có nghĩa là phải xác định đại lượng đặc trưng cho ý kiến chung của tập thể chuyên gia và độ thống nhất ý kiến giữa các chuyên gia

Đối với vấn đề đánh giá thời gian xuất hiện của sự kiện, người ta thường phân tích ý kiến của các chuyên gia thông qua việc tính các giá trị thống kê như

kỳ vọng, mod, trung vị của các đánh giá và tính phương sai Kỳ vọng là trung bình cộng các giá trị đánh giá của các chuyên gia Mod là giá trị của đánh giá mà

có nhiều chuyên gia lựa chọn nhất Trung vị là giá trị mà một nửa số chuyên gia đánh giá dưới mức đó và một nửa số chuyên gia còn lại đánh giá trên mức đó

Để phân tích ý kiến của các chuyên gia về tầm quan trọng của các sự kiện, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu được tính từ bảng điểm đánh giá của các chuyên gia Bảng điểm đánh giá như trình bày ở Bảng 1.1

Bảng 1.1: Bảng điểm đánh giá theo phương pháp chuyên gia

Trang 29

Cij là điểm của chuyên gia thứ i cho tầm quan trọng của sự kiện thứ j Thang điểm thường được lựa chọn từ 0 đến 10 hoặc hệ thang điểm khác thích hợp Từ bảng này chúng ta có thể tính các chỉ tiêu phục vụ cho việc phân tích ý kiến của các chuyên gia về tầm quan trọng của các sự kiện

1.4.2 Phương pháp ngoại suy [9], [18]

Ngoại suy được hiểu là sự kéo dài những quy luật đã hình thành trong quá khứ và hiện tại cho tương lai Kỹ thuật ngoại suy thường được dùng cho các quá trình phát triển tương đối ổn định và vì vậy thích hợp với dự báo ngắn hạn Kinh nghiệm ứng dụng cho thấy người ta thường ngoại suy cho một khoảng thời gian bằng một phần ba chiều dài quá khứ

Để tiến hành dự báo người ta có thể xem đại lượng cần dự báo Y(t) là sự tổng hợp của bốn thành phần cơ bản: Xu thế phát triển X(t), dao động có tính chất thời vụ K(t), dao động có tính chất đột biến D(t) và dao động ngẫu nhiên

1.4.3 Phương pháp phân tích môi trường bên trong và bên ngoài, đánh giá

Trang 30

thứ tự ưu tiên của các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu Ma trận cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu (ma trận SWOT) [6], [7], [9]

Do nguồn lực luôn là phạm trù có hạn nên nhìn chung không thể có đủ nguồn lực để khai thác hết cơ hội cũng như không thể sẵn sàng đối phó mọi nguy

cơ tiềm ẩn sẽ xảy ra trong kỳ chiến lược Vì vậy, việc xác định thứ tự ưu tiên đối với các cơ hội, nguy cơ là hoàn toàn cần thiết

Để xác định thứ tự ưu tiên đối với các cơ hội, nguy cơ, các nhà quản trị có thể sử dụng ma trận thứ tự ưu tiên cơ hội và nguy cơ

Ma trận thứ tự ưu tiên các cơ hội (ma trận cơ hội) là một ma trận mà một trục mô tả xác suất có thể tranh thủ một cơ hội cụ thể nào đó và trục kia mô tả mức độ tác động của cơ hội đó trong kỳ chiến lược xác định Để đơn giản người

ta chỉ chia xác suất xảy ra cũng như mức độ tác động của cơ hội trong thời gian chiến lược ở ba mức là cao, trung bình và thấp, xem Hình 1.10

Hình 1.10.Ma trận thứ tự ưu tiên các cơ hội

Ma trận thứ tự ưu tiên các nguy cơ (ma trận nguy cơ) là một ma trận mà một trục mô tả xác suất xảy ra nguy cơ và trục kia mô tả mức độ tác động của nguy cơ trong kỳ chiến lược xác định Để đơn giản người ta chia xác suất xảy ra cũng như

Ưu tiên trung bình

Tác động của cơ hội

Trang 31

mức độ tác động của nguy cơ ở ba mức là cao, trung bình và thấp, xem Hình 1.11

Hình 1.11.Ma trận thứ tự ưu tiên các nguy cơ

Để hình thành các ý tưởng chiến lược trên cơ sở cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh

và điểm yếu, cần sử dụng ma trận cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu (Ma trận SWOT – trong đó: S – Strong – điểm mạnh, W – Weak – điểm yếu, O – Opportunity – cơ hội, T – Threat – nguy cơ) Ma trận cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh

và điểm yếu là một ma trận có một trục mô tả các điểm mạnh và điểm yếu; trục kia mô tả các cơ hội, nguy cơ trong thời kì chiến lược xác định

1.4.4 Phương pháp xây dựng lộ trình công nghệ [7], [8]

Để lựa chọn định hướng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cho 5–10 năm nữa hoặc lâu hơn, cần làm rõ các câu hỏi sau:

– Những khoa học, công nghệ nào thật sự có ý nghĩa quyết định, cần phải áp dụng để đạt được mục đích

– Từ hiện trạng khoa học, công nghệ hiện nay, nên lựa chọn lộ trình đổi mới công nghệ như thế nào để có thể đáp ứng những đòi hỏi trong tương lai

Lộ trình công nghệ có ý nói tới một cách nhìn có hệ thống và tích cực hướng

về tương lai Lộ trình công nghệ không phải là một bản dự báo về công nghệ, vì

Ưu tiên trung bình

Tác động của nguy cơ

Trang 32

dự báo công nghệ chỉ cho ta thông tin về những công nghệ gì sẽ xuất hiện trong tương lai Còn việc chúng ta có định áp dụng công nghệ đó hay không còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác Nhiệm vụ của lộ trình công nghệ là xác định được các công nghệ then chốt (critical) cần thiết cho một đối tượng cụ thể ( ngành, doanh nghiệp,…)

Thực chất của việc xác định lộ trình công nghệ là: Từ đánh giá nhu cầu trong tương lai; xác định những công nghệ quan trọng cần thiết qua các mốc thời gian (3 năm, 5 năm hoặc 10 năm) để đáp ứng đòi hỏi đó; đưa ra các biện pháp phối hợp các nỗ lực của cả Nhà nước, cộng đồng khoa học, công nghệ và giới doanh nghiệp để có thể vươn tới các công nghệ đã xác định

Khái niệm lộ trình công nghệ là một loại chương trình hướng vào hành động, vì vậy phạm vi áp dụng cách tiếp cận này tương đối vạn năng Có thể xây dựng các loại lộ trình công nghệ sau:

– Lộ trình công nghệ cho các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, bưu chính viễn thông, hàng không…)

– Lộ trình công nghệ cho các doanh nghiệp

– Lộ trình công nghệ cho một dự án phát triển

– Lộ trình công nghệ cho một sản phẩm

1.4.5 Phương pháp nhìn trước công nghệ (Technology Foresight) [7], [8]

Có nhiều định nghĩa về nhìn trước (Foresight) đã được đưa ra nhưng có một định nghĩa của Trung tâm Foresight công nghệ (CTF) của APEC được chấp nhận

nhiều hơn: "Foresight là những ý đồ mang tính hệ thống có thể nhìn vào tương

lai phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế – xã hội, và những tương tác giữa các yếu tố đó, nhằm đạt tới những lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường" Định nghĩa này gợi ra một số điểm đáng lưu ý sau đây:

Trang 33

– Những ý đồ nhìn vào tương lai phải mang tính hệ thống;

– Những ý đồ này phải ở tầm dài hạn, thường là từ 10 đến 20 năm;

– Foresight là một quá trình hơn là bản thân một vài kỹ thuật đơn giản, bao gồm các hoạt động tham khảo ý kiến các bên, các tương tác giữa bên nghiên cứu

và bên sử dụng (theo nghĩa rộng) kết quả;

– Việc tạo ra phúc lợi và phát triển bền vững phải đi liền với nhau;

– Chú trọng những phân tích về lợi ích (và bất lợi) của các công nghệ mới

Có sự khác nhau giữa Foresight và Dự báo (Forecast) Trong dự báo, giả định chỉ có một tương lai duy nhất mà sứ mệnh của người dự báo là tiên đoán thật sát cái gì sẽ xảy ra trong tương lai đó Ngược lại, Foresight không quan tâm nhiều đến những tiên đoán chi tiết về thời điểm xảy ra một sự kiện cụ thể, mà chủ yếu nhằm vạch ra một số các tương lai có thể xảy ra, dựa trên một số giả định khác nhau về xu hướng và cơ hội Nói cách khác, theo triết lý của Foresight, điều

sẽ đến trong tương lai còn tuỳ thuộc vào những gì chúng ta lựa chọn trong hiện tại (con người khó dự báo được tương lai, nhưng chính con người lại có thể tạo ra tương lai của mình!) Và như vậy, Foresight nhằm đưa ra các cơ hội để chi phối

tương lai, nhờ những quyết định thông minh ở hiện tại

Foresight khởi nguồn từ những ý đồ của chính phủ Mỹ trong Thế chiến II nhằm tìm ra những phương pháp mới trong lập kế hoạch Công ty RAND–chuyên thực hiện các hợp đồng của Bộ quốc phòng Mỹ – đã đi đầu trong việc lập kế hoạch theo kịch bản và điều tra Delphi (một tiếp cận Foresight) Sau đó, công ty Shell của Hà Lan lần đầu tiên cũng dùng kỹ thuật phân tích kịch bản để xây dựng

kế hoạch chiến lược Vào thập niên 1980, chính phương pháp kịch bản này đã giúp Shell "nhìn thấy trước" những tác động của quá trình tan rã Liên Xô tới giá hơi đốt trên thế giới để đối phó (mà nhiều công ty dầu mỏ khác hầu như không thấy) Trong ba thập kỷ qua, Foresight công nghệ không ngừng thay đổi các đặc

tính Ban đầu, khi mới xuất hiện thế hệ Foresight thứ nhất (đầu thập kỷ 1980),

Trang 34

Foresight chỉ nhằm xác định những công nghệ mới nổi lên, những lĩnh vực khoa

học còn hạn chế về chuyên gia Tiếp theo, thế hệ Foresight thứ hai phát triển theo

hướng gắn kết công nghệ với thị trường, lôi kéo sự tham gia của cả giới công

nghiệp và giới hàn lâm Gần đây, thế hệ Foresight thứ ba có khuynh hướng xã

hội mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của nhiều thành phần xã hội liên quan, nhằm nghiên cứu những vấn đề liên ngành

Năm 1996, tổ chức OECD đã phân tích những đề án Foresight do một số

nước trong OECD tiến hành, nhằm đưa ra những kết luận về tính hữu ích của

Foresight trong lĩnh vực xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ

Viện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia Nhật Bản (NISTEP) đã có đóng góp tích cực vào phát triển hoạt động Foresight thông qua hội nghị quốc tế về Foresight (3–2000) tại Tokyo Nhật Bản cũng thành lập một Phòng (Division) chịu trách nhiệm tiến hành thường xuyên các điều tra Delphi Tại Anh, bộ phận nghiên cứu về Foresight được đặt tại Văn phòng khoa học, công nghệ Nhiều tổ

chức tương tự đã tiến hành nghiên cứu Foresight tại các nước: Canada,

Newzeland, Trung Quốc, Nam Phi, Hungari, Thái Lan; còn ở một số nước khác (Áo, Thụy Điển) cơ quan Hàn lâm chịu trách nhiệm nghiên cứu Foresight

Đến nay, Foresight đã phát triển thành các dự án nghiên cứu chung giữa

nhiều nước thuộc hai tổ chức, đó là: Trung tâm Foresight công nghệ (CTF) của

APEC đặt tại Thái Lan quan tâm đến vùng Châu Á – Thái Bình Dương, và Viện

nghiên cứu các công nghệ có triển vọng (IPTS) đặt tại Seville (Tây Ban Nha) hoạt động cho châu Âu Tổ chức Phát triển công nghệ Liên hiệp quốc (UNIDO) gần đây đã tiến hành các chương trình đào tạo về Foresight ở phạm vi vùng cho châu Mỹ La tinh và Đông Âu

Ý tưởng thành lập CTF của APEC được đưa ra lần đầu tại Hội nghị các bộ trưởng APEC về hợp tác khoa học, công nghệ tại Bắc Kinh năm 1995 CTF ra đời vào tháng 2 năm 1998, đặt tại Bangkok với sự bảo trợ của Cơ quan phát triển khoa học, công nghệ Thái Lan, nhằm lôi kéo các nền kinh tế thành viên APEC

