Cách đặt câu hỏi, ra đề kiểm tra thường chú ý đến khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức của học sinh, số lần kiểm tra trong một học kì quá ít,… Dẫn đến nội dung kiểm tra còn hạn hẹp, kế
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA
HỌC SINH Ở MÔN CÔNG NGHỆ 8"
Trang 2Chuyên đề: I ĐẶT VẤN ĐỀ
Qua các buổi tổng kết các năm học qua của trường THCS Long Phú cho thấy tỉ lệ học
sinh khá, giỏi còn hạn chết nhưng tỉ lệ học sinh yếu, kém lại khá đông Vì thế, bản thân là
giáo viên bộ môn cần phải suy nghĩ để tìm cách nào đó nâng dần chất lượng của bộ môn
nói riêng và chất lượng cả trường nói chung
Sau nhiều năm giảng dạy, tôi đã áp dụng và thay đổi nhiều phương pháp dạy học để tìm
ra được phương pháp nào đó thích hợp cho từng kiểu bài lên lớp ứng với bộ môn mình
đang giảng dạy, sử dụng nhiều phương tiện dạy học cho học sinh quan sát nhằm kích
thích sự hứng thú học tập của các em Tuy nhiên, kết quả học tập của học sinh vẫn còn
hạn chế Vậy có thể do phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh có
vấn đề chăng?
Qua thực tế tìm hiểu về kiểm tra, đánh giá cho thấy phương pháp kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập của học sinh trước đây thường do giáo viên thực hiện Cách đặt câu hỏi, ra đề
kiểm tra thường chú ý đến khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức của học sinh, số lần
kiểm tra trong một học kì quá ít,… Dẫn đến nội dung kiểm tra còn hạn hẹp, kết quả kiểm
tra, đánh giá chưa chính xác với kết quả học tập của từng học sinh trong suốt học kì hoặc
năm học Việc chấm điểm không thống nhất giữa các giáo viên trong cùng một tổ chuyên
môn, một trường và giữa các trường còn khá phổ biến
Từ thực trạng trên, để việc kiểm tra đánh giá đạt hiệu quả tốt hơn và để đáp ứng được
mục tiêu giáo dục, tạo nên sự công bằng trong đánh giá tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài
‘‘Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở môn công
nghệ lớp 8’’
Trang 3II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1.Đặc điểm tình hình:
a.Những mặt thuận lợi:
-Được sự quan tâm sâu sát của Ban giám hiệu và đoàn thể nhà trường, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc dạy của giáo viên và học của học sinh
-Thầy trò rất nhiệt tình trong công tác dạy và học
-Thiết bị và đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ
b.Những mặt khó khăn và tồn tại:
*Do trường:
-Hiện nay trường chưa có phòng thí nghiệm, phòng chức năng nên việc vận chuyển các
thiết bị đến các phòng học khi chuyển tiết gặp nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian
-Trường có 2 lớp nằm ở điểm lẻ nên việc vận chuyển đủ các thiết bị dạy học cho các
nhóm thực hành cũng gặp nhiều khó khăn
*Do giáo viên:
-Có quá nhiều thời gian chết trong từng hoạt động dạy học
-Đánh giá kết quả học tập của học sinh còn nhiều hạn chế:
+Không kiểm tra bài cũ thường xuyên
+Chưa quản lí nghiêm túc giờ kiểm tra
+Bài kiểm tra không phân loại được trình độ học tập của học sinh
+Kết quả kiểm tra gởi về cho học sinh còn chậm trể
*Về học sinh:
-Đa số học sinh trong địa bàn xã Long Phú là người dân tộc nên khả năng nghe, nói của
học sinh còn hạn chế, hơn nữa đây là những kiến thức kĩ thuật nên ảnh hưởng đến quá
trình tiếp thu kiến thức của học sinh
-Học sinh không học bài cũ dẫn đến bị hỏng kiến thức quá nhiều, dẫn đến mất nền tảng
để xây dựng các kiến thức mới, sau một thời gian học sinh mất hứng thú và chán nản học
tập, thậm chí có thể bỏ học
-Chưa tập trung quan sát, chưa tích cực hoạt động
-Học sinh chưa ý thức nghiên cứu bài mới trước khi đến lớp
Trang 4-Học sinh không dám phát biểu do tính nhút nhát.
