Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh chống đế quốc 1954 - 1975 Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Đại hội II
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-*** -
ĐỀ TÀI
QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ
NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM – HOA KỲ
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 1 - Wabi Môn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã lớp: 180 Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại Giảng viên: Tô Ngọc Hằng
Nhóm trưởng: Ngô Đức Phương – MSSV: 2011115474
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2022
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM STT Họ và tên MSSV Đánh giá mức độ tham gia Ghi chú
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ TRƯỚC NĂM 1975 2
2 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kì giai đoạn 1954 - 1975 2 2.1 Mỹ thay chân Pháp sau hiệp định Giơnevơ 1954 2 2.2 Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính
2.3 Chiến đấu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến
CHƯƠNG II: QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1975 - 1995 6
1.2 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh chống đế quốc
2 Việt Nam sau giai đoạn chiến tranh 1975 – 1995 và quan hệ ngoại giao với các
CHƯƠNG III: QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ
NGOẠI GIAO VIỆT NAM – HOA KỲ (GIAI ĐOẠN 1995 – NAY) 14
Trang 41.1 Giai đoạn 1995 - 2010 14
2 Thành tựu nổi bật trong mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 18
3 Vị trí Việt Nam trên trường thế giới sau khi bình thường hóa quan hệ Việt Nam –
1 Tác dụng và ý nghĩa của đường lối của Đảng trong việc bình thường hóa quan hệ
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Đã hơn một phần tư thế kỷ trôi qua kể từ khi Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton
và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt chính thức tuyên bố bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (12/7/1995) Việt Nam chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, cùng Hoa Kỳ xây dựng quan hệ hợp tác trên nguyên tắc hợp tác cùng có lợi, bình đẳng, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau Với nỗ lực không biết mệt mỏi của hai Nhà nước, đặc biệt là người dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trên tất cả các lĩnh vực và cấp độ, thể hiện đúng tinh thần quan hệ Đối tác toàn diện
Trong bài tiểu luận này, chúng tôi phân tích và đưa ra những đánh giá về quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Hoa Kỳ Từ đó, chúng tôi
- những người chủ tương lai của đất nước rút ra và phát huy những bài học kinh nghiệm về đường lối ngoại giao của Đảng và Nhà nước, góp phần tạo lập và giữ vững nền hòa bình, ổn định, cũng như hội nhập quốc tế trong những giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước
Trang 6CHƯƠNG I: QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ TRƯỚC NĂM 1975
1 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ năm 1945
Vào những năm 1944 – 1945, những năm cuối của chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ đã là đồng minh duy nhất chống phát xít Nhật tại Việt Nam Ngày 7/12/1941, phát xít Nhật tấn công Trân Châu Cảng, sự kiện đã buộc Mỹ chính thức tham gia đồng minh chống Nhật trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai Cùng lúc đó tại Việt Nam, mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh thành lập tháng 5/1941 đã xác định trực tuyến của mình là nằm trong đội ngũ đồng minh chống phát xít và giành độc lập cho dân tộc Việt Nam
Tại khu căn cứ địa Việt Bắc, du kích Việt Minh đã nhiều lần giải cứu các phi công Mỹ nhảy dù xuống Việt Nam khi máy bay của họ bị Nhật bắn rơi, bảo vệ và đưa
họ sang Trung Quốc an toàn Trong số đó, có phi công William Shaw bị bắn hạ ở Cao Bằng cuối năm 1944 đã được đích thân Hồ Chí Minh hộ tống qua Trung Quốc bàn giao cho Bộ Tư lệnh Mỹ ở Côn Minh Nhân chuyến đi này, nhà lãnh đạo Việt Minh
đã liên lạc với các sĩ quan OSS (Cơ quan Tình báo Chiến lược) và OWI (Phòng Thông tin Chiến tranh), đề nghị họ công nhận Việt Minh để thiết lập quan hệ hợp tác chính thức chống Nhật
Tại cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh và tướng Claire Chennault, hai bên đã thỏa thuận về sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau Việt Minh sẽ lập trạm cứu trợ phi công Mