1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN hệ GIỮA cơ sở hạ TẦNG, KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG và vận DỤNG PHÂN TÍCH QUAN hệ GIỮA KINH tế với CHÍNH TRỊ TRONG CÔNG CUỘC đổi mới ở nước TA

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 586,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

7 PHẦN II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VỚI KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC .... Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta trong bối cảnh chung của thế giới hiện nay

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề bài : QUAN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG, KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VỚI CHÍNH TRỊ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA

Sinh viên thực hiện : Trần Thị Hiền Trang

Mã sinh viên : 2014120156

Lớp : Anh 4 – TMQT – K59 Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Thị Tùng Lâm

Hà Nội, Tháng 6 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 4

PHẦN I: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG ……… ………5

1 Các khái niệm 5

1.1 Cơ sở hạ tầng 5

1.2 Kiến trúc thượng tầng 5

2 Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 6

2.1 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng 6

2.2 Sự tác động trở lại của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng 7

PHẦN II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VỚI KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC 8

1 Tình hình Việt Nam giai đoạn 1975 – 1986 8

2 Mâu thuẫn cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 10

3 Việt Nam giai đoạn sau 1986 11

PHẦN III: KẾT LUẬN 13

1 Những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới 13

2 Nhiệm vụ, trách nhiệm của sinh viên trong công cuộc đổi mới 13

PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

2

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một nước có xuất phát điểm thấp về kinh tế, lại chịu hậu quả nặng

nề của các cuộc chiến tranh lâu dài Trong tình cảnh này, dân ta phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: hoàn thành nhiệm vụ dân tộc và làm nghĩa vụ quốc tế Trải qua các thời kỳ khác nhau, tính đúng đắn của con đường cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân lựa chọn khẳng định ý nghĩa sống còn của sự nghiệp đổi mới và tiến tới một xã hội giàu đẹp, văn minh

Trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á và rộng hơn là vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam hiện ngày càng nhận được sự chú ý từ nhiều cá nhân trong giới lãnh đạo và giới kinh doanh trên thế giới Có được sự thu hút này là do nước ta đã và đang tiến hành đổi mới cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng một cách sâu sắc và toàn diện

Một xã hội được coi là phát triển chỉ khi nó có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng phát triển phù hợp và chặt chẽ với nhau Cơ sở hạ tầng là kết cấu kinh tế đa thành phần trong đó bao gồm thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể và nhiều thành phần kinh

tế khác nhau Tính đan xen về kết cấu của cơ sở kinh tế làm cho nền kinh tế trở nên vừa phong phú, vừa phức tạp trong quá trình thực hiện định hướng xã hội Kết cấu kinh tế này được phản chiếu trên nền kiến trúc thượng tầng, đòi hỏi khách quan rằng nền kiến trúc thượng tầng cũng phải đổi mới để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế Muốn cải tổ, cải cách đất nước theo hướng nào cũng đều phải bắt đầu từ điểm cơ bản này Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta trong bối cảnh chung của thế giới hiện nay là hết sức phức tạp, vì thế vận dụng tư tưởng Mác – Lênin, đặc biệt là việc ứng dụng quy luật phát triển và mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là cần thiết

Trang 4

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Để phù hợp với giai đoạn phát triển đầu tiên của lịch sử loài người, triết học đã ra đời như một khoa học tổng hợp các tri thức con người về hiện thực xung quanh và bản thân mình Triết học, với tính chất là khoa học, là hệ thống những quan điểm, quan niệm có tính chất chỉnh thể về thế giới, về các quá trình vật chất, tinh thần và mối quan

hệ giữa chúng, về nhận thức và cải biến thế giới Vì vậy, triết học nghiên cứu về các vấn đề: tự nhiên, xã hội và tư duy Trong đó, vấn đề xã hội mang tính hình thái kinh tế, phản ánh sự phát triển xã hội thông qua lực lượng sản xuất Để có cơ chế này, cần phải

có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một trong những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử và là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong nhận thức và cải tạo vật chất

Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở ra trang mới cho lịch sử kinh tế Việt Nam Đây là một bước ngoạt có ý nghĩa trọng đại bởi nó biến nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hóa tập trung, quan lieu bao cấp thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bước ngoạt này đánh dấu sự thay đổi, phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội Việt Nam Nhận được sự quan tâm ngày càng sâu sắc trên thế giới, Việt Nam ngày càng phải nỗ lực nâng cao, đổi mới cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, từ đó góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước

Trang 5

PHẦN I: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ

TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG

Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất tạo thành quan hệ hạt chất của xã hội Trên cơ sở quan hệ sản xuất, các quan hệ về chính trị và tinh thần của xã hội được hình thành Hai mặt này được khái quát thành cơ

sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Theo C.Mác: “ Toàn bộ những quan hệ sản xuất

ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”

1 Các khái niệm

1.1 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Cơ sở hạ tầng của một xã hội bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã tương lai Trong đó quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác,

nó quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội Nhưng điều đó không có nghĩa quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống

là không quan trọng mà cũng có vai trò nhất định

1.2 Kiến trúc thượng tầng

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ hệ thống kết cấu của các hình thái ý thức - xã hội cùng với những thiết chế chính trị - xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, v.v… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định

Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp Đó là cuộc đấu tranh về mặt chính trị - tư tưởng của các giai cấp đối kháng, trong đó đặc trưng là sự thống trị về mặt chính trị - tư tưởng của giai cấp thống trị

Trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng Nó tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị mới thực hiện được sự thống trị của mình về tất cả các mặt của đời sống xã hội

Trang 6

2 Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống

xã hội: phương diện kinh tế và phương diện chính trị - xã hội Chúng tồn tại trong mối liên hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng, đồng thời kiến trúc thượng tầng thường xuyên có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng

2.1 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng

Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng Tính chất của kiến trúc thượng tầng là do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định Cơ sở hạ tầng của một xã hội như thế nào, tính chất ra sao, giai cấp đại diện cho nó là gì thì hệ thống thiết chế chính trị pháp quyền, đạo đức, triết học, … và quan hệ của các thể chế tương ứng cũng như vậy Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào nào thống trị về kinh

tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội

Cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo Quá trình đó diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội

Sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn với sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng, nhưng lực lượng sản xuất không trực tiếp làm thay đổi kiến trúc thượng tầng Sự phát triển của lực lượng sản xuất trực tiếp làm thay đổi quan hệ sản xuất, hay làm thay đổi cơ sở hạ tầng và thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng

Khi cơ sở hạ tầng nào mất đi thì kiến trúc thượng tầng tương ứng mà nó sinh ra cũng mất theo Khi cơ sở hạ tầng mới xuất hiện thì nó lại sản sinh ra kiến trúc mới tương ứng, phù hợp với nó

Sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng diễn ra một cách phức tạp Trong đó, có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ

sở hạ tầng như chính trị, pháp luật,v.v… Trong kiến trúc thượng tầng có những yếu tố thay đổi chậm hoặc có những yếu tố vẫn được kế thừa trong xã hội mới

Ví dụ, cơ chế bao cấp tương ướng với nó là nhà nước xơ cứng, mệnh lệnh, quan liêu

Cơ chế thị trường tương ứng với nó là nhà nước năng động, hoạt động có hiệu quả

Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mọi hình thái kinh tế xã hội

Trang 7

2.2 Sự tác động trở lại của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng

Kiến trúc thượng tầng sinh ra nhờ cơ sở hạ tầng nhưng sau khi xuất hiện, nó có tính độc lập tương đối Vì thế, nó có thể tác động trở lại cơ sở hạ tầng

Tất cả những yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều tác động đến cơ sở hạ tầng Mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thức tác động khác nhau Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ tầng vì đó là bộ máy bạo lực tập trung của giai cấp thống trị về kinh tế Các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, … cũng đều tác động đến cơ sở hạ tầng, nhưng đều bị nhà nước, pháp luật chi phối