-Chưa chuẩn bị tư thế khi phát biểu xây dụng bài làm mất nhiều thời gian
-Chưa nghiêm túc trong kiểm tra, thi cử
-Không theo dõi điểm của các bài kiểm tra trong suốt học kì, năm học,…
Từ những thuận lợi và khó khăn nêu trên nên kết quả học tập của các em chưa cao, các
em chưa vận dụng được các kiến thức vào thực tế cuộc sống Cụ thể qua lần kiểm tra 1
tiết ở HKI năm học 2009-2010cho thấy:
Qua kết quả thống kê trên ta thấy số lượng học sinh học yếu kém quá nhiều, tôi nghĩ
ngoài việc do truyền thụ các kiến thức cho học sinh chưa có hiệu quả mà còn do phương
pháp kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh chưa tốt, dẫn đến học sinh lơ là
trong việc học tập, chưa ý thức cao trong việc kiểm tra, thi cử
2.Cơ sở lí luận:
Kiểm tra, đánh giá là một quá trình được tiến hành một cách có hệ thống, được thực hiện
thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình dạy học như kiểm tra miệng, 15 phút, một tiết,
thực hành, Nhưng để thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá trước hết cần hiểu một khái
niệm cơ bản trong kiểm tra, đánh giá:
+ Kiểm tra: là xác định kết quả học tập của học sinh qua mỗi giai đoạn thực hiện kế
hoạch giáo dục
+ Đánh giá: là xác nhận trình độ, khả năng tiếp thu các kiến thức mức độ: nhận biết,
thông hiểu và vận dụng
Việc kiểm tra đánh giá có tác dụng kích thích sự cố gắng thi đua trong học tập giữa các
cá nhân học sinh trong lớp và giữa các lớp với nhau Kiểm tra đánh giá một cách nghiêm
túc, chính xác giúp học sinh nâng cao ý thức, trách nhiệm, tính tự giác trong học tập, ý
Trang 5vươn lên, củng cố niềm tin trong học tập Chính vì vậy sau mỗi giờ lên lớp giáo viên cần
đánh giá kết quả học tập của học sinh, để kiểm tra xem giờ lên lớp đó có đạt được mục
tiêu đề ra hay không, từ đó điều chỉnh việc tổ chức hoạt động dạy của giáo viên và hoạt
động học của học sinh cho phù hợp
Muốn vậy giáo viên phải nắm mục tiêu của môn học, biết được các hình thức kiểm tra
đánh giá hiện nay, từ đó đưa ra được yêu cầu, tiêu chí và qui trình kiểm tra, đánh giá cho
thích hợp
a Những yêu cầu đối với việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Để việc đánh giá kết quả học tập của học sinh có hiệu quả thì yêu cầu về đánh giáphải đảm bảo phản ánh được mục tiêu dạy học, tính toàn diện và hệ thống, tính khách
quan và chính xác Căn cứ vào mục tiêu của bài, chương, phần để đề ra các câu hỏi, bài
tập và tình huống kiểm tra phù hợp với 3 mức độ:
Kết quả đánh giá phải tạo điều kiện phân loại được học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu,
kém Mặt khác, trong kiểm tra đánh giá phải xem xét cả quá trình học tập để phát hiện và
đánh giá được các động lực phát triển, sự tiến bộ của học sinh đồng thời công nhận, trân
trọng và tạo điều kiện để những nhân tố tích cực của học sinh có cơ hội phát triển
Ngoài ra, trong kiểm tra đánh giá cũng cần được tiến hành công khai, kết quả phải được
công bố kịp thời để học sinh có thể tự đánh giá, phân loại trong quá trình học tập, từ đó
học sinh có thể biết và quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong học tập Muốn vậy phải có những
phương pháp đánh giá và kĩ thuật đánh giá thích hợp, cần kết hợp nhiều phương pháp
đánh giá cho phù hợp với từng nội dung học tập, để học sinh bộc lộ các năng lực bản
thân
b Những căn cứ để kiểm tra đánh giá:
Để việc kiểm tra đánh giá có hiệu quả phải dựa vào một số các căn cứ sau:
- Nội dung kiểm tra phải căn cứ mục tiêu cụ thể của từng phần, từng chương, từng bài,
trong đó phải đề cập đến kiểm tra cả kiến thức, kĩ năng và thái độ Đặc biệt trong phần
kiểm tra thực hành, việc kiểm tra kĩ năng và thái độ là rất quan trọng bởi việc kiểm tra
các bước thực hiện các qui trình công nghệ, qui trình sản xuất và tuân thủ theo các
nguyên tắc và an toàn lao động và gìn giữ môi trường là điều không thể thiếu Ngoài ra,
đề kiểm tra cần chú ý vào việc học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực
Trang 6tiễn trong đời sống và trong lao động sản xuất, từ đó học sinh nhận thấy mình học môn
này có nhiều bổ ích nên có ý thức cao trong việc học tập
- Căn cứ những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn Công nghệ 8: Phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo để học sinh vận dụng kiến thức và xử lí các thông tin, các
tình huống trong thực tiễn đời sống, sản xuất của học sinh Tuy nhiên, tuỳ trình độ của
học sinh mà lựa chọn nội dung kiểm tra và hình thức kiểm tra cho phù hợp
-Mặt khác muốn khuyến khích đối tượng học sinh khá, giỏi phát huy được năng lực của
bản thân thì trong nội dung kiểm tra phải tăng cường đánh giá việc giải quyết các vấn đề
nảy sinh trong nội dung học tập và khả năng sáng tạo trong phát hiện và giải quyết vấn
đề, giải thích các hiện tượng, xử lí các thông tin của học sinh.
