1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) dạy học văn bản kịch trong chương trình ngữ văn 11 THPT theo quan điểm tích cực

32 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Học Văn Bản Kịch Trong Chương Trình Ngữ Văn 11 Theo Quan Điểm Tích Cực
Tác giả Bùi Thu Thủy
Người hướng dẫn TTCM Ngữ Văn
Trường học Trường THPT số 1 Văn Bàn
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2014
Thành phố Văn Bàn
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 358,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông nhằm cung cấp cho học sinhnhững kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại bao gồm: Kiến thức về những tác phẩmtiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn h

Trang 1

THEO QUAN ĐIỂM TÍCH CỰC

Họ và tên tác giả: Bùi Thu Thủy Chức vụ: TTCM

Tổ chuyên môn: Ngữ văn Đơn vị công tác: Trường THPT số 1 Văn Bàn

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

So với các bộ môn học khác được học trong nhà trường, văn học là bộ mônvừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Văn chương vốn có khả năngnhanh nhạy nhất trong việc đi vào tâm hồn bạn đọc, lắng đọng, kết tinh trong tâmhồn họ, không chỉ giúp họ hiểu cuộc đời, hiểu con người mà còn mang đến cho họnhững bài học quí báu, những triết lí nhân sinh thế sự để đời

Môn Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông nhằm cung cấp cho học sinhnhững kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại bao gồm: Kiến thức về những tác phẩmtiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn học Việt Nam và một số tác phẩm, đoạntrích văn học nước ngoài, hình thành những tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ,năng lực tự học và năng lực thực hành, ứng dụng Quan trọng nhất, văn học bỗidưỡng tình yêu tiếng việt, văn hoá, yêu thương quê hương đất nước, tinh thần dânchủ nhân văn…Nhưng để đạt được những mục tiêu dạy học đó, đứng trước mộttác phẩm văn chương nói chung, giáo viên thật khó định ra một cách dạychung bởi mỗi bài, mỗi tác phẩm có những nét đặc thù riêng của loại thể Chính

vì vậy, nó càng đòi hỏi người thầy phải xác định được loại thể của từng tácphẩm, từ đó xác định cho mình một phương pháp, biện pháp dạy học phù hợp

Kịch là một trong những loại hình nghệ thuật biểu diễn được đưa vàogiảng dạy, học tập ở nhà trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, songvăn bản kịch chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn so với các thể loại văn bản vănhọc khác Tâm lý phổ biến của đ ời sống văn học nhà trường là ít quan tâmđến kịch bản văn học, dạy học chay, dạy học lý thuyết suông hoặc tiếp cận vớikịch như với văn bản khác Kinh nghiệm thưởng thức kịch thường là hạn chế,tài liệu viết về kịch không nhiều khi thiết bị hỗ trợ cho tiết dạy còn thiếu thốnnên các giờ học kịch bản văn học chưa đạt tối ưu yêu cầu cần đạt Có khi họcxong trích đoạn kịch, học sinh không phân biệt được sự khác nhau giữa kịch vớimột văn bản truyện Thực tế này sẽ làm mất đi yêu cầu khoa học thực tiễn trongdạy học, sẽ giảm đi niềm yêu thích, hứng thú của thầy trò, không đạt mục tiêudạy học nói chung Như chúng ta đã biết, kịch được giảng dạy trong nhàtrường không phải với tính chất là một loại hình nghệ thuật mà là trênphương diện văn học, nhưng kịch không đơn thuần giống như tự sự bởi nó là

m ộ t b ộ môn nghệ thuật, nó có mối quan hệ với sân khấu như hình vớibóng Việc thưởng thức một tác phẩm thuộc thể loại kịch không giống vớimọi tác phẩm văn học khác Do vậy, việc dạy học kịch bản văn học đã gặpkhông ít khó khăn so với các thể loại văn học khác Thực tế là việc dạy họckịch vẫn xem nhẹ đặc trưng nghệ thuật kịch mà nặng về khai thác phần

“xác” của kịch - phần văn bản, mới chỉ chú trọng khai thác nội dung mà

Trang 4

chưa chú ý sự hoà kết giữa yếu tố văn học và sân khấu trong kịch Nhữngthực trạng nêu trên đã khiến việc dạy học kịch chưa mang lại hiệu quả nhưmong muốn

Trong thời đại đổi mới dạy học, với sự trăn trở, tìm tòi các phươngpháp dạy học mới, rất nhiều giáo viên đã mạnh dạn đề xuất những cách làmhay, những sáng kiến tốt để quá trình dạy học đạt mục tiêu cao nhất Vàbản thân tôi nhận thấy cần xem xét việc dạy học kịch bản văn học một cáchkhoa học và tích cực, vừa đảm bảo yêu cầu về đặc trưng thể loại vừa khiếncho bài học tạo được hứng thú với học trò, bởi đa số các đoạn trích kịchđược dạy học trong chương trình THPT đều rất giàu triết lí nhân sinh Vì

vậy, tôi chọn đề tài SKKN “Dạy học văn bản kịch trong Chương trình Ngữ

văn 11- THPT theo quan điểm tích cực”, mong muốn chia sẻ một vài kinh

nghiệm với bạn bè đồng nghiệp, cùng vượt qua thực tế dạy học kịch bảnvăn học hiện nay Và quan trọng nhất, qua đề tài này và qua việc đọc - hiểu đoạntrích kịch đúng với đặc trưng thể loại, phù hợp yêu cầu đổi mới dạy học bộ môn,người viết mong muốn các em học sinh có cái nhìn chân thật, cách sống đúng đắn,kiếm tìm những giá trị vững bền để hoàn thiện nhân cách, vươn tới chân - thiện -mĩ

II Tác dụng của đề tài:

Góp phần nâng cao chất lượng học tập, tạo hứng thú học tập bộ môn Ngữ văncho học sinh nói chung và học sinh trường THPT số 1 Văn Bàn nói riêng Giúp họcsinh đạt yêu cầu Chuẩn kiến thức kĩ năng bài học một cách nhẹ nhàng thông quanhững hình thức tích cực song vẫn đảm bảo quan điểm dạy học theo đặc trưng thểloại kịch

Góp phần giải quyết tình trạng lười học, chán học và tâm lí thờ ơ, xa lạ vớimôn học Ngữ văn của học sinh trong nhà trường hiện nay Từ đó tạo điều kiện chogiáo viên hứng khởi hơn trong những giờ dạy văn bản kịch

Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu về phương pháp dạy học văn, kiến thức về tácgiả, tác phẩm, bổ sung vào kiến thức bồi dưỡng chuyên môn giảng dạy, góp phầnnâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo dục học sinh

Chia sẻ, thể nghiệm những cách làm có tính chất phát hiện trong thực tiễn dạyhọc với bạn bè đồng nghiệp

Trang 5

Kịch là một trong 3 phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình).

