Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, nội dung của luận văn gồm 03 chương, cụ thể: Chương 1: Tổng quan lý luận
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Đức Thành
HÀ NỘI – 2018
Trang 3tại trường đại học tài chính – kế toán” là công trình nghiên cứu của cá nhân và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2018
Tác giả
Đỗ Tâm Vinh
Trang 4Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6
1.1 Tổng quan lý luận về chất lượng đào tạo ở các trường đại học 6
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa 6
1.1.2 Nội dung của chất lượng đào tạo đại học 12
1.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo 13
1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở trường đại học 15
1.5.5 Tài liệu giảng dạy 20
1.5.6 Phương pháp giảng dạy 20
1.5.7 Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế 22
1.2 Tổng quan thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại học và bài học kinh nghiệm 23
1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng đào tạo đại học ở nước ngoài 23
1.2.2 Thực trạng nâng cao chất lượng đào tạo tại một số trường đại học ở Việt Nam 28
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Trường Đại học Tài chính – Kế toán 31
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 32
Kết luận chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN 37
2.1 Khái quát về trường Đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi 37
2.2 Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi 43
2.2.1 Phân tích sự phù hợp của sứ mạng và mục tiêu đào tạo của trường 43
Trang 52.2.4 Cơ sở vật chất 52
2.2.5 Công tác tuyển sinh 53
2.2.6 Đánh giá kết quả sinh viên ra trường 55
2.2.7 Đánh giá từ phía người sử dụng lao động 56
2.2.8 Công tác nghiên cứu khoa học 58
2.3 Đánh giá chung về chất lượng đào tạo trường Đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi 61
2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 61
2.3.2 Những vấn đề khó khăn, tồn tại 63
Kết luận chương 2 64
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN QUẢNG NGÃI 66
3.1 Định hướng phát triển của trường đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi 66
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính – Kế toán 66
3.2.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 66
3.2.2 Đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên 69
3.2.3 Từng bước tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường 71
3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyển sinh nhằm thu hút đầu vào chất lượng cho trường 74
3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học theo hướng ứng dụng 75
3.2.6 Xây dựng mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp 77
3.3 Một số kiến nghị 80
Kết luận chương 3 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 6Bảng 2.1 Thống kê, phân loại giảng viên 46 Bảng 2.2 Thống kê tỷ lệ giảng viên sử dụng phương pháp dạy học năm 2016-2017 51 Bảng 2.3 tổng hợp số lượng đề tài nghiên cứu khoa học đăng ký thực hiện 58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu phát triển của Việt Nam đến năm 2020 là, về cơ bản, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạt được mục tiêu này, cần huy động và sử dụng một cách có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước Theo đó, một trong những yếu tố có ý nghĩa then chốt là chất lượng giáo dục đại học Bởi trong bất kỳ điều kiện lịch sử nào, trường đại học luôn là môi trường bồi dưỡng, sáng tạo và chuyển giao những thành tựu khoa học – công nghệ mới nhất, là đầu tàu trong việc tạo ra nguồn lao động chất lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2003 đã khẳng định: “Thu nhập bình quân của 20 nước giàu nhất cao gấp 37 lần so với 20 nước nghèo nhất Tỷ lệ này đã tăng nhanh gấp hai lần trong vòng 40 năm qua Lý do chủ yếu là do không
có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể tại các nước nghèo do thiếu vốn, thiếu các nguồn lực phát triển cần thiết, đặc biệt là tri thức khoa học và công nghệ” Điều này cho thấy, với một nền giáo dục yếu kém, chắc chắn sẽ mất lợi thế cạnh tranh Thực tế cho thấy, giáo dục – đào tạo là nhân tố quyết định để phát huy tiềm năng trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người
Trong thời đại của kinh tế tri thức, bất kỳ một quốc gia nào, để có thể đi tắt, đón đầu nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực chất lượng cao luôn giữ vai trò quyết định Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế
và các chính sách xã hội Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế – xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại
Trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống giáo dục nước ta đang chứa đựng nhiều yếu
tố bất cập, chất lượng giáo dục đại học còn thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Vẫn biết “nhân tài là nguyên khí quốc gia”, nhưng những điều kiện vật chất nghèo nàn, cơ chế quản lý lạc hậu, đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu,… không tương ứng với tốc độ phát triển của quy mô đào tạo chính là
Trang 8những nguyên nhân căn bản dẫn tới sự yếu kém của giáo dục đại học Theo Báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo (Số: 760 /BC-BGDĐT) ngày 29 tháng 10 năm 2009, năm
1987 cả nước có 101 trường đại học và cao đẳng (63 trường đại học, chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), nhưng đến tháng 9 năm 2009 đã có 376 trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần (150 trường đại học, chiếm 40%, gấp 2,4 lần và
226 trường cao đẳng chiếm 60%, gấp 6 lần) Việc mở rộng quy mô không chỉ bó hẹp trong các trường công lập mà cả loại hình dân lập Với 101 trường đại học và cao đẳng năm 1987 chúng ta chưa có trường ngoài công lập, đến năm 1997 cả nước
đã có 15 trường đại học ngoài công lập và đến tháng 9 năm 2009 có 81 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, chiếm 21,5% (44 trường đại học và 37 trường cao đẳng) Đến nay, đã có 40/63 tỉnh, thành phố có trường đại học (đạt tỷ lệ 63%); có 60/63 tỉnh, thành có trường cao đẳng (đạt tỷ lệ 95%) và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất 1 trường cao đẳng hoặc đại học (đạt tỷ lệ 98%, trừ tỉnh Đắk Nông chưa có trường đại học, cao đẳng nào) Và, 35/63 tỉnh có thêm trường đại học mới, trong đó:
23 tỉnh có thêm 1 trường; 10 tỉnh có thêm 2 – 3 trường; riêng Thành phố Hồ Chí Minh có thêm 18 trường đại học và Hà Nội (mở rộng) có thêm 23 trường, chiếm tỷ
lệ 43% số trường đại học thành lập mới và nâng cấp
Từ quy mô như trên chúng ta có thể khẳng định, công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được đẩy mạnh, nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục được huy động ngày càng nhiều Sự phân bố các cơ sở giáo dục đại học đã dần rộng khắp trên phạm vi cả nước Điều này là hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng địa phương và cả nước
Riêng tại Quảng Ngãi, hiện nay có 3 trường đại học và 4 trường cao đẳng, đào tạo đủ các ngành nghề Trường đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi là một trong những trường chuyên nghiệp được thành lập đầu tiên tại địa phương do Bộ Tài chính quản lý Trường đã đào tạo nhân lực ngành kinh tế, tài chính cho cả miền Trung Tây Nguyên Tuy nhiên những năm gần đây, việc tuyển sinh và đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường đang gặp phải nhiều khó khăn, tồn tại:
Trang 9- Vấn đề tuyển sinh đang là vấn đề chung của các trường đại học cấp tỉnh Không phải là trường Đại học Khu vực theo quy hoạch, lại có trụ sở ở một tỉnh nhỏ, không phải là địa phương phát triển mạnh, nhu cầu về lao động chất lượng cao có nhưng không lớn, thị trường lao động không sôi động, do đó Trường khó thu hút được lượng sinh viên lớn Ngoài ra, sinh viên đăng ký tại trường trong những năm gần đây có điểm đầu vào khá thấp, thường chỉ đạt mức điểm sàn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Đầu vào thấp sẽ ảnh hưởng không ít đến chất lượng đầu ra của trường
- Những năm gần đây, trường không ngừng nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ giảng viên Về số lượng, đã đạt đúng chuẩn theo quy định Về chất lượng,
đa phần giảng viên của Trường đều là Thạc sĩ, đa số đều trẻ, còn ít kinh nghiệm giảng dạy cũng như kinh nghiệm thực tế, còn hạn chế trong việc tham gia nghiên cứu khoa học, do đó chất lượng bài giảng chưa thực sự cao
- Hầu hết các môn học đều có giáo trình nội bộ do các Bộ môn biên soạn cho phù hợp với yêu cầu học tập, giảng dạy của nhà trường Tuy nhiên, các bài giảng này đều dựa theo các giáo trình của các trường đại học trong nước và đã cũ, ít được cập nhật kiến thức, số liệu và nghiên cứu mới vào tào liệu học tập, giảng dạy của nhà trường
- Cơ sở vật chất đã được đầu tư, nâng cấp, song vẫn còn thiếu nhiều, chưa tình đến hư hỏng không sữa chữa Hiện có đến gần 40% máy chiếu và máy tính phục vụ giảng dạy ở các phòng học bị hư hỏng mà chưa được khắc phục triệt để, phòng thư viện nhỏ và không nhiều đầu sách để phục vụ cho sinh viên tự học Chưa ứng dụng các phần mềm quản trị, kế toán, tài chính trong giảng dạy các môn này
- Sinh viên ra trường có việc làm cao, tuy nhiên đúng ngành nghề và vị trí mong muốn chiếm tỷ lệ không đáng kể
Nhằm giữ vững truyền thống ngôi trường đã trên 40 năm hoạt động với nhiều thành quả to lớn trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương
và khu vực Đánh giá đúng thực trạng chất lượng đào tạo của trường, qua đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường trong thời gian tới, tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính –
Kế toán” làm luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tài liệu lý thuyết về nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trong các trường đại học
b Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Tài chính – Kế toán
+ Thời gian: Nghiên cứu chất lượng đào tạo của trường giai đoạn 2012 – 2017
và đề xuất giải pháp đến năm 2020
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo tại các trường đại học công lập ở Việt Nam
- Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi
- Đánh giá chung về chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi
- Đề xuất và kiến nghị giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu thống kê được thu thập thông qua các giáo trình, sách, báo chí, tài liệu tham khảo…và các tài liệu thống kê,
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Các số liệu khảo sát được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu bằng phương pháp bảng câu hỏi sinh viên và cán bộ giảng viên của trường Đại học Tài chính Kế toán
Trang 11- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tham khảo các chuyên gia về lĩnh vực quản lý giáo dục, ý kiến của các nhà quản lý doanh nghiệp trên địa bàn Quảng Ngãi
về chất lượng đào tạo cũng như những yêu cầu về chất lượng lao động mà doanh nghiệp đang cần
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Thông qua các số liệu thu thập được từ bảng câu hỏi điều tra, phân tích đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính – Kế toán
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
a Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục đại học nói chung và chất lượng đào tạo đại học tại các trường đại học công lập cấp tỉnh ở Việt Nam
b Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá chất lượng đào tạo của trường Đại học Tài chính – Kế toán thời gian qua, nhận biết nhưng ưu thế, khó khăn và những vấn đề còn tồn đọng của trường, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi, là tài liệu tham khảo cho trường và các trường đại học khác
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, nội dung của luận văn gồm 03 chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo của trường đại học
Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo của Trường Đại học Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Tài chính – Kế toán quảng ngãi
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan lý luận về chất lượng đào tạo ở các trường đại học
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa
a Chất lượng trong giáo dục đại học
Có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về chất lượng đào tạo đại học Mỗi đối tượng sẽ đứng trên quan điểm của mình mà có định nghĩa khác nhau về chất lượng đào tạo đại học
Trong thực tế, có rất nhiều cách định nghĩa chất lượng, nhưng có thể được tập hợp thành năm nhóm quan niệm về chất lượng: chất lượng là sự vượt trội, là sự hoàn hảo, là sự phù hợp với mục tiêu, là sự đáng giá về đồng tiền, và là giá trị chuyển đổi
- Khái niệm truyền thống về chất lượng
Theo khái niệm truyền thống về chất lượng, một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền
Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sử hữu nó Trong giáo dục đại học nó có thể tương đồng với các trường đại học như Oxford và Cambridge Tuy nhiên khái niệm về chất lượng như vậy khó có thể dùng để đánh giá chất lượng trong toàn bộ
hệ thống giáo dục đại học Nếu mỗi trường đại học được đánh giá bằng các tiêuchuẩn như đã sử dụng cho trường đại học Oxford và Cambridge thì đa số các trường sẽ bị quy là có chất lượng kém Vả lại, có cần thiết phải làm cho tất cả các trường đại học đều giống như Oxford hay Cambridge hay không? Cách tiếp cận truyền thống đã tuyệt đối hoá khái niệm chất lượng
- Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật)
Cách tiếp cận chất lượng từ góc độ tiêu chuẩn hay các thông số kỹ thuật có nguồn gốc từ ý niệm kiểm soát chất lượng trong các ngành sản xuất và dịch vụ Trong bối cảnh này tiêu chuẩn được xem là công cụ đo lường, hoặc bộ thước đo -một phương tiện trung gian để miêu tả những đặc tính cần có của một sản phẩm hay
Trang 13dịch vụ Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó
Trong giáo dục đại học, cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường đại học muốn nâng cao chất lượng đào tạo có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực trong quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường mình và phấn đấu theo các chuẩn đó
Nhược điểm của cách tiếp cận này là nó không nêu rõ các tiêu chuẩn này được xây dựng nên trên cơ sở nào Hơn nữa thuật ngữ tiêu chuẩn cho ta ý niệm về một hình mẫu tĩnh tại, nghĩa là một khi các thông số kỹ thuật đã được xác định thì không phải xem xét lại chúng nữa Trong khi khoa học, kỹ thuật và công nghệ đang
có những bước tiến mới, tri thức loài người ngày càng phong phú thì “tiêu chuẩn” của giáo dục đại học không thể là một khái niệm tĩnh
Trong một vài trường hợp, tiêu chuẩn trong giáo dục đại học với nghĩa là những thành tựu của sinh viên khi tốt nghiệp được xem là chất lượng trong giáo dục đại học, tức là được sử dụng để chỉ đầu ra của giáo dục đại học với ý nghĩa là trình độ, kiến thức, kỹ năng đạt được của sinh viên sau 4 - 5 năm học tập tại trường
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
Cách tiếp cận khái niệm chất lượng được đa số các nhà hoạch định chính sách và quản lý giáo dục đại học, kể cả tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE - International Network of Quality Assurance In HigherEducation) sử dụng là tính phù hợp với mục đích - hay đạt được các mục đích đề ra trước đó Chất lượng được đánh giá bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích đã tuyên bố
Cách tiếp cận này cho phép cung cấp một hình mẫu để xác định các tiêu chí
mà một sản phẩm hay dịch vụ cần có Nó là một khái niệm động, phát triển theo thời gian, tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và tuỳ thuộc vào đặc thù của từng loại trường và có thể sử dụng để phân tích chất lượng giáo dục đại học ở các cấp độ khác nhau Ví dụ, nếu mục đích của giáo dục đại học là cung cấp nguồn lao động được đào tạo cho xã hội thì chất lượng ở đây sẽ được xem là mức
Trang 14độ đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp đối với thị trường lao động cả về số lượng và loại hình
Còn nếu để xét chất lượng về một khoá học nào đó thì chất lượng sẽ được xem xét trên góc độ là khối lượng, kiến thức, kỹ năng, mà khoá học đã cung cấp, mức độ nắm, sử dụng các kiến thức và kỹ năng của sinh viên sau khoá học v.v
Nhược điểm của cách tiếp cận này là rất khó xác định mục tiêu của giáo dục đại học trong từng thơì kỳ và cụ thể hoá nó cho từng khối trường, từng trường cụ thể, thậm chí cho từng khoa, hay khoá đào tạo Hơn nữa giáo dục đại học có thể có nhiều mục đích, một số mục đích cụ thể có thể xung đột với nhau (như giữa yêu cầu tăng quy mô và nâng cao chất lượng) và trong trường hợp đó cũng khó có thể đánh giá chất lượng của một trường đại học
- Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường đại học
Đây là một phiên bản của cách tiếp cận trên Theo cách hiểu này, một trường đại học có chất lượng cao là trường tuyên bố rõ ràng sứ mạng (mục đích) của mình
và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả và hiệu suất nhất Cách tiếp cận này cho phép các trường tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu đào tạo của trường mình Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng các tổ chức hữu quan sẽ xem xét, đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của trường đó có khả năng giúp nhà trường hoàn thành sứ mạng một cách hiệu quả và hiệu suất cao nhất không? Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các trường có nguồn lực hạn chế, giúp các nhàquản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, an toàn những nguồn lực của mình để đạt tới mục tiêu đã định từ trước một cách hiệu quả nhất
- Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao động được đào tạo)
Trong 20 năm gần đây người ta không chỉ nói tới việc sản phẩm phải phù hợp với các thông số kỹ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn nói tới sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sản phẩm đó Vì vậy khi thiết kế một sản phẩm hay dịch
vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của khách hàng, để sản phẩm có được
Trang 15những đặc tính mà khách hàng mong muốn và với giá cả mà họ sẽ hài lòng trả
Trong giáo dục đại học, định nghĩa này gây ra một số khó khăn trong việc xác định khái niệm khách hàng Ai là khách hàng trong giáo dục đại học? Đó là sinh viên (người sử dụng dịch vụ như thư viện, ký túc xá, phòng thí nghiệm .) hay là chính phủ, các doanh nghiệp (người trả tiền cho các dịch vụ đó) hay đó là cán bộ giảng dạy, cha mẹ sinh viên v.v Hơn nữa khi xác định sinh viên là khách hàng trong giáo dục đại học, lại nảy sinh thêm khó khăn mới là liệu sinh viên có khả năng xác định được nhu cầu đích thực, dài hạn của họ hay không? Liệu các nhà quản lý
có phân biệt được đâu là nhu cầu còn đâu là ý thích nhất thời của họ?
b Ý nghĩa của chất lượng đào tạo đại học
Trong suốt quá trình phát triển của nhân loại, đặc biệt trong giai đoạn gần đây khi nền kinh tế tri thức là lựa chọn của hầu hết các quốc gia, giáo dục đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế; thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội và cuối cùng giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người
Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế từ lâu đã nhận thấy rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và giáo dục chính là cách thức cơ bản để tích lũy vốn con người Những nghiên cứu của Ngần hàng thế giới
về mức tích lũy vốn nhân sự nhằm tạo ra tăng trưởng đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục phổ thông đối với tăng trưởng kinh tế thông qua việc nâng cao năng suất lao động Đông Á đã từng là một trong số các khu vực được khảo sát
và thảo luận nhiều nhất về có hay không “thần kỳ kinh tế”, do tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong những năm 1990 và sự hội tụ nhanh chóng tới thu nhập bình quân đầu người của khu vực này với các nước công nghiệp hoá Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra rằng một nhân tố quan trọng trong thành công của Đông Á trong giai đoạn 1965-1990 là đã hình thành một cơ sở tích luỹ vốn con người thông qua phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở
Trang 16Mặt khác, những thay đổi lớn về kết cấu kinh tế, các ngành công nghiệp và thị trường lao động quốc tế dẫn đến yêu cầu phát triển kiến thức nhanh chóng cũng như sự linh hoạt và di chuyển nghề nghiệp đối với từng cá nhân Sự tích lũy kiến thức và tiến trình phát triển công nghệ làm cho cá nhân người lao động linh hoạt hơn trong việc thích ứng với nghề nghiệp mới Do vậy, năng lực và kỹ năng lao động tổng hợp là một trong những điều kiện cần thiết để người lao động thành công ở nơi làm việc hiện nay, và điều này chỉ có được thông qua quá trình được giáo dục
và đào tạo
Cuối cùng, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo Đối với người nghèo, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sức lao động Thu nhập của người nghèo thấp một phần do lao động của họ kém hiệu quả, một phần do sự phân biệt Khi đó, giáo dục mang lại kiến thức, quan điểm và kỹ năng giúp nâng cao năng suất lao động của lực lượng nghèo và khi có cơ hội họ sẽ tìm được việc làm ở cả khu vực chính thức và không chính thức, thu nhập của họ sẽ tăng cao hơn và cũng
từ đó, tạo điều kiện cho họ than gia vào các quá trình xã hội một cách bình đẳng hơn nhờ nâng cao nguồn lực của người lao động
Ủy ban Kothari (1996) liệt kê những vai trò sau đây của các trường đại học (các cơ sở giáo dục đại học trong xã hội hiện đại):
- Tìm kiếm và trau dồi tri thức mới, không ngừng nghỉ và không chùn bước trong quá trình kiếm tìm chân lý, thường xuyên xem xét lại ý nghĩa của những kiến thức và niềm tin cũ dưới ánh sáng của những nhu cầu mới và khám phá mới;
- Nắm giữ vai trò lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống, phát hiện những con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng các mối quan tâm, các thái độ, các giá trị đạo đức cũng như giá trị tinh thần đúng đắn
- Cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác; những người này sẽ là những cá nhân đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng
Trang 17- Nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt về văn hoá xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục; và
- Nuôi dưỡng và khích lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững, tốt đẹp của cá nhân và xã hội, và từ đó nhân rộng những thái độ và giá trị này ra cho cả cộng đồng
Báo cáo của Ủy ban quốc tế về giáo dục trong thế kỷ 1 của UNESCO, có tiêu
đề là “Học tập: Kho báu bên trong” (thường được biết đến dưới tên Ủy ban Delors) nhấn mạnh bốn trụ cột của giáo dục: học để biết, học để làm, học để chung sống, và học để làm người Giáo dục đại học cần truyển tải bốn điều này tới mỗi cá nhân và
xã hội Bản báo cáo cũng nhấn mạnh những chức năng cụ thể của giáo dục đại học:
- Chuẩn bị cho sinh viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy;
- Cung cấp các khoá đào tạo chuyên sâu để đáp ứng các nhu cầu kinh tế xã hội;
- Mở rộng cơ hội giáo dục cho tất cả mọi người, đáp ứng các khía cạnh khác nhau của việc giáo dục suốt đời trong ý nghĩa bao quát nhất của nó;
- Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua việc quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu, công nghệ, tạo mạng lưới liên kết, và tạo điều kiện cho sự luân chuyển tự do của những ý tưởng khoa học cũng như của chính các nhà nghiên cứu (UNESCO, 1966)
Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động Như vậy, giáo dục đại học trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp Mặt khác, giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu.Theo cách nhìn này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng Từ đó, giáo dục đại học đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” (feeder system) của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết
để phục vụ các công tác quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu Một
Trang 18quốc gia muốn phát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh tế thì nhất thiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống giáo dục đại học và một lực lượng lao động Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta chính là nhờ có một hạ tầng giáo dục đại học đẳng cấp quốc tế Giáo dục đại học còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội
Như vậy, chất lượng đào tạo hay giáo dục đại học có thể xem là yếu tố then chốt, sống còn trong sự nghiệp phát triển kinh tế cũng như đào tạo con người của một quốc gia Có thể vì thế mà hiện nay, nó được cả xã hội quan tâm Vậy làm thế nào để đánh giá chất lượng giáo dục đại học trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay Như đã nói từ trước, đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm giáo dục đại học và chất lượng giáo dục đại học và khó có thể đi đến một quan điểm hoàn toàn thống nhất
Tuy nhiên, trên cơ sở các quan điểm đó, ta có thể đưa ra một số điểm chung, đặt ra những tiêu chí, mục tiêu để thực hiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học hiện nay Trên cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản hướng dẫn cũng như yêu cầu đối với các cơ sở giáo dục đại học về đảm bảo chất lượng đào tạo
1.1.2 Nội dung của chất lượng đào tạo đại học
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam (2004): “ Chất lượng đào tạo được hiểu là một tiêu thức phản ánh các mức độ khác nhau về kết quả hoạt động giáo dục và đào tạo có tính liên tục từ khởi đầu quá trình đào tạo đến khi kết thúc quá trình đó” Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và nguồn nhân lực cho thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiệ đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, giảng viên, chất lượng tuyển đầu vào mà còn phụ thuộc vào việc người tốt nghiệp có thích ứng và phù hợp với yêu cầu của xã hội, phù hợp với cuộc sống và thị trường lao động hay không Để đánh giá được căn cứ vào mức tỷ lệ khả
Trang 19năng học lên, có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lực ngành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể Tuy nhiên, nói đến chất lượng đào tạo trước tiên phải nói đến kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động của người tốt nghiệp thông qua nghề nghiệp của họ Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như mối quan
hệ cung – cầu lao động, giá cả sức động, chính sách sử dụng lao động, chính sách của nhà nước và người sử dụng lao động GS.TS Trần Khánh Đức (2004) đã chỉ ra mối quan hệ giữa mục tiêu và chất lượng giáo dục trong “quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực như sau:
1.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo
Cũng như các quan điểm về chất lượng đào tạo đạo học, để đánh giá chất lượng đào tạo của các trường đại học cũng có nhiều ý kiến, quan điểm Để thống nhất cho việc đánh giá và kiểm định chất lượng các trường đại học, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa ra thông tư hướng dẫn về bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học gồm:
1 Sứ mạng và mục tiêu của trường Đại học
2 Tổ chức quản lý
3 Chương trình đào tạo
4 Hoạt động đào tạo
5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên
Trang 206 Người học
7 Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ
8 Hoạt động hợp tác quốc tế
9 Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác
10 Tài chính và quản lý tài chính
Các tiêu chuẩn này chủ yếu phục phụ cho công tác kiểm định và tự đánh giá của các trường đại học và hầu hết mang tính chất là điều kiện để đảm bảo chất lượng đào tạo chứ không rỏ ràng là cách đánh giá chất lượng quá trình đào tạo của một trường đại học
Bất kỳ quy trình sản xuất nào thì chất lượng cũng được đánh giá bằng hai yếu tố: đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đó Đánh giá một trường đại học cũng vậy, chất lượng đào tạo của trường đại học được đánh giá bằng đầu vào và đầu
ra của hoạt động đào tạo:
a Chất lượng đánh giá bằng “đầu vào”
Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là:
Nguồn lực = chất lượng
Theo quan điểm này, một trường đại học tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao Như vậy, chất lượng đào tạo của trường đại học được đánh giá bằng
- Chất lượng đầu vào của sinh viên
- Số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên
- Chương trình đào tạo
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị
a Chất lượng đánh giá bằng “đầu ra”
Quan điểm khác về chất lượng giáo dục đại học cho rằng “đầu ra” của giáo dục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo
Trang 21“Đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó Có thể đánh giá đầu ra của trường đại học bằng các tiêu chuẩn sau:
- Kết quả học tập của sinh viên
- Số lượng sinh viên có việc làm sau khi ra trường
- Đánh giá của người sử dụng lao động:
+ Năng lực làm việc của sinh viên + Khả năng phát triển của sinh viên
1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở trường đại học
Có thể xem xét tóm lược các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trong
cơ chế thị trường qua sơ đồ sau
Trang 221.1.4.1 Đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo của các đơn vị nhà trường Giáo viên là người truyền thụ kiến thức, thiết kế và tổ chức các hoạt động của người học, hướng nghiệp và khơi nguồn cảm hứng, hứng thú trong quá trình học tập của học sinh Giáo viên còn có via trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kích thích khả năng sáng tạo của học sinh, giúp học sinh hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Vai trò của người giáo viên là rất qua trọng, điều này được thể hiện ở chỗ: Dạy nghề và dạy người, trang bị kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, đạo đức, thái độ nghề nghiệp và phẩm chất giúp cho người học có thể tự tin khi ra trường nhằm đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động Đó cũng là cơ sở để khẳng định
vị thế và chất lượng đào tạo của nhà trường trong điều kiện hiện nay nếu như muốn tồn tại và phát triển
Để làm được điều này thì đội ngũ giáo viên tối thiểu phải đạt chuẩn theo qui
Trang 23định nghĩa là tất cả giáo viên tham gia giảng dạy phải tốt nghiệp Đại học trở lên và phải có chứng chỉ nghiệp vụ sử phạm
Có thể nói chất lượng của đội ngũ giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Do vậy để nâng cao chất lượng đào tạo trước hết phải lưu ý đến việc xây dựng đội ngũ giáo viên Đội ngũ giáo viên không những phải đủ về mặt số lượng mà còn phải có chất lượng Trong trường hợp này các đơn vị nhà trường phải
có kế hoạch cụ thể trong việc tuyển dụng, sử dụng và có kế hoạch đào tạo, bối dưỡng nhằm nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ giáo viên, xây dựng đội ngũ giáo viên một cách có hiệu quả
Quá trình xây dựng đội ngũ giáo viên phải đảm bảo những yêu cầu sau:
Về mặt số lượng: Đảm bảo đủ số lượng giáo viên theo quy mô đào tạo
và theo biên chế ngành nghề đào tạo Quy định đối với các cơ sở đào tạo hệ đại học chuyên nghiệp của các ngành kinh tế, tài chính, thì tỷ lệ học sinh/Giáo viên là 25 học sinh/ Giáo viên (Năm 2010) - (Theo Công văn số 1325/BGDĐT- KHTC về việc hướng dẫn cách xác định số sinh viên, học sinh quy đổi trên một giảng viên, giáo viên quy đổi)
Về mặt chất lượng: Giáo viên phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên Đối với giáo viên không tốt nghiệp ở các trường sư phạm thì phải có chứng chỉ sư phạm (Theo Luật giáo dục 2005, mục 2 - điều 77 quy định trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo)
Sản phẩm trong quá trình đào tạo, hay nói cách khác đầu ra trong quá trình đào tạo là người lao động Để người lao động đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động thì các yếu tố đầu vào phải tốt Trong đó chất lượng, năng lực và trình độ của đội ngũ giáo viên là điều kiện tiên quyết Do vậy, các trường sẽ có biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên trên cơ sở đó sẽ nâng cao chất lượng đầu ra
1.1.4.2 Chất lượng tuyển sinh đầu vào
Người học là trung tâm của quá trình đào tạo, do đó là yếu tố then chốt quyết định chất lượng đào tạo của trường đại học Để có chất lượng đầu ra tốt thì phải có
Trang 24đầu vào đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo
Người ta cũng nói đại ý các giáo sư ở Harvard chỉ cần nghiên cứu, không cần dạy gì thì sinh viên ra trường vẫn giỏi, vì ở đầu vào họ đã là những cá nhân xuất sắc Nói như vậy là cực đoan, nhưng không phải không có phần sự thật Với một xuất phát điểm quá thấp thì rất khó có hy vọng tạo ra đột phá trong kết quả Vấn đề này càng khó khăn đối với các trường đại học địa phương hoặc có trụ sở đóng tại các tỉnh nhỏ, chưa phát triển
Ngoài ra, ý thức của người học trong việc lĩnh hội kiến thức, rèn giũa kỹ năng cũng vô cùng quan trọng Cần khơi gợi cho họ sự yêu thích, phấn khởi trong học tập, kỳ vọng về tương lai, vào kết quả của quá trình học tập tốt Có như vậy, sinh viên mới tự giác trong tự học, thực hành, tìm hiểu kiến thức chuyên môn, thực tiễn, rèn giũa các kỹ năng cần thiết
1.1.4.3 Cơ sở vật chất – Trang thiết bị kỹ thuật
Cơ sở vật chất – trang thiết bị giảng dạy có vai trò tích cực trong việc hỗ trợ Thầy và trò đề nâng cao chất lượng đào tạo Việc nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật là yêu cầu cấp thiết trong công tác đào tạo ở nước ta hiện nay
Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo trong mỗi nhà trường
là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo Mỗi một ngành nghề đào tạo đòi hỏi hệ thống phương tiện, nhưng chung quy lại thì hệ thống cơ sở vật chất trong nhà trường gồm: phòng học lý thuyết, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, thư viện, ký túc xá, các phương tiện dạy học
Đây là những điều kiện quan trọng góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường bên cạnh các điều kiện đảm bảo khác như: đội ngũ giáo viên, chương trình, tài liệu học tập
Trang thiết bị kỹ thuật là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo Học phải gắn với hành kết hợp với thực hành Đảm bảo đủ số lượng máy móc và các phương tiện dạy học cho học sinh thực tập là vấn đề cấp thiết hiện ngay
Có thể nói hiện nay cơ sở vật phục vụ cho quá trình đào tạo được rất nhiều
Trang 25trường quan tâm Nhiều trường đã có những khu giảng đường lớp học khang trang, hiện đại đáp ứng được nhu cầu của người học Tuy nhiên bên cạnh đó nhiều trường
do kinh phí còn hạn hẹp nên không thể đầu tư xây dựng mới được khu giảng đường lớp học, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho quá trình đào tạo
1.1.4.4 Chương trình mục tiêu – Nội dung đào tạo
Mục tiêu đào tạo: đó là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình dạy học Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là người học sinh tốt nghiệp với nhân cách đã được phát triển, hoàn thiện thông qua quá trình dạy học Nhân cách người học sinh hiểu theo cấu trúc đơn giản gồm có phẩm chất (phẩm chất của người công dân, người lao động nói chung, lao động ở một lĩnh vực nhất định) và năng lực (Hệ thống kiến thức khoa học – công nghệ, kỹ năng – kỹ xảo thực hành chung và riêng)
Nội dung đào tạo: để thực hiện được mục tiêu người học cần phải lĩnh hội một hệ thống các nội dung đào tạo bao gồm: Chính trị - Xã hội; Khoa học – Kỹ thuật – Công nghệ; Giáo dục thể chất và quốc phòng Nội dung đào tạo được phân chia thành các môn học cụ thể
Chương trình đào tạo là nội dung cơ bản, cần thiết và quan trọng trong quá trình đào tạo Nó là chuẩn mực để đánh giá chất lượng đào tạo trong các đơn vị nhà trường
