Lý do chọn đề tài Phân môn chính tả trong bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả theo quy tắc hiện hành, nói rộng h
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“DẠY HỌC SINH LỚP 5 MỘT SỐ MẸO CHÍNH TẢ”
Trang 2PHẦN THỨ NHẤT ĐẶT VẤN ĐỀ
i Lý do chọn đề tài
Phân môn chính tả trong bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả theo quy tắc hiện hành, nói rộng hơn
là năng lực và thói quen viết đúng chính tả văn hóa Tiếng Việt chuẩn mực Vì vậy, phân
môn Chính tả có vị trí quan trọng như các môn khác trong cơ cấu chương trình môn
Tiếng Việt
Giống như môn Chính tả từ lớp 2 đến lớp 4, tính chất nổi bật nhất của phân môn Chính tả lớp 5 là thực hành Bởi lẽ chỉ có thể hình thành các kĩ năng, kĩ xảo chính tả cho
học sinh thông qua việc thực hành, luyện tập Do đó trong phân môn này, các quy tắc
chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lý thuyết không được bố trí trong tiết dạy
riêng mà dạy lồng ghép trong hệ thống bài tập chính tả Điều này thoạt nghe thì có vẻ rất
phù hợp với học sinh, nếu nhìn từ góc độ tâm sinh lý lứa tuổi và khả năng tiếp thu của
học sinh Nhưng cũng chính đó, học sinh rất dễ quên vì khả năng tổng hợp thành hệ
thống còn hạn chế Do đó, giúp học sinh khắc phục tình trạng này là một yêu cầu cần
thiết
Một trong các mục tiêu cơ bản của phân môn Chính tả lớp 5 là dạy thế nào để học sinh viết đúng chuẩn mực tiếng Việt văn hóa để góp phần giữ gìn sự trong sáng của
Tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ Về mặt hình thức chữ viết, học sinh lớp 5 hiện đang có xu
hướng tiến bộ, chữ viết xấu đang được dần khắc phục bằng phong trào và hội thi Nhưng
bên cạnh đó, không ít học sinh (kể cả học sinh viết chữ đẹp cấp huyện) cũng rất lúng túng
khi viết chính tả phân biệt và thường xuyên viết sai chính tả trong hành văn
Trong hoàn cảnh hiện nay, học sinh phải học quá nhiều: nhiều môn, nhiều thời gian Nói theo cách của Giáo sư Phan Ngọc: Tuổi đời còn nhỏ mà điều phải học thì quá
nhiều Do đó, cần có những quyển sách Mẹo để giúp học sinh lớp 5 học hiệu quả Chính
tả mà không mất quá nhiều thời gian và công sức
Với những lý do trên đây, bằng kiến thức đại cương và với những kinh nghiệm
trong hơn 10 năm dạy học, tôi đã đúc kết thành bản sáng kiến kinh nghiệm “Dạy học sinh
lớp 5 một số mẹo chính tả”
ii Mục đích nghiên cứu
Trang 3Mục đích chính của đề tài “Dạy học sinh lớp 5 một số mẹo chính tả” nhằm cung
cấp cho học sinh lớp 5 và giúp các em cách ghi nhớ quy tắc chính tả theo kiểu mẹo Từ
đó các em dễ dàng phân biệt được, viết được đúng chính tả theo quy tắc
Đề tài cung cấp cho đồng nghiệp một số mẹo chính tả thường gặp trong việc hướng
dẫn học sinh lớp 5 viết chính tả Đề tài còn là một cẩm nang, một “sổ tay chính tả” của
bản thân tôi trong quá trình dạy học, nhất là chính tả
iii Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện: học sinh lớp 5 và một số lỗi chính tả học sinh lớp 5 thường mắc lỗi, đó là các từ, ngữ chứa phụ âm l / n ; ch / tr ; s/ ; d / gi / r ;
vần iêu / iu / ưu và iêu / ươu / ưu
iv Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về mẹo chữa lỗi chính tả
2 Tìm hiểu một số lỗi chính tả phổ biến mà học sinh hay mắc lỗi (thực trạng, nguyên nhân, giải pháp)
3 Tìm hiểu và đưa ra một số cách chữa lỗi chính tả và tổng hợp thành mẹo chữa lỗi chính tả
v Phương pháp nghiên cứu
1, Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phương pháp này giúp tôi có cơ sở khoa học về ngữ âm, chính tả từ đó giúp tôi có góc nhìn tổng quát và quan niệm đúng đắn về quy tắc
chính tả hiện hành
2, Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Qua điều tra bằng văn bản (phiếu) và các cuộc
phỏng vấn chính thống hoặc trao đổi ngẫu nhiên trong giao tiếp, phương pháp này giúp
chúng tôi có cơ sở thực tiễn về thực trạng học sinh viết (nói) sai chính tả.
3, Phương pháp tích lũy và thống kê: trong hơn 10 năm dạy học phương pháp này
đã cung cấp cho tôi khá nhiều vốn kinh nghiệm liên quan đến đề tài Đó là thuận lợi đáng
kể
4, Phương pháp phân loại: phương pháp này giúp tôi phân loại được nhóm lỗi chính
tả hoặc một số lỗi chính tả có nét tương đồng về mặt ngữ âm hoặc cánh chữa lỗi
5, Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này hỗ trợ đắc lực trong việc cắt nghĩa cơ sở lí luận
6, Phương pháp miêu tả: Phương pháp có tác dụng trong việc giải thích, thuyết trình cách khắc phục lỗi chính tả
Trang 47, Phương pháp khảo sát: Trong quá trình thực hiện đề tài, vận dụng phương pháp này để tìm hiểu và rà soát toàn bộ các bài chính tả phân biệt ở lớp 5
8, Phương pháp so sánh đối chiếu: Vận dụng phương pháp này để tránh được sự lặp lỗi hoặc trùng hợp không cần thiết khi xây dựng mẹo chính tả
Ngoài những phương pháp trên đây được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn vận dụng một số phương pháp khác: phương pháp trắc nghiệm, phương pháp thực
hành, phương pháp trò chơi
vi Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề mẹo chính tả ở bậc Tiểu học là rất rộng Vì vậy để tránh lan man, dàn trải, tôi chỉ tập trung nghiên cứu về mẹo chính tả ở một số trường hợp mà học sinh lớp 5 ở địa
phương thường mắc phải như t / n ; ch / tr ; s/ ; d / gi / r ; iêu / iu / ưu, iêu / ươu / ưu
vii Dự kiến kế hoạch nghiên cứu
1, Phương hướng chung: Kết hợp tìm hiểu trên tất cả hai phương diện cơ sở lí
luận và cơ sở thực tiễn mà đề tài quan tâm
2, Phương hướng cụ thể:
2.1 Thời gian nghiên cứu: 02 năm học (năm học 2008 2009 và năm học 2009
-2010 ) 2.2 Phân bố thời gian thực hiện kế hoạch 2.2.1 Năm học 2008 – 2009
Bước 1: Xây dựng và hoàn thiện ý tưởng đề tài Bước 2: Xây dựng đề cương đề tài
Bước 3: Gửi đề cương cho GS.TS Lê Phương Nga (Khoa giáo dục Tiểu học -Đại học Sư phạm Hà Nội I) phê duyệt
Bước 4: Chỉnh sửa và hoàn thiện đề cương
Bước 5: Áp dụng thử nghiệm tại lớp 5A, trường Tiểu học Hoàn Long
2.2.2 Năm học 2009 - 2010
Bước 1: Áp dụng tại lớp 5A và 5B trường tiểu học Hoàn Long Bước 2: Tổng kết kinh nghiệm
Bước 3: Hoàn thiện đề tài Bước 4: Nộp bản thảo về cho Hội đồng khoa học các cấp
Trang 5PHẦN THỨ HAI GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I Về Tiếng Việt chữ mẹ đẻ
1 Chữ cái chữ Việt
Chữ cái chữ Việt được xây dựng theo hệ thống chữ cái La tinh Chữ cái tiếng Việt gồm các chữ cái sau đây:
1.1 Có 11 nguyên âm đơn: (a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô, u , ư và 3 nguyên âm đôi: iê
(yê, ia, ya) ; ươ (ưa) ; uô (ua)
1.2 Có 23 phụ âm: a, b (k, q), ch, d, đ, g (gh), h, kh, l,, m, n, nh, ng (ngh), p, ph, r,
s, t, th, tr, v,
Ngoài các chữ cái do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu nên chữ viết tiếng Việt còn sử dụng thêm 5 dấu để ghi 6 thanh điệu: \ (ghi thanh huyền), ~ (ghi thanh ngã), ?