- Căn cứ vào hình thức kiểm tra đánh giá phải được sử dụng đa dạng hơn Ngoài kiểm tra
miệng và kiểm tra viết thì còn có thể có những hình thức kiểm tra khác phù hợp với đặc
trưng của môn công nghệ như: kiểm tra sự vận dụng các kiến thức mới, kiểm tra các kiến
thức mà học sinh tiếp thu được sau bài học, kiểm tra thực hành, kiểm tra kĩ năng vận
dụng của học sinh qua hình thức trắc nghiệm khách quan,… Tuy nhiên các câu hỏi kiểm
tra nên kết hợp câu hỏi tự luận với trắc nghiệm khác quan, giảm câu hỏi kiểm tra ghi nhớ,
tái hiện kiến thức, tăng câu hỏi vận dụng kiến thức
3 Các hình thức kiểm tra đánh giá:
+ Kiểm tra sơ bộ:
Mục đích của loại kiểm tra này thường áp dụng nội dung của môn học có liên quan
và được xây dụng dựa trên nội dung của các môn học khác mà học sinh đã biết để xác
định trình độ, kiến thức, kĩ năng của học sinh trước khi bắt đầu học môn học này Hình
thức kiểm tra này có thể sử dụng phương pháp kiểm tra vấn đáp hoặc trắc nghiệm khách
quan
+ Kiểm tra thường xuyên:
Mục đích của hình thức này nhằm xác định mức độ hình thành kiến thức, kĩ năng của học
sinh, giúp học sinh thực hiện các bài tập đúng thời gian có hiệu quả và tập thói quen làm
việc độc lập và ý thức học tập thường xuyên của học sinh Hình thức kiểm tra này được
sử dụng trong suốt quá trình học tập môn học và thường sử dụng các phương pháp như
quan sát, vấn đáp, viết, bài tập
+ Kiểm tra định kì:
Mục đích nhằm xác định mức độ chính xác của kết quả kiểm tra thường xuyên và đánh
giá chất lượng dạy – học của giáo viên và học sinh Hình thức kiểm tra này được sử dụng
trong quá trình dạy học nhưng chỉ được thực hiện sau khi kết thúc một chương, một phần
Trang 7hay sau một học kì Số lần kiểm tra được qui định trong phân phối chương trình môn học.
Phương pháp thường dùng chủ yếu hiện nay là kiểm tra viết, bài tập vận dụng
+ Kiểm tra tổng kết:
Là hình thức kiểm tra được sử dụng sau khi môn học đã được thực hiện hết một giai
đoạn, một học kì hay toàn bộ chương trình Trước khi kiểm tra tổng kết thường có giai
đoạn ôn tập Phương pháp thường sử dụng là viết, bài tập vận dụng,
4 Các phương pháp kiểm tra đánh giá.
a Kiểm tra lí thuyết: Hiện nay phổ biến là kiểm tra vấn đáp ( kiểm tra bài cũ đầu tiết
học) và kiểm tra viết ( Kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, học kì)
-Kiểm tra vấn đáp bài cũ đầu tiết học: học sinh trả lời đúng sai vẫn lưu điểm Chú ý: khi
dạy các tiết có đăng kí học tốt thì giáo viên cần gọi các em yếu kém để trả bài nhằm tạo
điều kiện cho các em có cơ hội gở điểm, nếu có em nào không thuộc bài thì đánh giá tiết
đó không đạt Đồng thời ghi cụ thể tên và điểm của em đó để GVCN và liên đội xử lý
-Kiểm tra các kiến thức cũ có liên quan ở bài mới:
+Giáo viên chỉ định học sinh trả lời: học sinh trả lời đúng hay sai vẫn lưu điểm
+Học sinh xung phong phát biểu: Học sinh có quyền chọn lưu điểm hay không
-Kiểm tra vấn đáp khả năng tư duy tìm tòi các kiến thức mới từ các kiến thức đã học: học
sinh tự chọn lưu điểm hay không
-Kiểm tra sự tiếp thu kiến thức sau mỗi tiết học: Yêu cầu học sinh đóng hết tập và sách
sau đó trả lời các câu hỏi củng cố bài do giáo viên yêu cầu, học sinh tự chọn lưu điểm của
mình hay không
VD: Khi giáo viên dạy bài bản vẽ lắp thì việc kiểm tra đánh giá các kiến thức cũ và các
kiến thức mới được thực hiện như sau:
Trang 8Có tác phong làm việc theo qui trình.