Đầu ra của quá trình đào tạo là người lao động Người lao động đó có đáp ứng được nhu cầu của thị trường không? Đó là câu trả lời rất khó Để trả lời câu hỏi này thì chỉ có người sử dụng lao động mới trả lời chính xác nhất Như vậy đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải coi chất lượng đào tạo là sự phù hợp, ở kết quả sản phẩm đầu
ra Vì thế các cơ sở đào tạo cần phải nghiên cứu nhu cầu của người sử dụng lao động Trên cơ sở đó xây dựng khung chương trình sao cho phù hợp
Chương trình đào tạo phải bảo đảm mục tiêu đào tạo, phải thiết kế sao cho vừa cả điều kiện chung (Chương trình khung) là phần cứng do cơ quan chủ quản cấp trên đã phê duyệt và thống nhất
Bên cạnh đó nhà trường phải xây dựng phần mềm (bao gồm các tiết thảo luận, tham quan thực tế, nói chuyện theo chủ đề) để tạo ra tính đa dạng, phong phú
Trang 26theo từng ngành nghề cụ thể, tạo bản sắc riêng cho nhà trường
Chương trình đào tạo phải tùy thuộc theo từng ngành nghệ mà bố trí số môn học, thời gian học sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo Trong từng môn học cũng tùy theo từng chuyên ngành cụ thể mà bố trí số tiết giảng cho hợp lý Việc sắp xếp thứ tự các môn học trong từng học kỳ cũng hết sức quan trọng, nó phải được sắp xếp theo một trình tự logic cụ thể, hợp lý Có như vậy học sinh mới tiếp thu các môn học một cách dễ dàng
1.5.5 Tài liệu giảng dạy
Giáo trình là tài liệu môn học, thông qua bài giảng kết hợp với giáo trình môn học giúp cho sinh viên có thể tiếp thu bài giảng sâu hơn Hiện nay ngoài giáo trình tham khảo thì các trường đều khuyến khích tất cả giáo viên tham gia giảng dạy viết tài liệu tham khảo lưu hành nội bộ Có thể nói giáo trình lưu hành nội bộ là tài liệu chuẩn mực vì nó là kết quả thực tiễn của trường đó được kết tinh qua nhiều năm học
Tuy nhiên để giáo trình đạt chuẩn thì đòi hỏi người biên soạn phải có kinh nghiệm, có trình độ Mặt khác trong từng năm học, tài liệu phải luôn được sửa đổi, hiệu chỉnh bổ xung kịp thời để phù hợp với sự phát triển của thời đại, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
1.5.6 Phương pháp giảng dạy
Thứ nhất, đó là phương pháp giảng dạy trong nhà trường Có thể nói rằng, hiện nay, đào tạo đại học ở Việt Nam quá quan tâm tới lý thuyết và nguyên lý, không quan tâm tới kỹ năng và khả năng sáng tạo Quy trình giáo dục nặng tính truyền đạt với phần lớn thời gian học ở trên lớp, không chú trọng tới thực hành và
tư duy về bài học Đầu tư cho thực hành, thí nghiệm, nghiên cứu rất ít, do đó, nhận thức của sinh viên mang nặng tính lý thuyết, kiến thức dữ kiện, kém khả năng liên kết các sự kiện với nhau cũng là điều có thể giải thích được Việc đào tạo giáo dục đại học hiện nay mới chỉ tập trung vào kiến thức lý thuyết mà quên rằng, cần quan tâm tới cả kiến thức thực hành, những kỹ năng và hiểu biết xã hội cùng phẩm chất cho người lao động Do đó, tiêu chuẩn đánh giá sinh viên không nên chỉ dựa trên
Trang 27những bài học lý thuyết mà phải là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thông tin, tri thức, khả năng vận dụng, tinh thần thái độ và kỹ năng làm việc
Rất nhiều sinh viên học mà không biết họ cần hay nên học cái gì và học như thế nào cho có hiệu quả? Cũng không ít sinh viên cho đến tận khi ra trường đi làm cũng chưa hiểu mình phải đáp ứng những tiêu chuẩn nào để có được việc làm và thị trường lao động đòi hỏi gì Họ chỉ biết tập trung vào một số kiến thức nhất định mà thầy cô giới thiệu cho họ trên lớp Thế nhưng, thực tế, có một tỷ lệ không nhỏ các thầy cô giáo chỉ dạy lý thuyết mà nhiều lý thuyết lại đã lỗi thời, lạc hậu, có từ những năm 70 của thế kỷ trước Chỉ có một số lượng rất ít giáo viên đưa thực tế vào minh chứng cho lý thuyết mà họ cung cấp cho sinh viên, tập trung chủ yếu ở các giáo viên mới được đào tạo ở nước ngoài về hoặc ở các trường có các chương trình tiên tiến, các khóa học liên kết với nước ngoài hoặc ở các trường kỹ thuật, công nghệ Hơn nữa, thời gian trên lớp cũng không đủ dài để thầy cô có thể giảng dạy thấu đáo mọi vấn đề về kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp mà đòi hỏi sinh viên phải tự trau dồi bằng chính tính tự lập và tư duy sáng tạo của mình
Cũng phải khẳng định rằng, ít cơ sở đào tạo có chính sách khuyến khích hữu hiệu để giảng viên tâm huyết đưa cái mới và thực tiễn vào bài giảng cho dù điều này luôn được viết trên giấy mực Việc đưa thực tế vào bài giảng và áp dụng phương pháp giảng dạy mới phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của giáo viên, vào áp lực công việc cũng như chế độ đãi ngộ và hình thức động viên của nhà trường cho giáo viên Bộ GD-ĐT cũng đã thừa nhận: Nhìn chung đội ngũ giảng viên trong các cơ sở đào tạo còn bộc lộ nhiều yếu kém và đó cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng sinh viên tốt nghiệp
Bên cạnh đó, việc đánh giá, kiểm tra trong các trường cũng không mang tính toàn diện, không đánh giá cả quá trình mà chỉ dựa trên một vài bài kiểm tra những kiến thức trước đó theo một khung định sẵn, không khuyến khích sáng tạo Cùng với đó, phương pháp đánh giá hiện tại vẫn còn quá đề cao tính cá nhân mà chưa tạo cho sinh viên thói quen làm việc tập thể
Trang 281.5.7 Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
Tài chính trong giáo dục là sử dụng chính sách tiền tệ, quản lý tiền tệ theo mục đích của giáo dục mà nhà nước có trách nhiệm Nhà trường, các cơ sở đào tạođều do nhà nước thống nhất quản lý nên phải tuân thủ các quy định do nhà nước ban hành Với mục tiêu là hình thành “Nhân cách – sức lao động” với quan điểm “Giáo dục
là quốc sách hàng đầu” Đồng tiền vận động vào hoạt động giáo dục đào tạo nó góp phần củng cố hình thái ý thức xã hội và thúc đẩy sự hình thành và phát triển sức lao động để có thể tham gia vào thị trường lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa
Người ta thượng minh họa luận đề: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” qua công thức:
Giáo dục là quốc sách hàng đầu = Chính sách giáo dục về mặt tổ chức sư phạm + Ngân sách giáo dục
Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nguồn lực tài chính Đây là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Nếu không có nguồn lực tài chính dồi dào chắc chắn không thể đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho quá trình đào tạo
Mặt khác muốn có đội ngũ giáo viên giỏi, có trình độ, có năng lực thực sự thì nhà trường phải đưa ra mức thù lao hấp dẫn, cũng như chính sách đãi ngộ thỏa đáng Tuy nhiên thực tế hiện nay mức thù lao cho giáo viên là rất thấp, do đó không thể thu hút được đội ngũ tri thức có trình độ chuyên môn thực sự
Hơn nữa khi không đủ nguồn lực tài chính chắc chắn vật tư, trang thiết bị máy móc phục vụ cho quá trình đào tạo cũng thiếu Với hiện trạng này dễ hiểu vì sao chất lượng đào tạo còn chưa cao
Như vậy, tăng nguồn kinh phí là điều cần thiết để tăng chất lượng đào tạo hiện nay Nhưng tăng nguồn lực bằng cách nào thì không hề đơn giản Tăng mức học phí là khả thi để tăng nguồn thu nhưng mức học phí là cố định, được Bộ Tài chính quy định nên xem ra giải pháp này không thể thực hiện được
Để đa dạng các nguồn lực tài chính các trường chỉ còn cách liên doanh, liên kết trong đào tạo, vay mượn từ các tổ chức Trong tương lai gần có thể tiến hành
Trang 29việc cổ phần hóa các đơn vị trường học Có như vậy mới tăng được nguồn thu bổ sung vào việc mua sắm trang thiết bị, vật tư phục vụ cho quá trình đào tạo
1.2 Tổng quan thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại học và bài học kinh nghiệm
1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng đào tạo đại học ở nước ngoài
a Ở Mỹ, đảm bảo chất lượng là một quá trình được hoạch định và có hệ thống dùng để đánh giá các trường đại học hoặc đánh giá chương trình nhằm xác định các chuẩn mực giáo dục, việc cấp học bổng hay cơ sở hạ tầng của cơ sở hay chương trình giáo dục là có thể chấp nhận được và được duy trì cũng như củng cố đúng như các tuyên bố Các trường đại học ở Hoa Kì phần lớn kết hợp sự tự điều chỉnh với sự kiểm định của các tổ chức kiểm định chuyên môn phi Chính phủ và các hiệp hội kiểm định vùng Các tổ chức kiểm định chuyên môn phi Chính phủ kiểm định các khoá học, còn các hiệp hội kiểm định vùng kiểm định các trường đại học Quá trình kiểm định của Hoa Kì nói chung gồm các thành tố sau: các chỉ số thực hiện, tự đánh giá và đánh giá ngoài với hai tập hợp các tiêu chí và chỉ số đánh giá Các chỉ số thực hiện việc cung cấp các dữ liệu định lượng có liên quan đến các nguồn lực và việc thực hiện như: các nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị,