Trang 35

tham gia với sự hỗ trợ của các chuyên gia Foresight công nghệ quốc tế và sự tài trợ của các nước thành viên Mục tiêu chủ yếu của CTF là “phát triển và phổ biến năng lực Foresight tới các nền kinh tế APEC thông qua các đề án nghiên cứu có

sự tham gia của nhiều nước thành viên, thông qua các lớp đào tạo, tư vấn và các hoạt động khác”

Đến nay, CTF đi đầu trong tiến hành các Foresight ở qui mô quốc tế thông qua bốn nghiên cứu Foresight của vùng APEC theo các chủ đề quan trọng, đã có tới 17/21 nước thành viên tham gia những dự án này Hiện tại, CTF cũng nhận được sự hỗ trợ của APEC đối với hai dự án nghiên cứu Foresight về NanoTechnology năm 2001 và Thực phẩm biến đổi gen (GMF) năm 2002

Những nghiên cứu Foresight của CTF có những đặc điểm sau:

– Thường tiến hành cho tầm nhìn từ 5 đến 30 năm và thường kéo dài qua ba chu kỳ kinh doanh;

– Thường bao gồm các bên là: Chính phủ, các tổ chức khoa học/xã hội và các công ty nhằm xác định phương hướng, lựa chọn ưu tiên và tận dụng các cơ hội; – Khi tiến hành Foresight công nghệ, có xét đến ảnh hưởng của công nghệ mới (cơ hội và rủi ro), tác động xã hội theo cách tiếp cận “công nghệ đẩy” hoặc

Trang 36

về thị trường, tài nguyên, gắn với các yếu tố văn hoá và xã hội

– Phương pháp Điều tra Delphi: Phương pháp này bao gồm nhiều vòng hỏi

ý kiến chuyên gia dưới dạng phiếu hỏi, nhằm tìm kiếm một sự hội tụ, sự đồng thuận về vấn đề đặt ra Giả định ở đây là: sự đồng thuận của một nhóm chuyên gia có thể là tin cậy hơn so với ý kiến từng cá nhân Một lợi thế và ưu điểm của phương pháp này là tính bí mật, độc lập và sự tham gia rộng rãi của các đối tượng Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi tốn nhiều thời gian và kinh phí

– Phương pháp tham vấn: Phương pháp này sử dụng cách tiếp cận rộng rãi ý kiến của nhiều cộng đồng, nhằm tham vấn về các loại tương lai ở tầm dài hạn, đó là: tương lai có thể xảy ra, tương lai mong muốn và tương lai ưa thích Trong đó, tương lai có thể là bao gồm hàng loạt phương án (kịch bản) có thể xuất hiện; tương lai mong muốn là các phương án phân tích của các chuyên gia dựa trên các

xu thế; còn tương lai ưa thích là các phương án mà xã hội cần phải đạt đến Bằng cách so sánh những tương lai này với nhau, phân tích những vấn đề cốt yếu, các tham vấn sẽ xác định một chiến lược nhằm đạt được tương lai ưa thích

– Phương pháp xây dựng những kịch bản: Phương pháp này sử dụng cách tiếp cận có chủ đích là phát triển các kịch bản về tương lai và đánh giá ý nghĩa của chúng Những kịch bản được nêu ra phải là những bức tranh hợp lý, có lô gíc

về những khả năng trong tương lai, chứa đựng các yếu tố định lượng và định tính, nhằm tạo cơ sở để đề xuất những phản ứng linh hoạt trước những thay đổi đột ngột trong tương lai

Trang 37

– Phương pháp xác định những công nghệ then chốt: Phương pháp này sử dụng một nhóm nhỏ chuyên gia để triển khai một danh mục các công nghệ nguồn

có vai trò thiết yếu đối với nền kinh tế Tuy nhiên, các kết quả theo phương pháp này thường mang tính chất "trọng cung", theo kiểu "công nghệ đẩy", hoặc bị chi phối bởi các nhu cầu công nghiệp, mà ít chú ý đến các nhu cầu xã hội, do vậy có

ít tác dụng đối với chiến lược phát triển chung của cả hệ thống kinh tế – xã hội Trong xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, tuỳ từng nội dung của chiến lược, có thể lựa chọn sử dụng phương pháp điều tra Delphi, phương pháp tham vấn, phương pháp xây dựng những kịch bản một cách phù hợp để đạt được hiệu quả tốt nhất

Trong chương 1, luận văn đã trình bày 4 vấn đề:

1 Tổng quan về lý thuyết xây dựng chiến lược

2 Các phương pháp tổng quát và tuần tự xây dựng chiến lược

3 Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ

4 Một số phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ Bốn vấn đề đã trình bày được tổng kết từ nhiều công trình của nhiều tác giả khác nhau (trong và ngoài nước), người viết luận văn chỉ đóng vai trò là người chọn lọc theo quan điểm riêng của cá nhân Những vấn đề này có ý nghĩa đặt nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo của luận văn này

Trang 38

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CễNG NGHỆ CẤP TỈNH

XÂY DỰNG LUẬN CỨ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC

PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CễNG NGHỆ TỈNH QUẢNG NINH,

GIAI ĐOẠN 2006 – 2020

Khỏc với chương 1, trong chương 2, thuật ngữ chiến lược được dựng sẽ cú một nội hàm hẹp hơn, với giới hạn về phạm vi tỏc động – chỉ trong một tỉnh; với giới hạn thời gian tỏc động – trong một khoảng thời gian xỏc định; cú nội dung phỏt triển của một ngành – ngành khoa học, cụng nghệ

2.1 Phương pháp hoạch định chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh

2.1.1 Một số đặc thự của hoạt động nghiờn cứu khoa học, cụng nghệ ở địa phương

Hoạt động nghiờn cứu khoa học ở địa phương là một bộ phận quan trọng trong

hệ thống cỏc hoạt động nghiờn cứu khoa học của quốc gia Những yờu cầu chỉ đạo phỏt triển kinh tế – xó hội của địa phương ngày càng đũi hỏi phải dựa trờn những căn cứ khoa học do cỏc hoạt động nghiờn cứu khoa học địa phương thực hiện

Hoạt động nghiờn cứu khoa học ở địa phương cú một số đặc thự sau:

1 Khụng cú những nội dung nghiờn cứu về lý luận cơ bản như ở cấp nhà nước và ở cỏc cơ quan nghiờn cứu khoa học trung ương vẫn thực hiện Cỏc nội dung nghiờn cứu ở địa phương cú tớnh chất cụ thể húa những nội dung nghiờn cứu ở cấp nhà nước, nhằm vận dụng thớch ứng với cỏc điều kiện cụ thể của địa phương

2 Những nội dung nghiờn cứu cú tớnh trực tiếp cao, đỏp ứng những yờu cầu sỏt thực được đặt ra của địa phương Những vấn đề này thường xuất phỏt từ cỏc nghị quyết của Đảng bộ tỉnh, thành phố, cỏc nghị quyết của Hội đồng Nhõn dõn, Ủy ban Nhõn dõn tỉnh, thành phố Mục đớch của nghiờn cứu khoa học là nhằm khai thỏc tốt

Trang 39

nhất những lợi thế so sánh cụ thể của địa phương để thực hiện thắng lợi các nhiệm

vụ được nêu trong các nghị quyết của Đảng bộ và chính quyền tỉnh, thành phố

3 Về các hình thức hoạt động nghiên cứu khoa học ở địa phương, phổ biến nhất là đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, hội thảo khoa học Hình thức đề tài nghiên cứu khoa học được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, chủ yếu cho nghiên cứu các chủ đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn và một số khía cạnh thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên (về điều tra cơ bản) Trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ và y học, phần nhiều là đề tài triển khai thực nghiệm và các dự án sản xuất thử nghiệm

4 Lực lượng cán bộ khoa học ít và phân tán, thường làm nhiệm vụ nghiên cứu kiêm nhiệm trong thực hiện chức năng quản lý ở các sở ban ngành, thời gian giành cho nghiên cứu không nhiều Do vậy, cần có liên kết tương đối rộng rãi, cần có sự hỗ trợ thích đáng của đội ngũ cán bộ khoa học và của các cơ quan khoa học trung ương

5 Nhiều vấn đề đặt ra cho nghiên cứu khoa học ở mỗi tỉnh, thành phố có liên quan rất mật thiết với các tỉnh lân cận Không thể mỗi tỉnh, thành phố tự giải quyết được những vấn đề này, nếu không có sự phối hợp liên kết của các tỉnh lân cận Do vậy, ngày càng nổi lên sự cần thiết phải tính đến cách tổ chức các nhiệm

vụ nghiên cứu khoa học của địa phương theo quy mô vùng, liên tỉnh để có phương án thống nhất giữa các tỉnh trong vùng, trong khu vực đối với những vấn