Kịch vừa thuộc sân khấu, vừa thuộc văn học Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa đểđọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch Song nói đến kịch là phảiđến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ,lời nói ( Riêng kịch câm thì không diễn tả bằng lời)

Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặcnhững xung đột muôn thuở mang tính nhân loại (như giữa thiện và ác, cao cả vàthấp hèn, ước mơ và hiện thực ) Những xung đột ấy được thể hiện bằng một cốttruyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành động của các nhân vật và theo những quy tắcnhất định của nghệ thuật kịch Trong kịch thường chứa đựng nhiều kịch tính, tức lànhững sự căng thẳng do tình huống tạo ra đối với nhân vật

Phần lớn kịch được xây dựng trên hành động bên ngoài với những diễn biếncủa chúng và theo những nguyên tắc có sự đấu tranh chống lại của các nhân vật

Tuy nhiên, cũng có hành động bên trong, qua đó nhân vật chủ yếu là suy ngẫm vàchịu đựng một tình huống xung đột bên trong hết sức căng thẳng

Trong kịch, những lời phát biều của các nhân vật (Trong đối thoại hoặc độcthoại) nói lên hành động, ý chí và sự tự khám phá tích cực của họ có một ý nghĩaquyết định Còn những lời trần thuật (Câu chuyện kể của nhân vật về những điều đãqua, sự thông báo của người dẫn truyện, những lời chỉ dẫn của tác giả trong kịchbản) chỉ đóng vai thứ yếu và nhiều khi không cần đến

* Về mặt kết cấu:

Vở kịch thường chia thành nhiều hồi, cảnh, nhằm tạo ra sự trùng khớp giữathời gian, địa điểm và hành động kịch đồng thời làm cho cái được trình diễn mangmàu sắc xác thực của đời sống Qua các thế kỷ khác nhau, mối quan hệ giữa ba yếutố: Thời gian, địa điểm, hành động trong kết cấu của kịch không ngừng thay đổi tuỳtheo quan niệm của người sáng tạo và quy mô, tầm vóc của những sự kiện biến cốđược phản ánh

Trang 6

Trên cấp độ loại hình, kịch bao gồm nhiều thể loại: Bi kịch, hài kịch, chínhkịch, cùng nhiều tiểu loại và biến thể khác nhau.

* Ở cấp độ thể loại:

Là một khái niệm kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học-sân khấu có

vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này, kịch cũng gọi là chínhkịch (hoặc kịch dram) Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sống riêng củacon người bình thường nhưng mục đích chính không phải là cười nhạo, chế diễucác thói hư tật xấu mà là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tínhđối với xã hội Và cũng giống với bi kịch, kịch chú trọng tái hiện những mâu thuẫngay gắt, song những xung đột của nó cũng không căng thẳng đến tột độ, khôngmang tính chất vĩnh hằng và về nguyên tắc có thể giải quyết được ổn thoả Còn cáctính cách của kịch thì không có gì đặc biệt, phi thường

Kịch hình thành như một thể loại vào nửa sau thế kỷ XVIII qua sáng táccủa các nhà khai sáng ở Pháp và Đức như Đi-đơ-rô (1713-1784), Bô-méc–se(1732-1799), G.E Let xing (1729-1781) Nó hướng về những lợi ích tinh thần đạođức, về lý tưởng của các lực lượng dân chủ tiến bộ đương thời Trong quá trìnhphát triển của kịch, tính kịch bên trong của nó ngày càng cô đọng, dồn nén hơn Nócũng tiếp nhận những thủ pháp nghệ thuật, những phương tiện biểu đạt của các thểloại văn học sân khấu khác như bi hài kịch, kịch hề để tăng thêm sức hấp dẫn vàtác động nghệ thuật của nó đối với công chúng

Ở Việt Nam kịch ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XX với những sáng

tác như “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long, “Kim Tiền” của Vi Huyền Đắc Từ

sau Cách mạng tháng Tám, kịch ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sốngvăn học - sân khấu và xã hội ở nước ta

1.2 Đặc trưng của kịch

1.2.1 Xung đột kịch

Do tính chất loại biệt của sự phản ánh, kịch lấy xung đột làm nội dung phảnánh Nghệ thuật kịch bao giờ cũng phản ánh cuộc sống trong một quá trình nhấtđịnh, ở trạng thái khách quan, dưới dạng trực tiếp, cụ thể sinh động như đang diễn

ra trước mắt người xem Nó hoàn toàn khác hẳn với hội hoạ, điêu khắc, chỉ phảnánh cuộc sống tập trung trong một khoảnh khắc nhất định; nó cũng không giốngvới âm nhạc và thơ trữ tình lấy việc phản ánh tâm trạng, tình cảm của con ngườitrước một sự kiện nào đó làm nội dung chủ yếu Chính tính chất đặc biệt ấy buộcnghệ thuật kịch phải chọn những chất liệu có tính chất động làm cơ sở cho nội dungkịch, nghĩa là nó phải phản ánh cuộc sống trong sự vận động của nó Mà đã nói tớivận động là không thể không nói tới xung đột

Trang 7

Lấy xung đột trong đời sống làm cơ sở cho sự sáng tạo nghệ thuật, nhà viếtkịch đến với hiện thực bằng con đường ngắn nhất Pha-đê-ép đã từng khẳng định:

“Xung đột là cơ sở của kịch” Thực tế trong sự vận động của hình tượng thơ cũng

có bộc lộ mâu thuẫn giữa những trạng thái tình cảm khác biệt của cảm xúc: Vui vàbuồn, hạnh phúc và đau khổ Trong các tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện vừa,truyện ngắn, yếu tố mâu thuẫn tồn tại ngay trong sự vận động của cốt truyện vàtrong sự phát triển của các tính cách nhân vật Với kịch, yếu tố xung đột mang mộtsắc thái thẩm mỹ khác Nhà viết kịch hiện đại Xô Viết Ác-bu-dốp đã cho rằng:

“Trong kịch không có những yếu tố tuỳ hứng mà người nghệ sĩ có quyền dùng khiđiều khiển số phận những con người trong các tiểu thuyết và truyện ở đây có mộtkhuôn khổ rất chặt chẽ, không có thì giờ để mạn đàm, giải thích, luận bàn” Sựkhác biệt ấy chính là tính chất tập trung cao độ của sự xung đột kịch, sự chi phốitrực tiếp đến cấu trúc tác phẩm, đến nhịp độ vận động dồn dập khác thường của cốttruyện

Xung đột là động lực thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch nhằm xáclập lên những quan hệ mới giữa các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếu củatác phẩm kịch Thiếu xung đột, tác phẩm kịch sẽ mất đi đặc trưng cơ bản đầu tiêncủa thể loại, sẽ là những “vở kịch tồi” Vì vậy người viết kịch phải tạo được nhữngxung đột mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, tính khái quát lớn lao nhưng phải hết sứcchân thực, nghĩa là xung đột mang tính điển hình hoá

Thiếu ý nghĩa điển hình, tác phẩm kịch chỉ là sự mô phỏng những mâuthuẫn vụn vặt, tầm thường của đời sống Thiếu ý nghĩa chân thực, tác phẩm kịchchỉ là sự giả tạo, là những dòng lý thuyết suông Công chúng tìm đến với kịch làtìm đến một sự đồng cảm hoặc phản bác đối với tác giả trước những vấn đề quantrọng của đời sống Nghệ thuật kịch luôn là diễn đàn tư tưởng của cuộc sống, làmối giao cảm sâu xa giữa tác giả và khán giả

Nói tới xung đột kịch ta cần chú ý đến vai trò tư tưởng của người viết Phảnánh những xung đột trong đời sống, người viết muốn gửi gắm một ý nghĩa tư tưởngnào đó tới khán giả, như Pô-gô-đin – nhà viết kịch Xô Viết nổi tiếng, khi ông nói

tới mối quan hệ giữa xung đột và tư tưởng: “Xung đột là điều kiện quan trọng đầu

tiên của tác phẩm, nó mang lại cho tác phẩm kịch sự sống và sự vận động Nhưng xung đột bao giờ cũng phụ thuộc vào một cái cao nhất và cũng là linh hồn của nó,

đó là tư tưởng chủ đề của của tác phẩm” Mối quan hệ giữa hai yếu tố này là mối

quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, nhưng tư tưởng chủ đề là cái gốc, có tínhchất quyết định

1.2.2 Hành động kịch

Theo Arixtốt “Hành động là đặc trưng của kịch” Nếu xung đột được coi là

điều kiện cần thiết làm nảy sinh tác phẩm, thì hành động lại là yếu tố duy trì sự vận

Trang 8

hành của tác phẩm Trong mối giao lưu đó, xung đột là nơi quy tụ, chọn lọc và tổchức hành động kịch Tính kịch của tác phẩm nằm trong xung đột nhưng xung độtlại là yếu tố để giải toả nằm trong xung đột ấy Hành động kịch thường phát triểntheo hướng thuận chiều với xung đột kịch Xung đột càng căng thẳng thì thiênhướng hành động càng trở nên quyết liệt, vì thế sức hấp dẫn của tác phẩm tăng lên.

Hành động kịch cần được hiểu trong tình huống thống nhất vẹn toàn của nó

Hành động kịch không phải là những hành động đơn lẻ, ngắt quãng mà là mộtchuỗi hành động liên tục xoay quanh trục xung đột Hành động kịch ở đây chính làcốt truyện kịch được tổ chức một cách thống nhất, chặt chẽ trong khuôn khổ củamột chính thể nghệ thuật Các cốt truyện bằng hành động ấy xoáy vào trung tâmxung đột bằng sự liên kết theo một quy luật riêng: quy luật nhân quả Mọi hànhđộng trong tác phẩm kịch dù trực tiếp hay gián tiếp đều dựa trên luật nhân quả

Hình thức nhân quả trực tiếp là hình thức mà hành động thứ nhất là nguyênnhân sinh ra hành động thứ 2 và có thể cho đến hết

Hình thức nhân quả gián tiếp là hình thức mà hành động thứ nhất có khi lànguyên nhân của hành động thứ tư hoặc thứ 5

Trong thực tế: Hình thức nhân quả trực tiếp thường được dùng trong các

kịch bản ca kịch dân tộc như tuồng, chèo, viết theo lối tự sự, có tuyến kịch rõ ràng

Còn hình thức nhân quả gián tiếp lại được dùng trong các kịch bản kịch nói, viếtthành nhiều tuyến kịch, chồng chéo lên nhau, cùng song song phát triển

Mối quan hệ giữa hành động và nhân vật kịch là trục chính để xác định tínhcách nhân vật Dù ở dạng nào, nhân vật kịch cũng khẳng định bản chất của mìnhbằng hành động: Một Ac-pa-gông keo kiệt (Môlie); Ô-ten-lô cuồng nhiệt cả tinnhưng không kém phần hung bạo, một Dex-mô-na trong trắng, ngây thơ, Iagô giantrá và hiểm độc, Hăm-lét đau đớn (Sếchx-pi-a) Bấy nhiêu tính cách là bấy nhiêu sựtrăn trở, giằng xé dữ dội từ bên trong và những hành động quyết liệt ở bên ngoài

1.2.3 Ngôn ngữ kịch

Khi nói về các yếu tố của văn học Gooc-ki đã coi “ngôn ngữ là yếu tố đầu

tiên của văn học” Điều đó có nghĩa là không có ngôn ngữ sẽ không có văn học.

Đối với nghệ thuật kịch, vai trò quan trọng đó của ngôn ngữ được nhiều tác giảkịch nổi tiếng trên thế giới công nhận A.N.Ốt-tơ-rốp-xki nhà sáng lập ra nền kịchNga ở thế kỷ XIX đã coi ngôn ngữ là điều kiện đầu tiên của tính nghệ thuật Gooc-

ki trong bài “Bàn về kịch” đã khẳng định “Ngôn ngữ đối thoại có ý nghĩa to lớn và

thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tác kịch” So với các thể loại khác,

hệ thống ngôn ngữ kịch mang tính đặc thù rõ rệt

* Ngôn ngữ nhân vật: Đây là hình thái tồn tại duy nhất của ngôn ngữ kịch

So với hệ thống ngôn ngữ tự sự đây là điểm khác biệt rất rõ Ngôn ngữ tác giả, biểu

Trang 9

hiện trong các lời chỉ dẫn về hoàn cảnh, về nhân vật chỉ có giá trị hướng dẫnngười đọc, diễn viên, đạo diễn, hoạ sĩ trong khi đọc kịch bản, còn khi dựng trên sânkhấu chúng sẽ biến mất và nhường chỗ cho tiếng nói của hoạ sĩ trong các cảnh trí,cho ngôn ngữ hành động của diễn viên Ngôn ngữ nhân vật bao gồm hai hình thứcchủ yếu là đối thoại và độc thoại.

* Ngôn ngữ đối thoại: Là sự đối đáp qua lại giữa các nhân vật ngôn ngữ đốithoại được coi là dấu hiệu đầu tiên của ngôn ngữ kịch Ngôn ngữ độc thoại là tiếngnói của nhân vật chỉ nói với chính mình Để nhân vật tự nói lên những uẩn khúcbên trong, các tác giả kịch nhằm khai thác chiều sâu tâm lý ở nhân vật Khi trìnhdiễn trên sân khấu, người ta có thể thay đổi màu sắc, ánh sáng, sử dụng tiếng vọng,hoặc tái hiện những hình bóng đã lùi vào quá khứ Sân khấu hiện đại còn sử dụng

thủ pháp đồng hiện: Nhân vật tự phân thân để đối thoại cùng nhau như “Hồn

Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ Ngôn ngữ nhân vật kịch dù đối thoại

hay độc thoại trước hết đó là ngôn ngữ khắc hoạ tính cách Từ những “Lời ăn tiếng

nói” riêng của mình, nhân vật kịch “phải biểu hiện ở mức chính xác tối đa một cái

gì đó điển hình” (Gorki) Sự chính xác tối đa theo yêu cầu Gorki chính là ở chỗ:

Mỗi nhân vật với một nguồn gốc xuất thân, bản chất xã hội là một đặc điểm cá tínhriêng phải có tiếng nói riêng thật phù hợp Đó là một đòi hỏi tất yếu, bởi vì bản chấtcủa nhân vật kịch chỉ có thể được bộc lộ qua chính lời lẽ của chính họ mà thôi

Hệ thống ngôn ngữ có nhiệm vụ mô tả chân dung kịch bằng một loạt cácthao tác hành động Tính hành động của nhân vật kịch không chỉ bộc lộ trong hìnhtượng sân khấu mà nó đã được hình thành ngay từ trong cấu tạo kịch bản văn học

Ngôn ngữ trong tác phẩm kịch phải đảm bảo cho sự phát triển đầy kịch tính của cốttruyện và những phản ứng hành động theo kiểu dây chuyền của các nhân vật kịch

Tính hành động là đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ kịch, nên diễn viên kịch phải

xử lý thích hợp với hành động của nhân vật trên sân khấu

Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống

Ngôn ngữ kịch súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu ngữ Ngônngữ kịch vừa gần với tiếng nói hàng ngày lại vừa có tính chất văn học Trong kịchthơ và ca kịch dân tộc ngôn ngữ giàu tính ước lệ, cách điệu phù hợp với âm nhạc

Tóm lại, cái khó của một vở kịch là đòi hỏi mỗi nhân vật phải tự biểu hiệntính cách bằng lời nói và hành động Tài năng của một nhà viết kịch bộc lộ ngaytrong khả năng vận dụng tối đa sức mạnh đặc biệt của ngôn ngữ hội thoại để cấutrúc tác phẩm và khắc hoạ hình tượng Ở Việt Nam, các tác giả: Nguyễn HuyTưởng, Lộng Chương, Đào Hồng Cẩm, Lưu Quang Vũ đã thể hiện khá rõ cá tínhsáng tạo của mình trong sáng tạo ngôn ngữ

Trang 10

1.3 Một số vở kịch được đưa vào chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn (theo chương trình chuẩn)

- Chương trình và sách giáo khoa ngữ văn lớp 10 ( Không có)

- Chương trình và sách giáo khoa ngữ văn lớp 11:

+ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng)

+ Tình yêu và thù hận (trích “Rômeo và Juliet” của Sếch- xpia)

- Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12: Hồn Trương Ba, da hàngthịt” (trích - Lưu Quang Vũ)

2 Các văn bản kịch trong chương trình ngữ văn 11 2.1 Vở kịch “Vũ Như Tô” và đoạn trích trong SGK Ngữ văn 11.

Trong các nhà văn Việt Nam, Nguyễn Huy Tưởng là tác giả có thiên hướng

rõ rệt về đề tài lịch sử Các tác phẩm của ông về đề tài này tái hiện những cột mốclịch sử quan trọng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Vở bi

kịch Vũ Như Tô khai thác bối cảnh Thăng Long trong những năm quằn quại dưới

sự bạo tàn của Lê Tương Dực thông qua hình ảnh Cửu Trùng Đài “huy hoàng giữacõi trần lao lực” và người nghệ sĩ “tranh tinh xảo với hóa công”: Vũ Như Tô

Thông qua vở kịch này, Nguyễn Huy Tưởng muốn đề cập đến người nghệ sĩ và bikịch của họ, bi kịch cái đẹp bị lợi dụng Bi kịch ấy được tập trung cao nhất trong

hồi V – hồi kết của vở kịch: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài Xuyên xuốt vở kịch, Nguyễn

Huy Tưởng đã xây dựng Vũ Như Tô và Cửu Trùng Đài như một hiện thân của cáiđẹp Người nghệ sĩ mong muốn tạo tác nên một tác phẩm nghệ thuật vĩnh cửunhằm “ tô điểm cho đất nước, đem hết tài ra xây cho giống nòi một tòa đài hoa lệ,thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công” Đó là cái đẹpthuần khiết của nghệ thuật, nhằm phụng sự nhân dân, phụng sự đất nước, có giá trịtôn vinh người Việt Nhưng đáng tiếc, cái đẹp mà Vũ Như Tô mong muốn ấy đã bịlợi dụng và hoen ố bởi những dục vọng thấp hèn và toan tính chính trị của ngườiđời Trong các hồi trước, chúng ta thấy cái đẹp đã lần lượt phải chịu những oan

khuất như bị tha hóa (Lê Tương Dực chỉ coi Cửu Trùng Đài là chốn ăn chơi hưởng

lạc chứ không phải là công trình nghệ thuật để lại cho muôn đời sau như mong

muốn của Vũ Như Tô), hiểu lầm (Nhân dân coi Cửu Trùng Đài là cội nguồn gây

nên đau khổ của họ chứ không phải là chính sách hà khắc của triều đình phong kiến

đương thời) và lợi dụng (Trịnh Duy Sản dùng Cửu Trùng Đài như công cụ thổi

bùng lên những uất ức trong lòng dân chúng, tạo nên một thời thế hỗn loạn để

thuận tiện cho âm mưu giết vua đoạt quyền của mình) Đến hồi kết Vĩnh biệt Cửu

Trùng Đài, khi tất cả những bức xúc, những mâu thuẫn không thể điều hòa được ấy

được dồn nén và bung ra một cách mạnh mẽ nhất, tất yếu cái đẹp phải gánh chịu số

phận nghiệt ngã đó là sự bức tử, sự diệt vong

Trang 11

Chỉ là một đoạn trích, nhưng Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài có cấu trúc đủnhư một vở kịch: Có thắt nút (mâu thuẫn), xung đột, cao trào và mở nút Với

cả vở kịch, đoạn trích này là phần cao trào rồi giải quyết mâu thuẫn lớn nhấtcủa cả vở kịch: Xung đột giữa một bên là hôn quân Lê Tương Dực và đám bềtôi trung thành, một bên là quần chúng nhân dân đói khổ và phe phong kiếnđối lập tập trung ở sự kiện xây dựng Cửu Trùng Đài và mâu thuẫn thứ hai làmâu thuẫn xung đột giữa công dân và người nghệ sĩ trong tư tưởng nghệ thuậtthông qua nhân vật chính Vũ Như Tô Cuộc đối thoại giữa Đan Thiềm và VũNhư Tô ở lớp I của hồi kịch cho thấy Vũ Như Tô là một nghệ sĩ chỉ quan tâmđến nghệ thuật mà không biết rằng tác phẩm nghệ thuật của mình gây rabao lầm than, khổ cực cho dân chúng Mục đích nghệ thuật, niềm khao khátcủa người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng đã đẩy Vũ Như Tô đến vị thếđối nghịch với lợi ích trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân Vì quáquan tâm đến nghệ thuật mà quên đi mối quan hệ của nghệ thuật với đời sống,không thể hiểu được điều Đan Thiềm nói Vũ Như Tô thà chết với Cửu TrùngĐài chứ không chịu chạy trốn Đây cũng chính là phần thắt nút của đoạn kịch

Cao trào của hồi kịch tập trung ở ba lớp cuối cùng Đó là cuộc đối đầu giữa

Vũ Như Tô và những người nổi dậy Không khí, nhịp điệu của sự việc đượcdiễn tả theo mức độ ngày càng dồn dập thể hiện tính chất gay gắt của mâuthuẫn và đẩy dần xung đột kịch lên đến cao trào Đoạn đối thoại giữa Vũ Như

Tô và Ngô Hạch cùng đám quân sĩ thể hiện cao trào của mâu thuẫn Giữa họkhông có tiếng nói chung Xung đột được giải quyết bằng sự ra đi vĩnh viễncủa Cửu Trùng Đài và Vũ Như Tô Sự ra đi này nói lên rằng khi nghệ thuậtmâu thuẫn với cuộc sống, nghệ thuật khó có thể tồn tại

2.2 Vở kịch “Romeo và Juliet” và đoạn trích trong SGK Ngữ văn 11.

Romeo và Juliet được coi là vở bi kịch nổi tiếng đầu tiên của Shakepeare

được viết trong khoảng những năm 1594 - 1595 gồm 5 hồi bằng thơ xem lẫn vănxuôi Nội dung vở kịch xoay quanh câu chuyện tình yêu mãnh liệt của Romeo vàJuliet, tình yêu trên nền thù hận và vượt lên trên thù hận như là biểu tượng của tìnhyêu bất diệt Theo dõi diễn biến của vở kịch chúng ta có thể khẳng định xung đột

trọng tâm chi phối sự vận động và phát triển của các yếu tố khác trong Romeo và

Juliet chính là xung đột giữa tình yêu trong sáng, mãnh liệt giữa đôi trai tài gái sắc

này và mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ Đây không đơn giản là sự xung đột

bó hẹp của một gia đình, một dòng họ mà nó thực sự trở thành xung đột mang ýnghĩa xã hội sâu sắc Đặt vào bối cảnh thời Phục hưng khi cuộc đấu tranh giữa cái

cũ và cái mới đang diễn ra khá khốc liệt thì việc xây dựng nên một xung đột kịch nhưvậy có ý nghĩa rất lớn Xung đột giữa tình yêu và thù hận đã thực sự đặt ra vấn đềlớn hơn đó là sự xung đột giữa lí tưởng nhân văn cao cả với những trở lực đen tốicủa xã hội Và có lẽ chính ý nghĩa xã hội sâu sắc này đã làm nên sức sống cho vở