và thư viện; các mô tả về toàn bộ sinh viên và các chỉ số lựa chọn sinh viên nhập học; tình trạng duy trì tổng số sinh viên và tỉ lệ tốt nghiệp
Thành tố thứ hai, tự đánh giá (hay đánh giá trong) chỉ ra mức độ của thành tích mà nhà trường đạt được so với các chuẩn mực và tham vọng của chính nhà trường nói (các mục đích và mục tiêu của nhà trường) Đánh giá trong nói chung dựa vào thành tố đầu tiên (các chỉ số thực hiện) và các yếu tố chủ quan Thành tố thứ ba, đánh giá ngoài, bao gồm đánh giá của các chuyên gia bên về thành tích của nhà trường, dựa vào một số chuẩn mực Một báo cáo về đánh giá này sẽ được cung cấp cho cả trường đại học được đánh giá và cơ quan kiểm định Trường Đại học Stanford là một trong những trường đại học danh tiếng của Mỹ, áp dụng một tập hợp có chủ ý các quá trình đảm bảo chất lượng tại mỗi cấp độ thực hiện của tổ chức, bao gồm các quá trình phê chuẩn chương trình và chương trình học mới, đánh giá
Trang 30chương trình theo định kì, đánh giá liên tục và thu thập dữ liệu Các quá trình này liên quan đến các quá trình chuẩn y, theo dõi các kết quả theo thời gian và sử dụng các kết quả đánh giá này để xem xét lại và cải thiện các cấu trúc, và các quá trình, các chương trình học và chương trình giáo dục học Ban giám hiệu Nhà trường có trách nhiệm phê chuẩn và đánh giá tất cả các chương trình đào tạo thông qua một Ủy ban đánh giá các chuyên ngành học Nhiều chương trình cấp bằng mới ở cấp độ đại học và sau đại học đều được toàn thể Ban giám hiệu đánh giá và phê chuẩn Là một phần của quá trình đánh giá liên tục, các khoa và các chương trình đều được yêu cầu là phải hoàn thành việc tự đánh giá mà bao gồm trong đó đánh giá chương trình giảng dạy, ý kiến phản hồi mang tính xây dựng từ các sinh viên hiện tại và cựu sinh viên, xếp hạng cấp quốc gia, kinh phí hỗ trợ việc nghiên cứu Các báo cáo hằng năm gửi về cho các Ủy ban đánh giá của nhà trường Ban giám hiệu cũng có quyền lực tối cao trong việc đánh giá và quyết định những thay đổi nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục chung và các chương trình đào tạo của nhà trường
Tất cả cán bộ giảng dạy của nhà trường phải có trách nhiệm về quá trình giảng dạy của bản thân và tham gia vào các cuộc điều tra, khảo sát liên tục nhằm đánh giá hiệu quả của quá trình giảng dạy Kết quả của các cuộc điều tra, khảo sát
sẽ được sử dụng vào việc thiết kế các chương trình học, thiết kế và đưa vào ứng dụng các phương pháp giảng dạy và áp dụng để cải thiện các phương pháp đánh giá
và phương pháp giáo dục Nhà trường thành lập nhóm thu thập và xử lý thông tin Nhóm này có nhiệm vụ thu thập và phân tích rất nhiều dữ liệu từ việc xử lý các mẫu phiếu khảo sát sinh viên, các báo cáo tự đánh giá của các đơn vị Một số kết quả của việc phân tích dữ liệu được công bố rộng rãi, một số thì chỉ được cung cấp cho các lãnh đạo (Trưởng khoa, Trưởng các phòng ban và Hiệu trưởng) để đưa ra các quyết định Đồng thời, đây là một trong những cơ sở để nhà trường phát triển các chỉ số đánh giá thành tích hiệu quả hơn cũng như để đảm bảo sự liên tục và hữu ích của các dữ liệu
b Đảm bảo chất lượng ở Úc bao gồm các chính sách, thái độ, hành động và quy trình cần thiết để đảm bảo rằng chất lượng đang được duy trì và nâng cao Năm
Trang 312000, Cơ quan chất lượng của các trường đại học Úc (AUQA - Australian Universities Quality Agency) được thành lập nhằm kiểm tra các hoạt động chất lượng của các trường đại học một cách độc lập Đây là một đơn vị hoạt động như một cơ quan quốc gia có tính độc lập nhằm giám sát, kiểm toán và báo cáo về hoạt động đảm bảo chất lượng của các trường đại học Úc AUQA được điều khiển bởi các thành viên của Hội đồng Bộ Hoạt động của hội đồng này là độc lập với Chính phủ nhưng lại chịu sự chỉ đạo của Hội đồng các giám đốc gồm năm thành viên do Chủ tịch điều hành hiệp hội các trường đại học; sáu thành viên do Hội đồng bộ chỉ định và một giám đốc điều hành Mục tiêu chính của AUQA là củng cố lòng tin của công chúng và thị trường quốc tế về chất lượng của các trường đại học Úc
Trường Đại học Queensland, là một trong những học viện đứng hàng đầu ở
Úc về việc giảng dạy và nghiên cứu , cam kết cung cấp một khung mẫu cho quản l í
và đảm bảo chất lượng Tất cả các thành viên trong cộng đồng các trường đại học
có thể đóng góp vào việc cải thiện liên tục thông qua một chu kì nối tiếp nhau : lập chiến lược , báo cáo và đánh giá Cách tiếp cận đối với việc đảm bảo và quản lí chất lượng của trường đang nổ lực để đảm bảo rằng các quá trình cho các hoạt động , ở mọi cấp độ của trường đại học đều có động lực thúc đẩy là nâng cao chất lượng Đảm bảo chất lượng gắn liến với các quá trình và văn hóa tổ chức của Nhà trường Sự đảm bảo và quản lí chất lượng ở Trường Đại học Queensland là tiêu điểm của các hệ thống liên tục gồm việc lập chiến lược , báo cáo và đánh giá Nó bao gồm nhiều nhân tố chính, bao gồm:
- Quá trình báo cáo, lập kế hoạch tổ chức và chiến lược hằng năm và đánh giá lại theo định kì các kế hoạch danh sách đầu tư và các định hướng chiến lược chính;
- Một chu kì toàn diện đánh giá các trường học; trung tâm và các học viện ; các đơn vị tổ chức trung tâm ; các chương trình và chính sách ; và cam kết cấp phép chuyên nghiệp cho các chương trình chuyên môn có đầy đủ điều kiện;
- Một cơ cấu thực hiện cấp trường hằng năm, mà cơ cấu tổ chức này xác đinh những mong đợi về thành quả cho một bộ gồm 20 tiêu chí biểu thị thành quả đạt được có liên quan đến việc học tập, khám phá và sự cam kết;
Trang 32- Chu kì đánh giá các trường; các học viện và các chương trình giáo dục , mà sự đánh giá này do Ban giáo dục xem xét;
- Các quá trình kiểm soát mở rộng hằng năm về cả nghiên cứu (ví dụ như phân tích các quá trình trích dẫn) và cả việc dạy và học (ví dụ như các quá trình đánh giá chất lượng dạy và chương trình học);
- Đánh giá thành tích hằng năm cho các nhân viên nói chung và các cán bộ giảng dạy, việc đánh giá có liên quan đến việc thiết lập mục tiêu và báo cáo các kết quả đạt được;
- Các cơ chế sử dụng ngân quỹ mà các cơ chế này tạo ra mối liên hệ giữa việc sử dụng các số tiền với kết quả thu được ; và tiếp tục thực hiện so sánh với các trường khác để rút ra những bài học cần th iết, mà việc thực hiện phải được tiến hành ở nhiều cấp độ tại trường đại học
Tại trường Đại học Queensland, qui trình đánh giá khoá học hay một chương trình đào tạo bao gồm các bước:
Mỗi môn học hay khoá học đều phải nêu rõ mục đích, mục tiêu và trình lên Hội đồng khoa học duyệt Các cán bộ, giảng viên viết báo cáo và trình lên khoa, từ
đó trình lên Ban chủ nhiệm khoa và Hội đồng khoa học;
- Các chương trình được đề xuất bởi cán bộ, giảng viên cấp khoa, trình lên Ban chủ nhiệm khoa duyệt, sau đó được đưa lên một trong các ban của Hội đồng khoa học (Ban Giáo dục hoặc Ban Sau đại học) Ban đó sẽ xem xét chương trình có đáp ứng các tiêu chuẩn của trường hay không đồng thời trình lên Hội đồng khoa học duyệt và sau cùng gửi lên Hội đồng trường
c Ở Thái Lan, đảm bảo chất lượng được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra chất lượng nhà trường, kiểm toán chất lượng bên ngoài và kiểm định công nhận nhằm vào các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện, các kết quả học tập hay các chỉ số học tập và cải tiến chất lượng
Trường Đại học Chulalongkorn trường đại học lớn nhất Thái Lan - ngay từ năm 1996 đã có ý tưởng phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng, đặt mục tiêu đến năm 2002 mỗi đơn vị trong trường phải có hệ thống đảm bảo chất lượng của mình
Trang 33sẵn sàng đi vào hoạt động Bước đầu, mỗi đơn vị học thuật tiến hành tự đánh giá thông qua các cuộc thăm viếng của các chuyên gia trên cơ sở ba kiểu hoạt động căn bản (được coi là cơ sở cho hệ thống đảm bảo chất lượng của trường): kiểm soát, hỗ trợ và thanh tra chất lượng giáo dục
Trong tiêu chuẩn đảm bảo giảng dạy - học tập nêu rõ một tổ chức phải hình thành các hoạt động dạy-học trong đó bao gồm chương trình đào tạo, đội ngũ, quá trình giảng dạyhọc tập, sinh viên, các yếu tố hỗ trợ cần thiết cho các hoạt động giáo dục nhằm đào tạo những sinh viên tốt nghiệp có chất lượng cao