đề có quan hệ phụ thuộc vào nhau và đảm bảo cho lợi ích chung giữa các tỉnh, thành phố liên quan

6 Nhiệm vụ tổ chức và quản lý nghiên cứu khoa học ở địa phương được thực hiện tập trung ở Sở Khoa học và Công nghệ, có sự phối hợp với các sở, ban ngành khác trong tỉnh, nhằm:

– Tổ chức, quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học ở địa phương theo đúng những quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, các văn bản dưới Luật,

Trang 40

các quy chế quản lý thống nhất do Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn

– Nắm được tình hình các hoạt động nghiên cứu khoa học của trung ương tiến hành tại địa phương, để có thể tìm cách phối hợp hoặc tránh khỏi tổ chức lặp lại những nội dung nghiên cứu khoa học của địa phương về những chủ đề tương tự – Nắm được lực lượng cán bộ có trình độ khoa học chuyên môn ở các cơ quan trong tỉnh, thành phố, biết rõ năng lực chuyên môn của từng người để có thể lựa chọn khi cần thiết Đồng thời, cũng cần nắm được những cán bộ khoa học đầu đàn, chủ chốt ở từng lĩnh vực chuyên môn trong các cơ quan khoa học của trung ương đóng tại địa phương, để có thể yêu cầu sự hỗ trợ của họ cho việc triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của địa phương

– Xem xét khả năng vận dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của địa phương tiến hành và kết quả nghiên cứu khoa học của các cơ quan khoa học trung ương tiến hành tại địa phương, để kiến nghị với lãnh đạo tỉnh, thành phố có chủ trương phù hợp ứng dụng có hiệu quả phục vụ cho chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

2.1.2 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh

Ở Việt Nam, việc đề ra sách lược phát triển (cũng có thể gọi là nguyên tắc chỉ đạo phát triển) thuộc về các cơ quan Đảng các cấp Sách lược phát triển tổng thể cấp quốc gia của Việt Nam được đề xướng và thông qua tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam ở các kỳ đại hội Các sách lược tổng thể này, sau đó được cụ thể hóa thông qua các văn kiện của Bộ Chính trị, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới dạng các nghị quyết, chỉ thị Sách lược tổng thể phát triển cấp tỉnh được đề xướng và thông qua tại Đại hội đại biểu Tỉnh Đảng bộ ở các kỳ đại hội Sau đó, các sách lược phát triển tổng thể cấp tỉnh cũng sẽ được cụ thể hóa thông qua các văn kiện của Tỉnh Đảng bộ, dưới dạng các nghị quyết, chỉ thị, chương trình trọng điểm