Trang 12

kịch, ghi danh Romeo và Juliet vào danh sách những vở kịch thành công nhất của

Shakespeare và của kho tàng kịch thế giới

Romeo và Juliet mặc dầu có kết thúc bi thảm nhưng vẫn được coi là vở bi

kịch có âm hưởng của niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa nhân đạo Lần đầu tiêntrong văn học nhân loại xuất hiện một tình yêu mộc mạc chân thành, cháy bỏng vàquyết liệt của tuổi trẻ Hình ảnh Romeo và Juliet đã sẵn sàng vượt qua rào cản thù hậncủa hai gia đình, sẵn sàng hi sinh để giữ trọn lời thề thủy chung là một biểu tượng đẹp,một thành tựu tuyệt vời của văn hóa Phục hưng

Romeo và Juliet đã khai thác đề tài tình yêu - đề tài muôn thủa của nhân loại,

xây dựng lên biểu tượng sức mạnh của tình yêu, lòng thủy chung Nhưng không chỉ

có vậy, tác phẩm còn ghi lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhiều thế hệ bởi tác phẩm

đã xây dựng rất thành công hình tượng người phụ nữ Những phụ nữ Hi Lạp và La

Mã thường là người phụ nữ chịu đựng, người phụ nữ đón nhận tình yêu như là mộtđịnh mệnh Người phụ nữ trong thời Phục hưng Ý tuy tràn đầy chất men của sự sốngnhưng cơ bản vẫn mang tính lý tưởng hóa sâu sắc, chưa thoát khỏi ánh hào quangcủa Gia tô giáo¼Và sau Juliet chúng ta có nàng Simen, Juni¼nhưng họ vẫn là người phụ

nữ dè dặt, không dám bước qua thành kiến xã hội, không dám tự chịu trách nhiệm

về những hành động của mình Ở Juliet chúng ta cảm nhận được người phụ nữ vớimột tình yêu trong sáng, thủy chung, mãnh liệt¼và quan trọng hơn đó là người phụ nữsinh ra để làm chủ cuộc đời mình, người phụ nữ dám đấu tranh, người phụ nữ của nhữnghành động và lựa chọn sáng suốt và không hề có một phút ân hận về quyết định củamình

Đoạn trích "Tình yêu và thù hận" chỉ là cảnh đầu tiên của hồi II trong vở

Romeo và Juliet với 16 lời thoại, 74 câu thơ Romeo quay lại, trèo tường vào vườn

nhà Capiulet vừa lúc Juliet xuất hiện trên cửa sổ rồi hai người bày tỏ tình cảm vớinhau Theo thống kê nhân vật Romeo có 8 lời thoại, nhân vật Juliet có 8 lời thoại

Dựa vào văn bản tác phẩm chúng ta có thể thấy Romeo và Juliet không đốithoại với nhau ngay từ đầu, mà chỉ thực sự nói chuyện với nhau từ lời thoại thứ 7

Sáu lời thoại đầu tiên thực chất là những lời độc thoại nội tâm được thốt lên thànhtiếng, nói khe khẽ, nói một mình, nói để cho mình nghe Từ lời thoại thứ 7 trở đingôn ngữ chuyển sang đối thoại

Căn cứ vào những chỉ dẫn (các chữ in nghiêng), chúng ta có thể hình dungđược không gian, thời gian diễn ra hành động của hai nhân vật Đó là một đêmkhuya, trăng sáng khi dạ hội vừa kết thúc, nàng Juliet đứng trên ban công nhà,chàng Romeo núp dưới lùm cây dưới ban công trong vườn nhà Capiulet

Về xung đột kịch, trong đoạn trích này không xuất hiện xung đột giữa tìnhyêu của đôi nam nữ với mối thù hận lâu đời của hai dòng họ Hằn thù của hai dòng

Trang 13

họ chỉ có tính chất phông nền để thể hiện tình yêu sâu sắc, mạnh mẽ của Romeo vàJuliet

II Thực trạng của vấn đề: Thực trạng dạy học kịch bản văn học trong nhà trường hiện nay

Việc đưa những tác phẩm kịch vào chương trình chủ yếu nhằm tạo điều kiệncho học sinh tiếp xúc với đủ các loại hình văn học (tự sự, trữ tình, kịch) và một sốthể kịch quen thuộc: Dân gian, cổ điển, hiện đại Bên cạnh đó cũng cần có sự phânbiệt: kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp (Văn học, hội hoạ, kiến trúc, điêukhắc, âm nhạc, nhảy múa ) trong khi đó văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ

Xem biểu diễn kịch trên sân khấu không giống với việc đọc một bài văn, một bàithơ Tuy nhiên kịch được dạy học trong nhà trường là kịch bản văn học có bảngphân vai, hướng dẫn nội dung về cách thức diễn vở kịch Thuận lợi của học sinhTHPT là ở cấp Trung học cơ sở các em đã được tiếp cận, được giới thiệu một sốđoạn trích kịch tiêu biểu: Ở lớp 7 là thể loại chèo của sân khấu dân gian Việt Nam:

Trích “Nỗi oan hại chồng”, chèo “Quan âm Thị Kính”; Ở lớp 8 trích: “Ông Giuốc

đanh mặc lễ phục”- trong vở hài kịch của Môlie “Trưởng giả học làm sang”; Ở lớp

9 là 2 đoạn trích của hai vở kịch nói hiện đại “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng,

“Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ.