(ghi thanh hỏi), / (ghi thanh sắc), (ghi thanh nặng) và không dùng dấu để ghi thanh
ngang ( thanh không)
2 Nguyên tắc xây dựng chữ Việt
So với chữ viếtc của nhiều ngôn ngữ trên thế giới, chữ Việt có phần thuận lợi hơn
Do đó, chính tả của nó cũng giản tiện hơn nhiều Nguyên nhân sâu xa nhất của điều này
là ở chỗ chữ Việt được xây dựng theo nguyên tắc âm vị học ( còn gọi là nguyên tắc ngữ
âm học) Nguyên tắc âm vị học trong chữ viết yêu cầu giữa âm và chữ phải có quan hệ
tương ứng “một - một” Để đảm bảo nguyên tắc này, chữ Việt phải thỏa mãn ít nhất hai
điều kiện; mỗi âm chỉ do một ký hiệu biểu thị và mỗi kí hiệu luôn luôn chỉ só một giá trị
-tức biểu thị chỉ một âm duy nhất ở mọi vị trí trong từ
Về căn bản, chữ Việt được tạo ra có tính đến khá đầy đủ các điều kiện trên đó
3 Những bất hợp lý trong tiếng Việt
Do nhiều nguyên nhân - lịch sử, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ khác nhau - những người tạo ra tiếng Việt * đã không tuân thủ được một cách nghiêm ngặt những yêu cầu
của nguyên tắc âm vị học trong chữ viết Do đó, đã để lại trong lòng cơ cấu chữ Việt
nhiều hiện tượng chính tả trái ngược với nguyên tắc ngữ âm học của chữ viết và đã làm
Trang 6nhức nhối bao thế hệ học giả trong và ngoài nước một thế kỷ nay Những bất hợp lý của
chữ Việt, có thể quy vào hai trường hợp chính dưới đây
3.1 Vi phạm nguyên tắc tương ứng “ một - một” giữa kí hiệu và âm thanh Điều
này thể hiện ở chỗ, dùng nhiều kí hiệu để biểu thị một âm Thí dụ:
- Âm /k/ được biểu thị bằng ba kí hiệu c, k, q
- Âm /i/ được biểu thị bằng hai kí hiệu i, y
- Âm / / được biểu thị bằng hai kí hiệu g, gh
- Âm / / được biểu thị bằng hai kí hiệu ng, ngh
- Âm /ie/ được biểu thị bằng bốn kí hiệu: iê, yê, ia, ya
- Âm /u / được biểu thị bằng hai kí hiệu: ươ, ưa
- Âm /uo/ được biểu thị bằng hai kí hiệu uô, ua
3.2 Vi phạm tính đơn trị của kí hiệu Điều này thể hiện cụ thể ở một kí hiệu biểu
thị nhiều âm khác nhau tùy thuộc vào vị trí của nó trong quan hệ với những âm trước và
sau nó Thí dụ như sau:
Thí dụ 1: chữ g khi đứng trước các chữ không phải là i, e, ê thì biểu thị là âm / /, nhưng khi đứng trước i mà sau i là các chữ không phải là i, e, ê thì biểu thị là âm /z/ (gia,
giữ, giục, ) ; Khi g đi cùng với h thì biểu thị là âm / / (ghi, ghét, ghế, ) ; khi đứng
trước i hoặc iê thì một mình g lại biểu thị âm /z/ (gì, gìn, giết )
Thí dụ 2: Chữ O chủ yếu dùng để biểu thị nguyên âm / /; nhưng khi đứng ngay sau a hoặc e, với tư cách là một âm cuối, thì biểu thị bán nguyên âm /u/ (gạo, kẹo, ) ;
còn khi đứng trước a hoặc e, thì lại biểu thị một giới hạn âm ( âm đệm), đó là /u/ (hoa,
hoe, )
* Tiếng Việt chữ Quốc ngữ do các giáo sĩ người Âu sáng tạo ra hồi thế kỷ XVI
-XVIII theo chữ La - tinh để tiện cho việc truyền giáo ở nước ta
Trên đây la hai trường hợp chính tả thể hiện các bất hợp lý trong chữ Quốc ngữ
Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ còn phân vân về tình trạng dùng nhiều dấu phụ, như các
trường hợp: ă, â, ô, ơ, ư; hoặc ghép nhiều con chữ để biểu thị một âm, như các trường
hợp: ch, gh, kh, nh, ng, ngh, ph, tr, th
Điều đó quả không thuận tiên lắm song cũng là giải pháp riêng Đó không là những bất hợp lý việc vi phạm nguyên tắc cơ bản của chính tả ngữ âm học, và không gây
cản trở hay sự lộn xộn nào do chính tả Quốc ngữ, thậm chí ngay cả khi dùng chữ Việt
