TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠIKHOA TIẾNG ANH ---o0o---BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: GIAO THOA VĂN HÓA Đề tài: Phân tích chiến lược 10 Nói công khai như thể người nói chịu ơn người nghe hoặc người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TIẾNG ANH
-o0o -BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: GIAO THOA VĂN HÓA
Đề tài:
Phân tích chiến lược 10 (Nói công khai như thể người nói chịu
ơn người nghe hoặc người nghe không phải chịu ơn người nói) và 11 (Tránh hỏi chuyện riêng tư) trong lịch sự âm tính
Giáo viên hướng dẫn: Cô Phan Tú Lan Lớp học phần: 21127ENTI1021
Thực hiện: Nhóm 14
Hà Nội, tháng 11-2021
Trang 2Mục lục
A Nhận thức chung: Giới thiệu về lịch sự âm tính 4
1 Lịch sự âm tính là gì? 4
2 Những biểu hiện của lịch sự âm tính: 5
2.1 Nói trực ngôn: 5
2.2 Không đoán định/ thừa nhận: 5
2.3 Không ép buộc người nghe: 6
2.4 Nêu ra nhu cầu của người nói là không muốn làm phiền người nghe: 7
2.5 Đền bù các nhu cầu khác của người nghe, phát sinh từ thể diện âm tín 7
B Nội dung chiến lược 10 và 11 7
I. Chiến lược 10: Nói công khai như thể người nói chịu ơn người nghe hoặc người nghe không phải chịu ơn người nói
1.Đặc điểm nói công khai như thể người nói chịu ơn người nghe
1.1 Mục đích
1.2 Ví dụ:
2.Đặc điểm nói công khai như thể người nghe không phải chịu ơn người nói
2.1 Mục đích của chiến lược nói công khai như thể người nghe không phải chịu ơn người nói
2.2 Ví dụ cụ thể
II CHIẾN LƯỢC 11: TRÁNH HỎI CHUYỆN RIÊNG TƯ
1.Đặc điểm của chiến lược tránh hỏi chuyện riêng tư
2.Mục đích của chiến lược
3.Ví dụ so sánh giữa Tiếng Việt và Tiếng Anh
3.1 Hỏi về tình trạng hôn nhân, mối quan hệ cá nhân:
3.2 Hỏi về lương
3.3 Hỏi về vấn đề ngoại hình hoặc vẻ bề ngoài:
3.4 Hỏi về những chuyện riêng tư và bí mật khác
C Kết luận
Trang 3ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM 14
Nguyễn Thị 67
Huyền Trang
68
Nguyễn Thiên
A Nhận thức chung: Giới thiệu về lịch sự âm tính
1 Lịch sự âm tính là gì?
Trang 4Theo Brown and Levinson, 1990: “Một hành động đền bù cho thể diện âm tính của người nghe: nhu cầu của anh ta rằng việc tự do hành động của mình không bị ngăn chặn và sự quan tâm của mình không bị cản trở”
Theo Yule, 1997: “Một hành động giữ gìn thể diện có liên quan đến lịch sự
âm tính của ta sẽ có xu hướng tỏ ra tôn trọng, nhấn mạnh vào tầm quan trọng
về thời gian và sự quan tâm của người khác, và thậm chí bao gồm cả sự xin lỗi vì đã áp đặt hoặc xen ngang”
Theo Bentahila & Davies, 1989: “Lịch sự âm tính có thể tóm lược một cách ngắn gọn là ‘chú tâm tới việc làm sao đừng áp đặt lên người khác hoặc hạn chế tự do của họ, nhưng có giữ khoảng cách”
Theo Nguyễn Quang, 2002: “Lịch sự âm tính là bất cứ hành động giao tiếp nào (ngôn từ và/ hoặc phi ngôn từ) được tạo lập một cách có chủ định và phù hợp nhằm tỏ ra rằng người nói không muốn xâm phạm vào vùng riêng tư của người nghe, và do vậy, duy trì khoảng cách giữa họ trong các chu cảnh tình huống và văn hóa cụ thể”