Song khó khăn, thiếu sót trong dạy học kịch vẫn còn đó, nên việc dạy họckịch vẫn chưa thật sự hiệu quả Nguyên nhân là do thời lượng dành cho kịch bảnvăn học khiêm tốn, chúng ta chỉ có: Trích đoạn Tình yêu và thù hận (Rô-me-ô vàGiu-li-ét – tác giả Sếch-xpia); Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Trích “Vũ Như Tô” củaNguyễn Huy Tưởng), chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn 12 đưa thêm đoạn

trích kịch từ một vở kịch nổi tiếng của thập niên tám mươi, đó là “Hồn Trương Ba,

da hàng thịt” của Lưu quang Vũ Văn bản kịch không xa lạ nhưng khó tìm hiểu với

trò, khó khơi gợi yêu thích nếu chỉ tìm hiểu kịch trên trang sách Cơ sở thiết bị chodạy học chưa phong phú Tài liệu tham khảo về kịch không phổ biến, dễ kiếmnhư các thể loại văn học khác Kinh nghiệm thưởng thức kịch hạn chế, kĩ nănggiảng dạy chưa nhiều Bên cạnh đó, ý thức học tập và sự yêu thích kịch chưa trởthành niềm đam mê trong học sinh, các em còn quá ít hoặc chưa từng được trực tiếpxem biểu diễn kịch trên sân khấu

Trong thực tế giảng dạy, giáo viên và học sinh chưa yêu thích các giờdạy học kịch bản văn học Đây là tâm lý ảnh hưởng lớn tới bài giảng và sự tiếpnhận của chính giáo viên Một số giáo viên tuỳ hứng giảng dạy kịch mà quênmất các lời thoại nhân vật, dẫn tới dạy học thoát ly kiến thức của hành độngkịch Hầu như hoạt động liên môn để mở rộng kiến thức, đào sâu hiểu biết củahọc sinh với loại hình nghệ thuật tổng hợp này không có Ở một vài giờ dạy,việc bám sát đặc trưng thể loại chưa rõ, giáo viên còn tham kiến thức, sa đà vào

Trang 14

diễn giải mà quên mất đặc trưng diễn của kịch Hoặc một thực trạng nữa là giáoviên dạy kịch như dạy văn bản tự sự, dạy chay, học kịch bản văn học nhưng họcsinh không được xem kịch Học sinh không được khơi gợi để tưởng tượng hoạtcảnh nhân vật kịch gắn với ngôn ngữ và hành động trong xung đột cụ thể Đặcbiệt với trích đoạn kịch Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, học sinh không dễ gì hiểuđược những triết lí nhân sinh - nghệ thuật mà tác giả gửi gắm Khi hướng dẫnhọc sinh tiếp cận văn bản, giáo viên chưa đặt kịch trong mối tương quan với cáctác phẩm cùng giai đoạn để thấy được chiều sâu của tác phẩm Một hạn chế lớnnữa trong dạy học kịch bản văn học ở nhà trường phổ thông hiện nay là các giáo viênđều nặng về truyền thụ nội dung văn bản đặc biệt là khi học văn bản kịch nước ngoài.

III Định hướng dạy học văn bản kịch trong chương trình ngữ văn 11 THPT

-1 Hướng dẫn chuẩn bị bài ở nhà:

Đây là công việc hết sức quan trọng, đặc biệt trong dạy học kịch bản vănhọc Có nhiều hình thức yêu cầu học sinh chuẩn bị Các yêu cầu này nên cụ thể hoáthành các câu hỏi mệnh lệnh, giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng Câu hỏi giáo viên đưa

ra có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với mọi đốitượng học sinh, kích thích ham muốn tìm hiểu và học tập của các em Để có mộtgiờ học sôi nổi, thành công, người thầy cần nắm chắc đặc trưng thể loại, mục tiêubài học để chuẩn bị được một hệ thống câu hỏi khoa học

1.1 Chuẩn bị của giáo viên:

- Giáo viên chia lớp làm 4 tổ, chuẩn bị tập kịch trước một tuần

- Giáo viên hướng dẫn học sinh chọn lớp kịch để diễn (Với đoạn tríchVĩnh biệt Cửu Trùng Đài, 4 tổ nên lần lượt diễn các lớp 1,7,8,9)

- Giáo viên giới thiệu tài liệu tham khảo, băng đĩa cho học sinh, địa chỉ trênmạng để tìm tư liệu,…

- Giáo viên phân công một học sinh trong vai trò MC đồng thời làngười dẫn chuyện, dẫn dắt để đi vào vở diễn

- Giáo viên hướng dẫn học sinh diễn kịch: Phải làm nổi bật đặc điểm, tínhcách của nhân vật, xung đột và hành động kịch qua lời thoại của từng nhân vật

Chú ý tới giọng điệu, cử chỉ, nét mặt, điệu,bộ, từ ngữ, kiểu câu của mỗi nhân vật

Từ đó làm rõ chủ đề tư tưởng, ý nghĩa xã hội của đoạn trích, tác phẩm

- Học sinh diễn thử cho giáo viên xem trước, giáo viên nhận xét, góp ý, sửachữa

- Giáo viên phải chú ý thời gian biểu diễn của học sinh

Trang 15

1.2 Chuẩn bị của học sinh:

- Học sinh nhận câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà từ giáo viên (tìm hiểu và soạntrước ở nhà)

- Tập diễn kịch theo tổ

- Diễn thử cho giáo viên xem trước, lắng nghe góp ý

- Chỉnh sửa theo yêu cầu của giáo viên để tốt hơn

2 Các hoạt động trên lớp:

2.1 Khởi động hấp dẫn.

Đây là hoạt động khởi đầu của một tiết học Nhưng đôi khi người dạythường xem nhẹ hoặc bỏ qua nó Có những thầy cô đơn giản hóa lời giới thiệu bàivới hình thức nhắc lại bài cũ đã học gì, bài mới sẽ học gì, chính điệu đó phần nàolàm giảm đi hứng thú học văn của học sinh Đây là “khúc dạo đầu” của bài giảngnhằm tạo tâm thế cho giờ dạy, tạo hứng thú cho học sinh, thiết lập mối quan hệgiữa kiến thức cũ và kiến thức mới Đưa ra mục tiêu của bài học cho học sinh Giáoviên có thể tiến hành hoạt động này bằng nhiều cách khác nhau như kể một câuchuyện, trình bày sinh động một trích đoạn của bài học mới, đưa một thông tin hấpdẫn, một số tranh ảnh, giáo cụ trực quan, đặt một số câu hỏi có tình huống cần giảiquyết dựa trên vốn kinh nghiệm của học sinh, có liên quan đến phần nội dung nào