trên máy vi tính
2 Chính tả chữ Việt.
1 Đặc điểm tiếng Việt
Trang 7Tiếng việt là ngôn ngữ phân tiết tính tức là các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói Đây chính là điểm khác biệt với các ngôn ngữ khác như Tiếng Anh, tiếng
Nga, ,Pháp * Vì thế khi viết, các chữ biểu thị âm tiết được viết rời,tách biệt
Mỗi âm tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định Khi viết chữ, phải đánh dấu nhanh - ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là nguyên âm
đôi) của âm tiết
Khi xác định được kí hiệu ghi âm chính trong chữ, thì ghi dấu thanh điệu lên trên
(hoặc dưới) kí hiệu đó, chẳng hạn: bạn, toán, hòa, thuế, Trong trường hợp có hai ký
hiệu biểu thị âm chính là nguyên âm đôi thì ghi dấu thanh lên kí hiệu có dấu phụ, chẳng
hạn: tiến, chiến, quyển, yến, suối, chứa, ; ghi dấu thanh lên kí hiệu thứ hai (Từ trái
sang phải) khi cả hai kí hiệu đều có dấu phụ, chẳng hạn: nước, bưởi, ; ghi dấu thanh lên
kí hiệu đầu tiên (trái sang phải) khi cả hai kí hiệu không có dấu phụ, chẳng hạn: phía, của,
múa,
Trong chính tả tiếng Việt, mỗi dòng chữ gồm những chữ, mỗi chữ tách riêng ra là một âm tiết Khi muốn nói đến mặt chính tả của tiếng “sách” chẳng hạn thì ta dùng
“chữ”; khi muốn nói đến mặt ngữ âm của nó thì ta dùng “âm tiết” (tiếng) Hai cách gọi
tuy khác nhau, nhưng đều chỉ một vật Thí dụ miêu tả âm tiết “Toán”
* Thí dụ tiếng Anh: baby (hai âm tiết) ;banana (ba âm tiết) ;television (4 âm tiết) ;
Trong chữ “toán”, ta phân biệt hai ,phần: phần thứ nhất (t) gọi là âm đầu hay phụ âm đầu
và phần thứ hai (oán) gọi là vần: trong phần vần (oán), ta có “án” là vần đơn và “o” đệm
vào “án” làm nên âm đệm; trong vần đơn “án”, ta có hai bộ phận là “a” gọi là nguyên âm
chính và “n” gọi là âm cuối Người ta gọi âm đầu hay âm cuối là vì lí do trước âm đâu
hoặc âm sau âm cuối không thể có một âm gì nữa Trong vần “oán” còn một bộ phận nữa
mà ta không thể bỏ quên, đó là dấu thanh
Tóm lại, một âm tiết - chữ - tiếng Việt bao gồm có năm phần: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và dấu thanh (nếu ở dạng đầy đủ) Trong năm phần này, có thể có những
phần vắng mặt Chẳng hạn, âm đầu có thể vắng như “oán” ; âm cuối có thể vắng như
“ào” ; âm đệm có thể vắng như “á” Tuy nhiên, tuyệt đối có hai phần bao giờ cũng có mặt
là nguyên âm chính và dấu thanh* Khi trong chính tả không ghi dấu gì thì có nghĩa đó là
“dấu không” chứ không phải là không có dấu Một âm tiết mất nguyên âm, hoặc dấu của
nó thì tan rã, không được coi là một âm tiết Việt
2 Một số quy định về chữ viết tiếng Việt.
2.1 Viết theo nguyên tắc ghi âm
Trang 8Về nguyên tắc, chữ viết ghi âm phải căn cứ trên một cách phát âm Mà tiếng Việt thì tồn tại nhiều phương ngữ Các cách phát âm địa phương có tính bảo thủ cao và thực tế
là chúng đều được tôn trọng Người Hà Nội vẫn có niềm tự hào với phát âm “con châu”
thay vì “con trâu” Cũng như vậy, người Sài gòn chẳng bao giờ mặc cảm khi hỏi “tai
đâu?” mà người nghe không biết chỉ vào tai hay đưa tay ra thay cho câu trả lời Đặc biệt
Đài tiếng nói Việt Nam - cơ quan ngôn luận của Quốc gia cũng mặc nhiên phát đi bằng
cả ba thứ giọng: Hà Nội, Huế và Sài gòn đại diện cho ba phương ngữ lớn trên phạm vi cả
nước Thế nhưng về mặt chữ viết, chỉ cho phép một cách duy nhất dùng để ghi mọi
phương ngữ Vậy đâu là cơ sở cho chữ viết? Cách viết ấy tôn trọng chuẩn chính tả đã
được xác định và được phản ánh về cơn bản trong Từ điển phổ thông
* Tiếng Việt có sáu dấu thanh: dấu không (ngang), dấu huyền, dấu ngã, dấu hỏi, dấu sắc và dấu nặng
Nghĩa là chữ viết tiếng Việt căn cứ trên cách phát âm của người Hà Nội cộng với năm sự
phân biệt mà cách phát âm địa phương này còn đồng nhất nói Đó là tr/ch ; s/ ; r/gi/d ;
ưu/iu ; ươu/iêu
2.2 viết rời từng chữ
Một âm tiết được ghi bằng một chữ Viết “Yên Mỹ” chứ không viết “ Yên Mỹ”
Tuy nhiên trong giao tiếp bằng văn bản , các kiểu chữ viết liền nhau như trên vẫn tồn tại
và được sử dụng đôi khi Sự cố chấp ấy có thể có hai lý do:
Một là, cách viết đó đơn thuần chỉ mang tính cá nhân: Thư từ, nhật ký,
Hai là,cách viết đó mang tính cộng đồng nhưng được nhìn nhận như một địa danh trong các văn bản giao dịch quốc tế Thí dụ Hanoi, Pari, London, Còn các văn bản
khác, nhất là dùng trong nhà trường, kiểu viết ấy được coi là mắc ba lỗi: không viết rời
con chữ, không viết hao âm tiết thứ hai của tên riêng; không viết dấu phụ và dấu thanh
2.3 Có dấu thanh cho mỗi chữ
Bất kỳ âm tiết nào của Tiếng Việt cũng phải mang thanh điệu Nguyên tắc này triệt
để đến mức ngay cả từ vay mượn của tiếng nước ngoài khi đã “gia nhập” cũng phải tùy
tục, mỗi âm tiết cũng phải mang một trong sáu thanh điệu của tiếng Việt Thí dụ “cafe”
vốn là một từ của tiếng Pháp không có dấu thanh nhưng khi đã trở thành vốn từ vựng của
tiếng Việt là “ cà phê” thì hiển nhiên, tiếng “cà” đã mang thanh huyền và tiếng “phê” đã
mang thanh ngang rồi
Nguyên tắc trên cũng được thể hiện trên chữ viết Mỗi chữ đều mang một trong sáu dấu thanh và được thể hiện trên chữ viết Dấu thanh thanh có tác dụng khu biệt như một
Trang 9âm vị Vì thế, trên chữ viết, việc không viết dấu thanh sẽ khiến người đọc, người nghe
lĩnh hội sai (có khi là cố ý, có khi là vô tình) điều mà người viết định truyền đạt
Thí dụ 1: Khi đến thăm nhà máy cơ khí Gia Lâm, nhìn hàng chữ ghi: “ NHA MAY
CO KH GIA LAM”, Bác thản nhiên đọc: “Nhà máy cơ khí già lắm” Vào hội trường,
thấy một dòng khẩu hiệu: “HO CHU TICH MUON NAM”, Người làm bộ mệt mỏi và nói
lớn: “ Hồ Chủ Tịch muốn nằm” làm cho đoàn tháp tùng vừa cười vui vẻ, vừa “ sợ xanh
mắt” về bài học chữ nghĩa mà bác vừa dạy
Thí dụ 2: Lệnh cấp trên đưa xuống: “ BAT BAN NGAY” với ý “bắt bắn ngày”
nhưng đã được cấp dưới thừa hành thực thi: “bắt bắn ngay”
Thí dụ 3: Trên nóc cao ốc một khách sạn ở thị xã Cửa lò (Nghệ An) có đắp dòng chữ “MUONG THANH HOTEL” ; ngồi trên xe ô tô, du khách phải suy luận bở hơi tai
mới đoán ra được dó là khách sạn Mường Thanh
3 Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt.