Chương trình, cơ sở đào tạo phải phát triển chương trình trong đó đảm bảo những yêu cầu về mặt học thuật và chuyên môn Chương trình này phải được đánh giá dựa trên những yêu cầu cơ bản, giám sát về hiệu quả và tương thích với sự thay đổi
Đội ngũ, đơn vị phải có hệ thống tuyển dụng, duy trì và nâng cao chất lượng đội ngũ về các mặt thu nhập, kinh nghiệm, đạo đức và tư cách
Quá trình giảng dạy-học tập, đơn vị phải thiết lập hệ thống chất lượng cao
và hiệu quả trong các hoạt động giảng dạy-học tập Điều này được thực hiện bởi yêu cầu về kế hoạch giảng dạy, chuẩn bị bài giảng, tài liệu cần thiết cho mỗi môn học, đổi mới phương pháp giảng dạy, đánh giá SV và các hoạt động giảng dạy -học tập được thực hiện bởi Khoa
Sinh viên và sinh viên tốt nghiệp, đơn vị phải có hệ thống hoạt động hiệu quả trong việc tuyển chọn SV và giám sát kết quả đạt được của sinh viên Hơn thế nữa, việc đánh giá sinh viên tốt nghiệp phải được thực hiện đối với những SV tiếp tục học tập ở bậc cao hơn cũng như sinh viên đi làm
- Đo lường và đánh giá kết quả học tập, đơn vị phải đo lường và đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đối sánh với tiêu chuẩn về kết quả học tập cần đạt được Các yếu tố hỗ trợ quá trình giảng dạy-học tập: đơn vị phải:
+ Cung cấp các yếu tố hỗ trợ để thúc đẩy có hiệu quả quá trình học tập của
SV Đồng thời cấn phải phát triển hệ thống xuất bản tài liệu tham khảo bổ sung thêm kiến thức cho SV
Trang 34+ Cung cấp các điều kiện nhằm thực hiện các hoạt động g iảng dạy bằng nhiều hình thức khác nhau;
+ Cung cấp giáo trình, tạp chí, tài liệu tham khảo và ấn phẩm giáo dục tiếng Thái Lan và bằng ngoại ngữ;
+ Cung cấp môi trường thuận lợi cho việc học tập, sáng tạo, phát triển trí tuệ của sinh viên
1.2.2 Thực trạng nâng cao chất lượng đào tạo tại một số trường đại học ở Việt Nam
a Nâng cao chất lượng đào tạo tại trường đại học Bình Dương
Bên cạnh hàng loạt các biện pháp mang tính hệ thống nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường đại học Bình Dương, trường đã xác định, cơ sở then chốt
để nâng cao chất lượng đào tạo xuất phát từ người dạy, chính là đội ngũ giảng viên của nhà trường Vì đây là lực lượng có vai trò trực tiếp trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho nhu cầu của xã hội, nhất là khi đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay Hiểu được tầm quan trọng đó, trong những năm qua trường đã không ngừng tìm kiếm mở rộng quan hệ quốc tế với mục đích giao lưu kiến thức và kinh nghiệm, trao đổi giảng viên và sinh viên gồm:
- Chương trình hợp tác giữa Trường Đại học Bình Dương và Đại học Benedictien (Hoa Kỳ), để mời giảng viên có kinh nghiệm của trường bạn sang tập huấn, chia sẻ phương pháp giảng dạy tích cực cho toàn thể giảng viên đang tham gia giảng dạy tại nhà trường
- Chương trình hợp tác với Trường đại học Khoa học và Công nghệ AGH
(Ba Lan)tổ chức nhiều chương trình trao đổi giảng viên và sinh viên với nhau; Hợp tác tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa và văn nghệ giữa Việt Nam và Ba Lan;
Tăng cường viết các bài báo đăng trên những tạp chí khoa học quốc tế…”
Có thể nói mở rộng quan hệ quốc tế đã là bước chuyển biến lớn cho Trường Đại học Bình Dương Qua các chương trình hợp tác, đội ngũ giảng viên của nhà trường không ngừng được học hỏi kiến thức và kinh nghiệm giảng dạy cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học, góp phần lớn trong công tác nâng cao chất lượng
Trang 35đào tạo tại trường
b Nâng cao chất lượng đào tạo tại trường đại học Cần Thơ
Trường ĐH Cần Thơ hiện có 16 khoa, 3 viện nghiên cứu, 19 trung tâm, 15 phòng - ban chức năng Trường đang đào tạo 98 ngành, chuyên ngành bậc đại học;
45 chuyên ngành thạc sĩ và 16 chuyên ngành tiến sĩ Trường có tổng số gần 46.630 sinh viên, học viên, trong đó có hơn 31.930 sinh viên chính quy
Để có quy mô và thu hút được đông đảo người học như hiện nay, trường Đại học Cần thơ cũng đã trải qua quá trình nổ lực nâng cao chất lượng đào tạo, tạo uy tín của mình trong lĩnh vực đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho nhà trường
Để làm được điều này, nhà trường đã cải tổ rất nhiều trong phương pháp giảng dạy, hoạt động đào tạo, chương trình, kiến thức cho phù hợp với nhu cầu của
xã hội nhằm nâng cao chất lượng đầu ra của sinh viên Để sinh viên của trường sau khi tốt nghiệp, có đầy đủ kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc, đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng
Trong những năm gần đây, trường đã không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường đưa ra yêu cầu khá cao và khắt khe trong quá trình tuyển dụng giảng viên, và có chế độ đãi ngộ nhân tài khá hấp dẫn nên thu hút rất đông giảng viên trẻ, trình độ cao, được đào tạo tại các trường đại học uy tín trong và ngoài nước, có tác phong làm việc chuyên nghiệp, khoa học, hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường cũng vô cùng sôi động Lực lượng này đã góp phần thay đổi hoàn toàn diện mạo của nhà Trường, tiếp thu những tinh hoa từ những nơi họ đã được đào tạo, thay đổi phương pháp giảng dạy và chương trình giảng dạy đã cũ của trường cho phù hợp với xu thế của thời đại hơn Uy tín của đội ngũ giảng viên một phần cũng tạo ra uy tín của Trường, thu hút được nhiều sinh viên hơn, đầu vào cao hơn có khả năng nắm bắt lĩnh hội kiến thức tốt hơn
Bên cạnh nâng cao chất lượng giảng viên và phương pháp giảng dạy, nhà trường còn chú tâm đến nhu cầu của người học và nhu cầu của nhà tuyển dụng Nhà tuyển dụng cần những gì ở các ứng viên thì nhà trường sẽ đào tạo cho họ những điều đó Nhờ thế, nhà trường phát hiện, bên cạnh kiến thức chuyên môn giỏi, nhà
Trang 36tuyển dụng còn cần ở người lao động những kỹ năng khác trong quá trình làm việc,
đó là kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, sử dụng tin học, ngoại ngữ Đáp ứng nhu cầu này, nhà trường đã hợp tác với nhiều trung tâm đào tạo kỹ năng mềm để mời giáo viên về đào tạo cho sinh viên tại trường những kỹ năng cần thiết Nhờ đó, sinh viên sau khi tốt nghiệp đi làm được các doanh nghiệp đánh giá khá cao
Ngoài ra, trường còn tích cực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường và các doanh nghiệp trong vùng, vừa là cơ sở hướng nghiệp, hỗ trợ sinh viên, vừa tạo mối liên kết, nắm bắt thông tin về thị trường lao động cũng như yêu cầu của doanh nghiệp nhằm điều chỉnh mục tiêu đào tạo cho phù hợp hơn
c Nâng cao chất lượng đào tạo tại trường đại học Quy Nhơn
Tiền thân của Trường Đại học Quy Nhơn là Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, được thành lập năm 1977 với cơ sở vật chất tiếp quản từ Trường Sư phạm Quy Nhơn của chính quyền cũ trước đó Ngày 30/10/2003, Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn được đổi tên thành Trường Đại học Quy Nhơn Qua 2 thế kỷ, Trường chẳng những không ngừng lớn mạnh tiếp cận trình độ quốc tế, mở rộng quy
mô mà còn đào tạo nhiều thế hệ sinh viên tỏa về mọi miền đất nước, cả với các tỉnh Nam Lào
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ngành giáo dục – đào tạo càng có tác động tích cực đến quá trình phát triển và thích ứng của nước nhà trong cuộc “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” Đứng trước thực trạng trên, Trường Đại học Quy Nhơn đã và đang đẩy mạnh công cuộc hợp tác cùng phát triển Nhờ vậy đơn vị đã được Hiệu trưởng các trường trên thế giới đánh giá là một trường công lập rất mạnh trong các ngành tự nhiên Đặc biệt vừa qua, đơn vị đã ký bản kết giao cùng Trường Đại Học Ryukoku (ở Nhật Bản) Thông qua đó các em sinh viên của Trường sẽ được tạo điều kiện được trao đổi văn hóa, học thuật với nước bạn (đặc biệt có nguyện vọng được hợp tác trao đổi sinh viên trong các ngành tự nhiên, nông học, hóa học, kỹ thuật…) Cùng với nhu cầu thực tế là các doanh nghiệp Nhật Bản đang có dự án đầu tư tại tỉnh Bình Định thì việc Đại học Quy Nhơn thực hiện đào tạo tiếng Nhật, cung cấp nguồn nhân lực đạt chuẩn yêu cầu của các doanh
Trang 37nghiệp Nhật Bản sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư FDI từ phía Nhật Bản
Nhu cầu nguồn lao động chất lượng ngày càng đi lên theo chiều tiên tiến với sự phát triển của nước nhà và thế giới, đòi hỏi Trường Đại học Quy Nhơn phải không ngừng nỗ lực, tạo nên cú bức phá ngoạn mục Bởi thế, đơn vị cũng đã đề ra mục tiêu tiên quyết là sẽ tiếp tục nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ là hoàn thiện Đề án quy hoạch phát triển tổng thể Trường Đại học Quy Nhơn giai đoạn 2016-2020, triển khai các lĩnh vực hoạt động mới (như công nghệ phần mềm, dịch vụ du lịch, kinh tế biển, khoa học sức khỏe, nông nghiệp công nghệ cao…) Song song với công tác đáp ứng các nội dung tự chủ về cơ cấu tổ chức, tự chủ về chuyên môn, tự chủ về tài chính; Trường cũng sẽ thực hiện công tác đào tạo tín chỉ – Đây là một phương thức
đào tạo tiên tiến trong nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới, lấy người học
làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học
Trong hành trình đó, trường luôn chú trọng công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên, chuyên viên, quản lý Cũng như có những chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài Đơn vị cũng sẽ luôn cố gắng đề xuất chiến lược phù hợp tình hình– đồng thời tạo sự đồng thuận nhịp nhàng với chính quyền địa phương Làm tốt công tác đào tào, phát triển hài hòa giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và gắn kết chặt chẽ hoạt động của nhà trường với nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội Vì mục tiêu của chúng tôi là đến năm 2030, Đại học Quy Nhơn sẽ là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực định hướng ứng dụng có uy tín cao, đạt tiêu chuẩn chất lượng của khu vực Đông Nam Á;
có vị thế quan trọng về hợp tác đào tạo, nghiên cứu, trao đổi học thuật, giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế”
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Trường Đại học Tài chính – Kế toán
Trên cơ sở kinh nghiệm đi trước của các trường đại học đã có một số thành công nhất định trong công tác nâng cao chất lượng đào tạo Chúng ta nhận thấy rằng, để có một bước nhảy vọt về chất lượng, các trường đại học đã phải nỗ lực hết sức, đâu tư mọi nguồn lực có thể, tìm mọi cơ hội để phát triển
Trang 38Qua đó ta cũng thấy được rằng bên cạnh những điều kiện về cơ sở vật chất
kỹ thuật thì yếu tố then chốt tạo nên chất lượng của trường đại học chính là chất lượng của đội ngũ giảng viên cùng với phương pháp giảng dạy và chương trình đào tạo lấy người học làm trung tâm Nghĩa là ngoài việc truyền đạt kiến thức chuẩn, người dạy cần phải truyền cảm hứng về sự ham hiểu biết, ham khám phá, sáng tạo của sinh viên Chương trình đào tạo ngoài những yêu cầu chung theo quy định còn gắn liền với nhu cầu thự tế của người học và của nhà tuyển dụng Mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo cuối cùng hướng đến chính là kết quả đầu ra của sinh viên Sau khi tốt nghiệp có đầy đủ kiến thức và kỹ năng mà nhà tuyển dụng yêu cầu không
Để đạt được những mục tiêu đó, việc mở rộng giao lưu quan hệ với các trường uy tin trong nước cũng như tìm kiếm các đối tác là các trường đại học ở các nước tiên tiến để liên kết đào tạo giảng viên cũng như sinh viên là một giải pháp mang tính chiến lược của nhiều trường
Bên cạnh đó xây dựng mối liên kết giữa nhà trường với các doanh nghiệp cũng là một bước không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học hiện nay
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Việt Nam, giáo dục nói chung và giáo dục đại học cũng là vấn đề được nhiều nhà giáo dục, nhà khoa học cũng như nhà lãnh đạo quan tâm đến Đã có nhiều bài viết, nghiên cứu liên quan đến chất lượng giáo dục đại học và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam của nhiều tác giả Nhìn chung quan điểm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam cũng dựa trên các quan điểm giáo dục đại học của các học giả thế giới đồng thời dựa trên tình hình thực tiễn của giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn chuyển mình này
Tác giả Vương Nhất Bình quan niệm chất lượng giáo dục đại học thể hiện ở việc đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn đặt ra đối với sinh viên tốt nghiệp đại học Đó
là việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn: đạo đức, kiến thức, năng lực, kỹ năng, khả năng, sức khoẻ, chỉ số IQ, EQ
Gần đây nhiều nhà giáo dục Việt Nam như Vương Đức Chính, Trần Đức
Trang 39Khánh cho rằng chất lượng giáo dục đại học là sự phù hợp với mục tiêu Theo đó mục tiêu của giáo dục đại học là tạo ra đầu vào nguồn lao động xã hội Do đó mục tiêu của giáo dục đại học là đáp ứng với nhu cầu của xã hội, đào tạo được nguồn lao động đúng với yêu cầu của xã hội, có đủ kiến thức, trình độ, đạo đức, phẩm chất, tinh thần với công việc…
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng giáo dục bậc đại học Điểm chung nhất có thể nhận thấy trong các quan niệm về chất lượng giáo dục đó chính là chất lượng giáo dục được phản ánh qua kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục đại học Tuy nhiên, mục tiêu giáo dục đại học được thể chế hoá hiện nay rất rộng và chưa được lượng hoá, vì vậy, chất lượng giáo dục đại học cần được quan niệm cụ thể hơn, đặt trong mối tương quan giữa chất lượng giáo dục đại học và yêu cầu của thị trường lao động, yêu cầu về năng suất lao động
Tác giả Nguyễn Quang Giao quan niệm: “Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng giáo dục ở mức chuẩn cho phép nhất định và tìm ra những giải pháp để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục; đảm bảo để nhà trường hoàn thành sứ mạng” Tác giả cho rằng công tác bảo đảm chất lượng trường đại học cần thực hiện bốn chức năng: xác lập chuẩn; xây dựng quy trình, xây dựng tiêu chí và vận hành,
đo lường, đánh giá, thu thập và xử lí số liệu Cách tiếp cận này là phù hợp với yêu cầu đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, tuy nhiên, để thực hiện chức năng này cần phải chỉ rõ chủ thể thực hiện Nếu công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học do mỗi trường thực hiện theo nhận thức riêng thì có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất trong tiêu chuẩn và kết quả đánh giá
Những nghiên cứu về chất lượng giáo dục, kiểm định chất lượng giáo dục ở nước ta đã được trình bày trong một số nghiên cứu trong những năm cuối thế kỷ
XX và ngày càng thu hút được sự quan tâm của Nhà nước, các cơ sở giáo dục và cộng đồng xã hội Vấn đề quản lý chất lượng giáo dục đại học và kiểm định chất
Trang 40lượng giáo dục đại học càng trở nên quan trọng trong định hướng xây dựng nguồn nhân lực có đủ phẩm chất, năng lực, thái độ và kỹ năng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Các nghiên cứu về kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở nước ta được tiếp cận theo các hướng khác nhau Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga, Lê Đức Ngọc trong cuốn Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội đã đề cập đến vai trò của kiểm định chất lượng đối với giáo dục đại học ở Việt Nam Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất bộ tiêu chí đánh giá chất lượng
và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo cho các trường đại học Việt Nam, hướng dẫn kiểm định chất lượng dùng cho các trường đại học Việt Nam đồng thời trình bày về kinh nghiệm kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học ở một số nước trên thế giới
Nghiên cứu này có thể xem là nghiên cứu gợi mở về kiểm định chất lượng
Vì vậy, bên cạnh những kết quả đạt được thì còn có một số vấn đề cần tiếp tục được làm rõ
Cách tiếp cận của bộ tiêu chí hướng đến quá trình hơn là yếu tố kết quả, yếu
tố đối tượng người học, hệ thống chỉ số đánh giá còn tương đối ít và chiếm trọng số chưa lớn
Tác giả Trần Khánh Đức trong bài nghiên cứu “Công tác kiểm định các điều kiện bảo đảm chất lượng các trường chuyên nghiệp và khả năng ứng dụng ở Việt Nam” đã phân tích những điều kiện để đảm bảo chất lượng giáo dục đó là cơ sở vật chất, nội dung, chương trình, đội ngũ giáo viên, người học Tác giả đặt ra vấn đề cần phải ứng dụng các tiêu chí kiểm định chất lượng giáo dục để chuẩn hoá các cơ sở giáo dục Tuy nhiên, vấn đề xây dựng tiêu chí cụ thể như thế nào, ai sẽ là người xây dựng hệ thống tiêu chí, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục
và các cơ sở giáo dục như thế nào đối với vấn đề kiểm định chất lượng giáo dục lại chưa được giải quyết cụ thể
Cùng với hướng tiếp cận đó, GS Trần Khánh Đức trong nghiên cứu “Quản
lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM” đã tập trung nghiên