Chức năng xã hội cơ bản của kiến trúc thượng tầng là xây dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, tìm cách xóa bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ Nó giữ lại và kế thừa những cái cũ làm tiền đề cho cái mới

Ví dụ: Nhà nước tư sản hiện đại củng cố, bảo vệ, phát triển sở hữu tư nhân tư liệu

sản xuất Còn nhà nước vô sản thì bảo vệ, phát triển sở hữu xã hội (tập thể)

Trong các yếu tố của kiến trúc thượng tầng, Nhà nước là yếu tố cơ bản và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cơ sở hạ tầng Vai trò của nhà nước đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở ba chiều hướng: bằng công cụ pháp luật, bằng sức mạnh kinh tế và sức mạnh bạo lực của nhà nước Ba chiều hướng này có thể tác động, làm cho kinh tế phát triển theo chiều hướng tất yếu Nhà nước là yếu tố tác động trở lại mạnh mẽ nhất đối với cơ sở hạ tầng vì nó là công cụ bạo lực tập trung trong tay giai cấp thống trị Nó không chỉ thực hiện chức năng kinh tế bằng hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, nó còn có tác dụng trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng phải được thông qua thì mới có hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng

Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều: tích cực và tiêu cực Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó sẽ là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển; nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế và xã hội

Trang 8

PHẦN II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VỚI KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA

ĐẤT NƯỚC

Quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải vận dụng triệt để quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

1 Tình hình Việt Nam giai đoạn 1975 – 1986

Sau đại thắng mùa xuân 1975, Đảng và nhà nước đã định ra con đường xã hội chủ nghĩa cho quá trình xây dựng và phát triển toàn diện đất nước Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác cũng như nhiều nước bạn và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đã giúp đỡ và ủng hộ, cổ vũ nhân dân ta rất nhiều trong bước đầu của sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc

Tuy nhiên, dù nhận được sự hợp tác nhiều mặt, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều khó khăn do điểm xuất phát điểm kinh tế quá thấp, lại phải chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và tàn dư phong kiến Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến với nền kinh tế lạc hậu sản xuất nhỏ là chủ yếu, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Cơ sở hạ tầng thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thành phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, cùng các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất Đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Sản xuất tuy có tăng nhưng lại tăng rất chậm so với khả năng sẵn có và công sức

bỏ ra so với yêu cầu cần nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân sau chiến tranh, tích luỹ để công nghiệp hoá và củng cố quốc phòng an ninh Một số mục tiêu không đạt như sản xuất lương thực, vải…đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân và các hoạt động của đất nước

Hiệu quả sản xuất còn thấp, chưa áp dụng được thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì thế năng suất giảm, chất lượng không cao Tài nguyên thiên nhiên của đất nước chưa đuợc khai thác tốt lại không có chính sách bảo vệ hợp lý,… Các hiện tượng

Trang 9

tiêu cực trong xã hội tăng lên do kỷ cương, pháp luật chưa nghiêm làm cho một số cán

bộ viên chức lộng quyền, tham nhũng và làm ăn phi pháp gây thất thoát tài sản của nhà nước, ảnh hưởng đến tâm lý nhân dân Sau khi giành được độc lập năm 1975, đất nước đứng trước những khó khăn vô cùng lớn

- Nông nghiệp: Nền nông nghiệp lạc hậu với thiên tai mất mùa đã đẩy nhân dân vào cảnh đói kém Công cụ sản xuất lạc hậu, chủ yếu dựa vào thiên nhiên; hệ thống thuỷ lợi không đáp ứng được cho sản xuất, dẫn đến năng suất lao động thấp

- Công nghiệp: Chủ yếu là các ngành sản xuất phục vụ cho chiến tranh Những ngành công nghiệp phục vụ cho sự phát triển kinh tế đất nước là rất ít và còn phân tán lạc hậu