Ngày đăng: 10/10/2022, 07:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2003), Chiến lược Phát triển Khoa học và Công nghệ Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Phát triển Khoa học và Công nghệ Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2003
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2000), Đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2000
3. Cục Thống kê Quảng Ninh (2005), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001 – 2005, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001 – 2005
Tác giả: Cục Thống kê Quảng Ninh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
4. Vũ Đình Cự (2000), Khoa học và công nghệ hướng tới thế kỷ XXI – Định hướng và chính sách, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ hướng tới thế kỷ XXI – Định hướng và chính sách
Tác giả: Vũ Đình Cự
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
5. Nguyễn Đăng Dậu, Nguyễn Xuân Tài (2003), Quản lý công nghệ, Giáo trình Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công nghệ
Tác giả: Nguyễn Đăng Dậu, Nguyễn Xuân Tài
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
6. Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2006), Chiến lược và chính sách kinh doanh, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và chính sách kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2006
7. Đặng Ngọc Dinh (2003), Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường nghiệp vụ Quản lý (Bộ Khoa học và Công nghệ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Dinh
Năm: 2003
8. Vũ Cao Đàm (2004), Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
9. Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền (2002), Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp, Giáo trình Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2002
10. Phan Thúc Huân (2006), Kinh tế phát triển, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: Phan Thúc Huân
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
11. Đặng Hữu (1989), Khoa học và Công nghệ với sự phát triển kinh tế – xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và Công nghệ với sự phát triển kinh tế – xã hội
Tác giả: Đặng Hữu
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1989
12. Nguyễn Sỹ Lộc (1996), “Bàn về cải cách hành chính trong khoa học và công nghệ”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quản lý khoa học và công nghệ dưới góc độ cải cách hành chính”, Trường Nghiệp vụ Quản lý (Bộ Khoa học và Công nghệ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách hành chính trong khoa học và công nghệ”, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quản lý khoa học và công nghệ dưới góc độ cải cách hành chính”
Tác giả: Nguyễn Sỹ Lộc
Năm: 1996
13. Nguyễn Sỹ Lộc và cộng tác viên (2000), Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường
Tác giả: Nguyễn Sỹ Lộc và cộng tác viên
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2000
14. Nguyễn Văn Nghiến (2003), Quản lý chiến lược, Giáo trình Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chiến lược
Tác giả: Nguyễn Văn Nghiến
Năm: 2003
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Luật Khoa học và Công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
16. Nguyễn Danh Sơn (1999), Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế "–" xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Danh Sơn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1999
17. Trần Hồng Sơn (2000), Sách lược, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phương pháp xây dựng chúng, Dự án UNDP–VIE–04/028, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách lược, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phương pháp xây dựng chúng
Tác giả: Trần Hồng Sơn
Năm: 2000
18. Nguyễn Đức Thành (2001), Quản trị chiến lược, Giáo trình cao học Trường Đại học Mỏ – Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chiến lược
Tác giả: Nguyễn Đức Thành
Năm: 2001
19. Tỉnh uỷ Quảng Ninh (2005), Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII
Tác giả: Tỉnh uỷ Quảng Ninh
Năm: 2005
20. Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (1986), Đánh giá hàm lượng công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hàm lượng công nghệ
Tác giả: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
Năm: 1986

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mơ hình quản trị chiến lược xem Hình 1.1. - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
h ình quản trị chiến lược xem Hình 1.1 (Trang 17)
Quy trình hoạch định chiến lược xem Hình 1.2. - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
uy trình hoạch định chiến lược xem Hình 1.2 (Trang 18)
Hình 1.4.Mơ hình phương pháp thẩm tra biện chứng - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Hình 1.4. Mơ hình phương pháp thẩm tra biện chứng (Trang 20)
Hình 1.9.Mối quan hệ giữa các yếu tố trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Hình 1.9. Mối quan hệ giữa các yếu tố trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ (Trang 25)
Hình 1.10.Ma trận thứ tự ưu tiên các cơ hội - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Hình 1.10. Ma trận thứ tự ưu tiên các cơ hội (Trang 30)
mức độ tác động của nguy cơ ở ba mức là cao, trung bình và thấp, xem Hình 1.11. - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
m ức độ tác động của nguy cơ ở ba mức là cao, trung bình và thấp, xem Hình 1.11 (Trang 31)
Hình 3.3: Mô hình nghiên cứu Quyết định việc vay vốn của KH bán lẻ - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu Quyết định việc vay vốn của KH bán lẻ (Trang 35)
Hình 2.1.Quy trình và các cơng cụ xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Hình 2.1. Quy trình và các cơng cụ xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh (Trang 47)
Bảng 2.2: Kết quả điều tra Delphi vòng 3 về các chỉ tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Bảng 2.2 Kết quả điều tra Delphi vòng 3 về các chỉ tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển khoa học, công nghệ cấp tỉnh (Trang 48)
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu tổng hợp phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001–2005 - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Bảng 2.4 Các chỉ tiêu tổng hợp phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001–2005 (Trang 57)
Bảng 2.5: Hiện trạng phát triển dân số tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001–2005 - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Bảng 2.5 Hiện trạng phát triển dân số tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001–2005 (Trang 58)
3. Giáo dục – đào tạo - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
3. Giáo dục – đào tạo (Trang 59)
4. Sự nghiệ py tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
4. Sự nghiệ py tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân (Trang 60)
Bảng 2.7: Hiện trạng phát triển giáo dục – đào tạo Quảng Ninh giai đoạn 2001–2005 - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Bảng 2.7 Hiện trạng phát triển giáo dục – đào tạo Quảng Ninh giai đoạn 2001–2005 (Trang 60)
Bảng 2.8: Hiện trạng phát triể ny tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001–2005 - Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh quảng ninh giai đoạn 2006 2020
Bảng 2.8 Hiện trạng phát triể ny tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001–2005 (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w