3.1 Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết.
3.1.1 Tất cả các chữ cái ghi phụ âm đầu đều có thể làm kí hiệu ghi âm đầu của âm tiết
3.1.2 Tất cả các chữ cái gi nguyên âm đều có thể làm kí hiệu ghi âm chính của âm tiết
3.1.3 Hai chữ cái ghi âm đệm là o và u, giữa chúng có sự phân bố vị trí rõ rệt
3.1.4 Các kí hiệu: p, t, m, n, c, ng (nh), i (y), u (o) biểu thị các âm cuối
3.2 Sự phân bố vị trí giữa các kí hiệu cùng biểu thị một âm Một bộ quy tắc kết
hợp hoàn chỉnh, cần thiết, đủ mạnh để loại bỏ khả năng tùy tiện, nước đôi khi viết Các
quy tắc bổ sung này đã được xã hội hóa và trở thành thói quen chính tả của người việt
Nhờ chúng mà chính tả việt khắc phục được tính phức tạp, rắc rối Sau đây là các quy tắc
bổ sung:
3.2.1 Đối với k/ c /q:
- K viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm ( bộ phận nguyên âm đôi) :i, e, ê, iê, ia
- C viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a, ă, â, o, ô, ơ, u,
ư, ua, uô, ưa, ươ
- Q viết trước âm đệm u Riêng trường hợp “ka ki” , “kách mệnh”, “ Bắc Kạn” là
do theo thói quen chứ “k” vẫn viết trước “a”
Trang 103.2.2 Đối với g/gh và ng/ngh
- G và NG viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a, ă, â, o,
ô, u, ư
- GH và NGH viết trước các kí hiệu nghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): i, e, ê
3.2.3 Đối với IÊ/ IA/ YÊ/ YA
- IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: chiến , tiên tiến,
- IA viết sau sau âm đầu, không có âm cuối: chia, phía,
- YÊ viết sau âm đệm, trước âm cuối: tuyên, yến,
- YA viết sau âm đệm, không có âm cuối: khuya, 3.2.4 Đối với UA/ UÔ
- UA viết khi không có âm cuối: múa, cua, sủa,
- UÔ viết trước âm cuối: chuối/ chuột, cuốn,
3.2.5 Đối với ƯA / ƯƠ
- ƯA viết khi không có âm cuối: mưa, xưa, cửa,
- ƯƠ viết trước âm cuối: nước, thương, mượt,
3.2.6 O và U làm âm đệm
- Sau chữ cái ghi âm Q, chỉ viết U: quang, quân, quýt,
- Sau các phụ âm khác hoặc mở đầu âm tiết:
+ Viết O trước các nguyên âm: a, ă, e (hoa, khoăn, toét, ) + Viết i trước các nguyên âm: â, ê, y, yê, ya (huân, huệ, khuya, nguyên, huy, ) 3.2.7 I và Y làm âm chính
- I viết sau âm đầu: bi, kỉ, phi,
- Y viết sau âm đẹm: quy, quỳnh, quýt,
* Cần lưu ý, khi đứng một mình viết I đối với các từ thuần việt (ỉ eo, ầm ĩ, í a, ) cần viết Y đối với các từ gốc Hán ( y tá, ý kiến, ý nghĩa, )
4 Quy tắc viết hoa hiện hành 4.1 Chức năng của chữ viết hoa (3 chức năng)