- Y tế, văn hóa, giáo dục: Sau chiến tranh, do kinh tế còn nhiều khó khăn, vấn

đề về sức khỏe cộng đồng chưa được quan tâm đúng mức; bệnh viện, dụng

cụ y tế còn nhiều thiếu thốn Thời kì này cũng là thời kì văn hóa, hiểu biết còn hạn hẹp với nhiều định kiến bảo thủ Tỉ lệ mù chữ cao, hệ thống trường học không nhiều Ngay cả các cán bộ số đông cũng mới chỉ học qua vỡ lòng

- Bộ máy chính trị:

+ Quá trình đào tạo cán bộ không được quan tâm đúng đắn dẫn đến đội ngũ cán bộ chính trị không đủ trình độ và năng lực quản lý và còn nhiều tư tưởng bảo thủ

+ Rập khuôn theo mô hình phát triển của Liên Xô

+ Thành lập nên mô hình kinh tế hợp tác xã rộng lớn, cùng làm cùng hưởng, toàn bộ ruộng đất đều đưa vào hợp tác xã

+ Xóa bỏ kinh tế nhiều thành phần, xóa bỏ tư hữu, xây dựng nền kinh tế quốc hữu hóa hoàn toàn

+ Xem nhẹ các ngành công nghiệp nhẹ, các ngành thủ công truyền thống

+ Tập trung 40% vốn đầu tư xây dựng các ngành thủ công nghiệp nặng

+ Thực hiện nền kinh tế khép kín, chỉ giới hạn quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa

Trang 10

-Sau những đường lối xây dựng đó, nước ta nhận lại những hậu quả nghiêm trọng:

- Việc nhanh chóng xoá bỏ nền kinh tế tư nhân, nhiều thành phần, quốc hữu hoá 100% đã dìm chết sức cạnh tranh của nền kinh tế, làm cho các ngành kinh tế đặc biệt là các ngành sản xuất hàng hoá tiêu dùng không phát triển được, các sản phẩm tiêu dùng trở nên khan hiếm

- Việc tập trung quá nhiều vốn vào các ngành công nghiệp nặng, xem nhẹ các ngành công nghiệp nhẹ đã dẫn đến quá trình thu hồi vốn chậm khi mà những ngành công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp vốn là thế mạnh của đất nước Chu kỳ quay vòng vốn nhanh thì không được quan tâm đúng mức, không tạo

ra hàng hoá tiêu dùng cho nhân dân

- Nền kinh tế khép kín khiến cho môi trường phát triển bị bó hẹp Những nhà máy xí nghiệp do các nước XHCN xây dựng cho không thể duy trì hoạt động, sản phẩm làm ra cũng không phù hợp nhu cầu

1 Mâu thuẫn cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng ở nước ta trong thời kỳ quá độ gồm các thành phần kinh tế gắn liền với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí độc lập cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN Các thành phần kinh tế có sự thống nhất ở mức độ về lợi ích, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất về bản chất kinh tế xã hội do chưa có bước đi, kế hoạch điều chỉnh hợp lý từ các cấp lãnh đạo Sự không đồng nhất này đã tạo nên sự trì trệ, chậm chạp của kinh tế tập thể, kinh tế quốc doanh chưa được củng cố và phát triển vững mạnh, thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán chưa được mở rộng, ít tiến bộ về tổ chức và phương thức kinh doanh để làm chủ thị trường Do kiến trúc thượng tầng hình thành trên cơ sở hạ tầng và phản ánh sơ sở hạ tầng cho nên định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì hoạt động nhà nước không chỉ bó hẹp trong kinh tế quốc doanh đã công hữu hoá mà còn phải bao quát, thừa nhận

sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác ngoài kinh doanh Chính vì vậy, sự bất hợp

lý trong công tác tổ chức quản lý kinh tế đã phần nào tạo sự kém phát triển

Ngoài ra, từ một nền kinh tế phổ biến sản xuất nhỏ, công nghiệp và dịch vụ còn kém phát triển, nước ta đã quá độ đi lên CNXH mà không qua giai đoạn TBCN đương

Ngày đăng: 10/10/2022, 04:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w