Mặc dù có rất nhiều quan điểm, nhận định và nhiều góc nhìn về lịch sự âm tính, nhưng quan điểm của thầy Nguyễn Quang (theo góc nhìn của người đọc) được coi là quan điểm đầy đủ nhất, dễ hiểu nhất về lịch sự âm tính
2 Những biểu hiện của lịch sự âm tính:
2.1 Nói trực ngôn:
Nói trực ngôn hay có thể hiểu là nói thẳng vào vấn đề một cách rõ ràng ngắn gọn hay thẳng thắn nói ra suy nghĩ của mình mà không hề dè dặt điều gì Lối nói trực ngôn thường xuyên xuất hiện trong văn hóa giao tiếp của các nước phương Tây nhưng lại rất hạn chế gặp ở trong văn hóa giao tiếp ở các nước Châu Á đặc biệt là các nước Đông Nam Á
Lối nói trực ngôn với những câu nói rõ ràng đi thẳng vào vấn đề khiến cho người nghe hiểu và nắm bắt được thông tin một cách nhanh chóng Nó cũng giúp nâng cao hiệu quả trong giao tiếp nhất là trong việc đàm phán, làm ăn
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, lối nói này dễ làm mất lòng người nghe, khiến người nghe cảm thấy khó chịu
Ví dụ:
Một sếp người nước ngoài nhận xét về bản báo cáo của nhân viên: “Your report is not good enough You have to remake this report.”
Trang 5Trong khi đó, ở các quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam, văn hóa giao tiếp của chúng ta phần lớn là sử dụng lối nói ý tứ như: “Tôi biết anh đã bỏ
nhiều công sức cho bản báo cáo này, tuy nhiên, tôi nghĩ anh có thể làm tốt hơn thế này Vì vậy, hãy cầm bản báo cáo này về làm lại đi”.
Qua ví dụ trên, ở trường hợp đầu tiên sử dụng lối nói trực ngôn, nhân viên
có thể dễ dàng nhận ra vấn đề là bản báo cáo của mình chưa tốt, cần làm lại bản báo cáo Tuy nhiên, việc sếp nói thẳng rằng “báo cáo làm chưa tốt”
khiến cho nhân viên cảm thấy buồn, chán nản và thường nảy sinh thái độ làm việc ép buộc Nhưng cũng là nhận xét về bản báo cáo, nhưng bên sếp người Việt nói rằng “tôi nghĩ anh có thể làm tốt hơn”, nhân viên có thể ngầm hiểu rằng họ làm chưa tốt, họ nhận ra điều đó với thái độ vui vẻ hơn
2.2 Không đoán định/ thừa nhận:
Việc sử dụng các dấu hiệu rào đón (Chân, Túc) giúp làm giảm độ chân xác của phát ngôn tức là giúp cho người nói ít phải chịu trách nhiệm về tính chân thực trong phát ngôn Các dấu hiệu này lưu ý người nghe rằng thông tin người nói đưa ra có thể không đầy đủ và chính xác như người nghe mong đợi Người nói không thừa nhận tính chính xác và đầy đủ của thông tin mệnh đề
Ví dụ:
“I’m not quite certain, but it seems to me that nothing has been done about
it so far.”
“Tôi không chắc lắm, nhưng theo tôi thì hình như là lâu nay người ta vẫn
chưa làm được gì để giải quyết vấn đề này.”
Ở trong trường hợp này, người nói rằng “vấn đề này chưa được giải quyết”
Dù điều này có đúng hay không cũng không ảnh hưởng đến người nói vì họ không chắc chắn, và họ không hề thừa nhận điều này là đúng
Việc sử dụng các dấu hiệu rào đón (Minh) dùng để dọn đường cho việc tường minh hóa các chủ định giao tiếp tức là để giúp kiểm tra người nghe đã hiểu rõ ý kiến, thông tin, hàm ý và chủ định của người nói hay chưa
Ví dụ:
“We won’t start until we are told to do so Got it?”
Trang 6“Chúng ta sẽ không làm gì cho đến khi được thông báo Các bạn hiểu chưa?”
2.3 Không ép buộc người nghe:
Các chiến lược được sử dụng trong lịch sự âm tính dùng để giảm thiểu mức
độ áp đặt của phát ngôn, tránh ép buộc người nghe phải trả lời những câu hỏi mang tính đe dọa thể diện
Ví dụ:
Thay vì sử dụng “Will you open the door, please?” chúng ta sử dụng
“Would you open the door, please?”.
Would /Could biểu thị mức độ lịch sự (âm tính) cao hơn bởi giúp người
nghe cảm thấy ít bị ép buộc hơn Dùng từ “would” ở đây tức là người nghe
có thể thực hiện hành động “mở cửa” hoặc không, người nghe có quyền lựa chọn từ chối thực hiện hành động này
2.4 Nêu ra nhu cầu của người nói là không muốn làm phiền người
nghe:
Làm phiền người khác là hành động đe dọa đến thể diện âm tính của người
đó Với chiến lược nhận lỗi trực tiếp và nhận lỗi gián tiếp của lịch sự âm tính
đã giúp người nói thể hiện rằng bản thân cảm thấy rất ngại vì đã làm phiền người khác
Ví dụ:
“Tôi biết anh chị rất bận, nhưng liệu tôi có thể hỏi anh chị về một số vấn đề trong hợp đồng này được không ạ?”
“I know this is a bore - but can I ask you some questions about this contrast?”
Bằng việc đề cập rằng “Tôi biết anh chị rất bận”, người nói thừa nhận họ ý thức được việc mình làm đã, đang và sẽ làm phiền người nghe, do đó gián tiếp xin lỗi người nghe
2.5 Đền bù các nhu cầu khác của người nghe, phát sinh từ thể diện
âm tín.
Việc sử dụng các chiến lược trong lịch sự âm tính đã giúp người nói đền bù được các nhu cầu khác của người nghe như tôn trọng người nghe, tránh “vỗ
Trang 7mặt” người nghe, nói công khai như thể người nói chịu ơn người nghe hay tránh hỏi chuyện riêng tư
Ví dụ: Thay vì nói “Anh kia, lại đây tôi bảo”, chúng ta nói “Này anh gì ơi, lại đây tôi bảo” Việc không chỉ đích danh người nghe khiến họ không cảm thấy bối rối hay ngại ngùng trước đám đông, từ đó bảo vệ thể diện của nghe
I Chiến lược 10: Nói công khai như thể người nói chịu ơn người nghe hoặc người nghe không phải chịu ơn người nói
1 Đặc điểm nói công khai như thể người nói chịu ơn người nghe
Đây là một trong những chiến lược quan trọng trong lịch sự âm tính, là cách thức giao tiếp hiệu quả đồng thời coi trọng danh dự, lợi ích của người khác
và thể hiện lối sống văn hóa của mỗi người
Chúng ta sử dụng chiến lược này khi đưa ra hành động đề nghị, nhờ vả, vay mượn… Trong trường hợp này, người nói có thể viện đến cách diễn đạt mang tính hàm ơn người nghe (hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp) nhằm tỏ ra biết
ơn người nghe, tỏ ra rằng người nói mắc nợ người nghe, tôn vinh người nghe và tỏ ra nhún nhường
Chiến lược này được biểu hiện dưới hai dạng:
Trực tiếp: Thể hiện cụ thể bằng lời nói, đi thẳng vào vấn đề
Gián tiếp: Dẫn dắt câu chuyện, kể ra hoàn cảnh bản thân đang gặp phải, ẩn ý mong nhận được sự giúp đỡ
1.1 Mục đích
Giúp cho người nói dễ dàng đạt được mục đích trong việc nhờ vả người nghe thông qua các yếu tố sau:
- Tỏ ra biết ơn người nghe
- Tỏ ra rằng người nói ‘ mắc nợ người nghe’
- Tôn vinh người nghe
- Tỏ ra nhún nhường
Để thể hiện được điều này chúng ta sẽ sử dụng một số khung phát ngôn thường xuất hiện trong chiến lược này:
Trang 8Tiếng việt:
- Anh /Chị làm ơn làm phúc…
- Dạ, nếu được anh/ chị … thì tốt (cho tôi) quá