2.Kiểm tra bài cũ: (4 phút)
Em hãy đọc bản vẽ vòng đai (10.1 SGK)?
3.Giới thiệu bài mới: (1 phút)
Để lắp ráp được các chi tiết được hoàn chỉnh thì người thiết kế phải vẽ bản vẽ lắp để biết
được vị trí tương quan giữa các chi tiết của sản phẩm Vậy trong bản vẽ lắp có những nội
dung gì và trình tự đọc ra sao? Để biết được điều đó thầy trò ta cùng nghiên cứu sẽ rỏ
quan-đàm thoại, thảo luận để tìm
hiểu nội dung của bản vẽ
lắp:
Gọi 1 HS đọc nội dung của
bản vẽ lắp các em còn lại theo
dỏi
Trong một chiếc máy có rất
nhiều chi tiết, để biết được vị
trí lắp ráp các chi tiết thì người
thi công phải xem bản vẽ lắp
Theo em, bản vẽ lắp phải diễn
tả điều gì?
Vậy bản vẽ lắp có công
dụng gì?
Bản vẽ lắp diễn tảhình dạng, kết cấu và
vị trí tương quan giữacác chi tiết của sảnphẩm
Bản vẽ lắp dùngtrong thiết kế, lắp ráp
và sử dụng sản phẩm
Hình biểu diễn,kích thước, bảng kê,
I.Nội dung của bản vẽ lắp:
Bản vẽ lắp diễn
tả hình dạng, kếtcấu và vị trítương quan giữacác chi tiết củasản phẩm
Bản vẽ lắp gồm
có 4 nội dung:
-Hình biểu diễn-Kích thước-Bảng kê-Khung tên
Trang 9Em hãy cho biết bản vẽ lắp
gồm có những nội dung gì?
Nội dung của bản vẽ lắp có
điểm nào khác với bản vẽ chi
tiết? (HS thảo luận cặp thời
gian 1 phút, học sinh nào trả
lời đúng có điểm)
Bảng kê chi tiết gồm có
những nội dung gì?
Bản vẽ lắp gồm 4 nội dung
chủ yếu Để hiểu rỏ về nội
dung của bản vẽ chi tiết chúng
Gồm tên gọi chitiết, số lượng và vậtliệu chế tạo chi tiếtđó
2
0
’
Hoạt động 2:Trực
quan-đàm thoại thảo luận để tìm
hiểu các nội dung của bản vẽ
Giáo viên treo bảng trình tự
đọc và nội dung cần hiểu lên
Đọc thông tin
Học sinh theo dõi
II.Đọc bản vẽ lắp:
(Về nhà vẽ bảng13.1 “trình tựđọc bản vẽ lắp”
trong SGK)
Trang 10Gọi học sinh đọc bảng kê?
Gọi học sinh đọc hình biểu
diễn?
Yêu cầu học sinh thảo luận
cặp trong thời gian 2 phút để
đọc các kích thước? Học sinh
trả lời được cho điểm
Giáo viên phân tích chi tiết
cho học sinh quan sát
Nêu qui trình tháo vòng
đai?
Nêu qui trình lắp vòng đai?
Công dụng của sản phẩm
này là gì?
Gọi 1 vài học sinh đọc toàn
bộ bản vẽ? (Em nào đọc được
bản vẽ sẽ được lấy điểm)
Tên gọi sản phẩm:
Bộ vòng đai Tỉ lệ:
1:2
Tên chitiết
SL
VậtliệuVòng
đai
Đai ốcM10
Vòngđệm
Bu lông
102Thép
Hình chiếu bằng vàhình chiếu đứng cócắt cục bộ
chung:140,50,78+Kích thước lắp:M10+Kích thước xác địnhkhoảng cách:110,50
Trang 11Lắp: 1-4-3-2
Ghép nối chi tiếthình trụ với các chitiết khác
Học sinh đọc bảnvẽ
4.Kết luận bài: (4 phút)
Gọi HS đọc ghi nhớ
Yêu cầu học sinh đóng tập và sách lại, học sinh nào trả lời được sẽ cho điểm:
So sánh nội dung bản vẽ lắp với bản vẽ chi tiết? Bản vẽ lắp dùng để làm gì?