đó của bài học mới nhằm thu hút sự quan tâm của học sinh với bài học

- Giáo viên dẫn dắt học sinh vào bài

- Gọi học sinh trình bày hiểu biết của mình về cuộc đời và tác phẩm củatác giả, cho biết hoàn cảnh và mục đích sáng tác vở kịch, xác định vị trí và tómtắt đoạn trích kịch

- Giáo viên tổ chức cho học sinh diễn kịch: một học sinh trong vai trò

MC đồng thời là người dẫn chuyện, dẫn dắt để đi vào vở diễn

- Những học sinh ở 4 tổ được phân công diễn kịch, diễn lần lượt theo trình

tự từng lớp kịch (10 phút) Khi diễn, chú ý thể hiện tính cách nhân vật, xungđột, hành động kịch

2.2 Đọc phần văn bản kịch

Chúng ta đều biết tầm quan trọng của việc đọc văn bản trong giờ dạy học tácphẩm văn chương Việc đọc văn bản kịch khác với đọc văn bản trữ tình hoặc tự sự,nghị luận Trong khâu chuẩn bị bài, giáo viên cần yêu cầu học sinh đọc trước mộtvài lần, tìm kịch bản trên mạng để xem và so sánh lời thoại nhân vật để diễn đạt chođúng Sau khi đọc phần văn bản, học sinh có thể tập diễn lại Trong giờ dạy học, cóhai hình thức có thể vận dụng là đọc phân vai và chuyển thể thành kịch Dù sử dụng

Trang 16

hình thức nào, phải đảm bảo đọc đúng giọng điệu, thể hiện đúng tâm trạng, xungđột của nhân vật qua lời thoại, có người dẫn dắt kịch bên cạnh các lời thoại Nêncho học sinh hình dung bối cảnh sân khấu, khung cảnh cụ thể của các lời thoại bêncạnh việc đọc.

2.3 Hoạt động cắt nghĩa (lí giải sự phản ánh của văn bản)

Hoạt động phân tích và hoạt động cắt nghĩa trong cơ chế tiếp nhận tácphẩm văn chương luôn là những hoạt động hỗ trợ, bổ sung cho nhau và nhiềukhi gắn kết không thể tách rời trong sự tiếp nhận Hoạt động cắt nghĩa đem lạinhận thức đúng đắn, có cơ sở cho những hiện tượng văn học có giá trị, quátrình cắt nghĩa góp phần thực hiện và điều chỉnh việc lĩnh hội trong dạy học vàphân tích văn chương Nếu phân tích chỉ dừng lại ở việc vận dụng kiến thức

về đối tượng phân tích để khám phá thì "cắt nghĩa" đòi hỏi phải có một trình

độ năng lực vận dụng kiến thức văn học rộng hơn để giải thích về đối tượng

Qua hoạt động cắt nghĩa, giúp học sinh từng bước giải thích ý nghĩa củatừng chữ, từng từ, từng câu và liên kết chúng lại để tìm ra được ý nghĩa kháiquát của tác phẩm Trong quá trình đó, người tiếp nhận phải huy động kinhnghiệm thẩm mĩ, tư tưởng, khả năng liên tưởng, tưởng tượng, so sánh để hiểu

và hình dung ra những vấn đề tác giả nêu ra và gửi gắm trong tác phẩm Dạyhọc đoạn trích này, giáo viên cùng phối hợp với học sinh cắt nghĩa: Tiêu đề tácphẩm, cấu trúc đoạn trích, sơ đồ nhân vật, tư tưởng chủ đề, các hình tượng, chitiết nghệ thuật tiêu biểu Giáo viên có thể đặt các câu hỏi sau khi cho đọc văn bảnkịch

2.4 Tiếp nhận văn bản bằng hệ thống câu hỏi:

Đây là nhiệm vụ học tập được nêu ra trong giờ học, vừa giúp học sinh nắmvững kiến thức kỹ năng, vừa góp phần phát huy trí lực, năng lực đọc, nghe, viết,nói, liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh Trong SGK Ngữ văn đã không hệ thốngcâu hỏi đọc hiểu văn bản Tuy nhiên khi tiến hành giờ dạy căn cứ vào từng đốitượng học sinh, đặc trưng thể loại, mục đích yêu cầu giờ dạy để xây dựng hệ thốngcâu hỏi cho phù hợp

Hệ thống câu hỏi đó cần kết nối được phần tự học, chuẩn bị bài ở nhà với bàihọc trên lớp Học sinh được tiếp tục mạch suy nghĩ, làm sáng tỏ thêm những gì các

em đã hiểu đã nhận thức, đã thực hành, ứng dụng và đặc biệt điều chỉnh đượcnhững gì các em hiểu, làm chưa đúng, chưa trúng

Câu hỏi phải chính xác, rõ ràng có màu sắc văn học, có khả năng khêu gợitình cảm, xúc động thẩm mĩ cho học sinh Câu hỏi phải vừa sức với học sinh, có hệthống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

2.4.1 Câu hỏi phát hiện:

Ngày đăng: 10/10/2022, 05:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn lớp 11, NXB Giáo dục 2006 2. Thiết kế bài học Ngữ văn 11, NXB Giáo dục 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2. Thiết kế bài học Ngữ văn 11
Nhà XB: NXB Giáo dục 2006"2. Thiết kế bài học Ngữ văn 11
3. Sách Dạy học Ngữ văn 11 theo hướng tích hợp (NXB Đại học sư phạm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ văn 11 theo hướng tích hợp
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm)
4. Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nguyễn Hữu Châu, NXB Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 11, NXB Giáo dục 2010 Khác
6. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn 11, NXB GD Khác
7. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn 11, NXB GD Khác
8. Thiết kế bài dạy ngữ văn THPT, NXB GD Khác
9. Hướng dẫn học và làm bài Ngữ văn 11, NXB Đại học Quốc gia Khác
10. Lí luận văn học, Phương Lựu chủ biên, NXB GD Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4. Thể bi kịch: Là một thể của loại hình kịch ( đối lập với hài kịch) - (SKKN HAY NHẤT) dạy học văn bản kịch trong chương trình ngữ văn 11  THPT theo quan điểm tích cực
4. Thể bi kịch: Là một thể của loại hình kịch ( đối lập với hài kịch) (Trang 23)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w