- Dạ, nếu được anh/ chị … thì tôi không bao giờ dám quên ơn (anh/chị)
- Nếu được anh/chị … thì quí hóa quá
Việc sử dụng những khung phát ngôn này sẽ làm cho việc giao tiếp của chúng ta đạt được hiểu quả cao và phần nào thể hiện rằng chúng ta là người văn minh, lễ phép biết tôn trọng công sức và thời gian người khác đã dành ra để giúp mình
Tiếng Anh:
- I don’t know how much I can thank you enough for… (tôi không biết tôi có thể cảm ơn anh/chị thế nào cho đủ vì)
- I’d be eternally grateful (to you) if you would (tôi sẽ mãi mãi biết
ơn (anh/chị) nếu anh chị có thể )
- i’ll never be able to repay you if … (tôi sẽ không bao giờ có thể trả được ơn anh chị nếu…)
1.2 Ví dụ:
Khi chúng ta gặp một việc gì đó khó khăn trong một tình huống nào đó như
là hôm đấy chúng ta trễ hẹn deadline và ngày mai phải nộp cho nhóm trưởng chẳng hạn nhưng hôm đấy chúng ta bị ốm và chúng ta đang muốn một người bạn giúp đỡ chúng ta thì lúc đó sẽ nói “Nếu được cậu giúp, tôi sẽ vô cùng biết ơn cậu” như là một sự khẩn cầu người bạn đó vì đã giúp chúng ta và trong tiếng anh thì chúng ta sẽ có nói là “If you help me, I will immensely grateful” và đương nhiên sẽ có rất nhiều từ trong tiếng anh để bày tỏ lòng biết ơn như là thankful, appreciated,… dựa vào mỗi từ thì mức độ biểu thị của từ thì càng thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của chúng ta đối với người đã giúp chúng ta
Hoặc ở ví dụ thứ hai như là khi chúng ta đang đi trên đường mà có một người lớn tuổi cản đường chúng ta thì chúng ta có thể nói “Bác có thể làm
ơn nhường đường cho cháu được không ạ” trong trường hợp này thì tỏ ra sự
Trang 9nhún nhường của chúng ta với người được nghe để họ có thể tránh đường cho chúng ta đi mà ko gây ra bất kì một tranh cãi nào Và trong tiếng anh thì
là “Can you make way for me, please” làm cho người nghe cảm thấy thoải mái và sẵn sàng nhường đường cho chúng ta mà ko có bất kỳ sự khó chịu nào
Như vậy trong cả hai ví dụ trên khi chúng ta nhờ vả như thế với một cách chân thành khẩn thiết thì tâm lý chung của hầu hết là rất khó từ chối một phần là vì sự kính trọng
2 Đặc điểm nói công khai như thể người nghe không phải chịu
ơn người nói
Ở một khía cạnh khác khi đưa ra lời đề nghị để giúp người khác, chúng ta cũng hoàn toàn có thể sử dụng chiến lược này Nhưng ngược lại khác với diễn đạt trên, chúng ta phải sử dụng ngôn từ như thế nào để làm nổi bật được những lực ngữ dụng trên:
Khi đưa ra một đề nghị giúp đỡ người khác, cũng có thể viện đến chiến lược này
Và ngược lại với cách diễn đạt trên, người nói phải nói sao cho nổi bật được lực ngữ dụng
2.1 Mục đích của chiến lược nói công khai như thể người nghe
không phải chịu ơn người nói
Chiến lược nói công khai như thể người nghe không phải chịu ơn người nói được áp dụng vào các trường hợp cụ thể khác nhau để giúp người nói dễ dàng thoái mái đưa ra những lời đề nghị để giúp người khác thông qua các mục đích như:
- Tỏ ra rằng hành động giúp đỡ là dễ dàng, thoải mái đối với người nói
- Tỏ ra rằng người nghe không phải chịu ơn hay mắc nợ người nói
- Tỏ ra rằng người nghe không phải áy náy về việc sẽ làm phiền người nói
- Tỏ ra rằng người nghe không phải áy náy về việc sẽ làm phiền người nói