Nêu trình tự đọc bản vẽ lắp?
Bản vẽ lắp được dùng trong các trường hợp sau:
a.Chế tạo chi tiết b.Lắp ráp các chi tiết
c.Thiết kế sản phẩm d.Câu b,c đúng
Giáo viên nhận xét tiết học về tinh thần, thái độ và kết quả học tập theo mục tiêu của
bài và rút kinh nghiệm cho tiết học sau
5.Hoạt động nối tiếp: Về nhà học bài và xem trước bài 14 “TH:Đọc bản vẽ lắp”(1
phút).
Qua cách kiểm tra đánh giá và lưu điểm như trên chắc hẳn là học sinh rất hứng thú trong
học tập, mạnh dạn đóng góp xây dựng bài, đồng thời các em sẽ ý thức được việc học tốt
các kiến thức cũ và chuẩn bị tốt các kiến thức mới để có cơ hội tự lựa chọn số điểm của
mình.
Trong kiểm tra viết thường kết hợp các câu hỏi tự luận với câu hỏi trắc nghiệm khách
quan
Bản chất của kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan là giao cho học sinh những câu hỏi
trắc nghiệm trong các phiếu, bài kiểm tra đã được in sẵn; học sinh làm ngay vào phiếu
hay bài kiểm tra đó Các dạng câu hỏi thường dùng là:
Trang 12- Câu hỏi nhiều lựa chọn
- Câu hỏi đúng – sai
- Câu hỏi điền khuyết
- Câu hỏi ghép đôi tương ứng
Cách kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan có ưu điểm là: trong một thời gian hạn chế
có thể kiểm tra được nhiều học sinh với nhiều nội dung khác nhau Để chấm bài nhanh và
khách quan có thể dùng phương pháp đục lỗ, bản trong, )
b.Kiểm tra thực hành: Kiểm tra, đánh giá bằng phương pháp quan sát, việc đánh giá kết
quả thực hành của học sinh là quá trình mang tính hệ thống, nghĩa là phải đánh giá được
cả kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh trong từng giai đoạn, từng bước trong qui trình
thực hành cũng như sản phẩm cuối cùng Vì thế, giáo viên cần phải quan sát, ghi lại cụ
thể kết quả đánh giá từng bước theo nội dung và quy trình bài thực hành vào phiếu theo
dõi - đánh giá hay còn gọi là “nhật kí” để có tư liệu chính xác cho việc đánh giá cuối
cùng
Nội dung thực hành môn Công nghệ 8, chủ yếu mang tính minh hoạ cho lí thuyết, nên
không yêu cầu cao về rèn luyện kĩ năng Điều cơ bản là phải kiểm tra được học sinh có
làm đúng thao tác kĩ thuật được hướng dẫn theo đúng qui trình không? Có đảm bảo giữ
gìn vệ sinh chung không? Có đảm bảo an toàn lao động hay không?
c.Tự đánh giá của học sinh: Tự đánh giá kết quả học tập của học sinh là một vấn đề rất
quan trọng đối với các em Thông qua việc học tập, kiểm tra các em có thể tự xác định
được mức độ tiếp thu kiến thức của mình đến đâu Tự các em tìm thấy những lỗ hỏng
kiến thức cần bổ sung hoặc đề xuất với giáo viên để được củng cố và trao dồi thêm Với
chương trình sách giáo khoa mới, nhiều bài giảng đã tạo cơ hội cho học sinh được tự
đánh giá kết quả học tập Việc tự đánh giá kết quả học tập của học sinh có thể thông qua
thảo luận bài mới ở trên lớp, trong nhóm học tập, đối với các bài thực hành các em có sẵn
các mẫu để tự xác định kết quả học tập sau mỗi bài học Ngoài ra, các em cần lưu các bài
kiểm tra để theo dỏi điểm của mình, từ đó có lập ra kế hoạch học tập để gở điểm kịp thời
5 Tỉ lệ kết hợp các câu tự luận và trắc nghiệm khách quan.
Do đặc thù môn học có tính ứng dụng thực tiễn cao và nội dung môn học có nhiều kiến
thức mang tính tình huống do đó tỉ lệ câu hỏi tự luận và trắc nghiệm khách quan trong
kiểm tra 15 phút nên là 50/50, trong kiểm tra 45 phút nên là 30/70 hoặc 40/60 cụ thể:
- Đối với đề 15 phút: 1 câu tự luận (5điểm) và 2 đến 3 câu trắc nghiệm (5 điểm)