Trang 10Để việc diễn đạt đạt được mục đích người nói đưa ra một cách hiệu quả chúng ta có thể áp dụng một số khung phát ngôn thường dễ nhận biết trong chiến lược này như:
Đối với Tiếng Việt:
- Nếu anh/chị cần tôi giúp đỡ, cứ xin… đừng ngại gì
- Tôi rất sung sướng được
- … là trong tầm tay của tôi
- Tôi có thể Anh/Chị đừng ngại
- Chuyện…cứ để đấy tôi lo cho
Đối với Tiếng Anh:
- If you need any help, don’t hesitate to…
- I’m quite willing to …
- I would be quite willing to…
- I’m quite happy to…
Khi áp dụng những khung phát ngôn này sẽ khiến cho việc giao tiếp của các đối tượng chủ thể đạt được hiểu quả cao và phần nào thể hiện được thành ý của người nói muốn giúp đỡ Bên cạnh đó còn thể hiện tính văn minh, lịch
sự, tôn trọng, tạo thiện cảm, xây dựng các mối quan hệ và ấn tượng cho người nghe mà đối tượng chủ thể hướng tới
Đặc biệt nói về việc sử dụng mục đích chiến lược này trong giao tiếp giữa hai nền văn hóa khác nhau như Việt Nam và các nước Phương Tây có đôi chút sự khác biệt Điểm chung có thể chỉ ra khi so sánh hai nền văn hóa khác nhau là chiến lược này thường được sử dụng nhiều trong giao tiếp hàng ngày
đa dạng từ mọi tầng lớp khác nhau để thể hiện các mục đích chủ thể mong muốn Nhưng bên cạnh đó người dân Việt Nam thường có xu hướng sợ mất lòng người khác khi từ chối hoặc cảm thấy áy náy, mắc nợ khi nhận sự giúp
đỡ Do đó xu hướng sử dụng các chiến lược này được ưu ái hơn trong cả văn nói và văn viết thậm chí là giao tiếp hàng ngày để các mục đích được nêu ra
ở trên đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất
2.2 Ví dụ cụ thể
Trang 112.2.1 Tỏ ra rằng hành động giúp đỡ là dễ dàng, thoải mái đối với người nói
VD: Tình huống xảy ra ở đây người mẹ nhờ cậu con trai sửa giúp chiếc TV
bị hỏng Để ngỏ ý muốn giúp đỡ là thoái mái và đơn giản người con trai đã bảo với mẹ rằng:
“Mẹ cứ yên tâm, việc này là trong tầm tay của con”
“You don’t worry This is within my reach”
2.2.2 Tỏ ra rằng người nghe không phải chịu ơn hay mắc nợ người nói
VD: Tình huống thứ hai diễn ra tại một lớp học ghi lại cuộc trò chuyện của hai bạn cùng lớp là Hoa và Lan Hoa muốn làm hộ Lan trực nhật lớp ngày hôm nay để ngỏ ý tỏ rằng không muốn chịu ơn hay mắc nợ Lan khi đã giúp
đỡ Hoa giải mấy bài tập toán lần trước
“Lan này, hôm trước bà giúp tôi giải mấy bài tập toán nên việc trực nhật
hôm nay để tôi làm cho coi như huề nha!”
“Lan, You helped me solve some math problems last week, today's work
for me to do I guess this makes us even!”
2.2.3 Tỏ ra rằng người nghe không phải áy náy về việc sẽ làm phiền
người nói
VD: Tương tự như vậy tình huống ở đây giữa hai người đồng nghiệp làm cùng công ty là Trang và Minh Anh Vì Minh Anh có việc bận đột xuất nên muốn ngỏ ý nhờ người chị làm cùng là Trang trông hộ con gái một buổi tối
Trang hiểu được điều đó cũng như muốn Minh Anh không cảm thấy áy náy
và phiền với mình nên đã khéo léo trả lời rằng:
“Trang ơi, Tối mai chị có thể trông con gái giúp em được không?
Trang, Do you think you have time to baby sit for my daughter tomorrow evening?”
“Chuyện nhỏ, mai chị rảnh cả ngày nên cứ để chị lo!
Lightweight! I will be free tomorrow So, I’ll take care of that.”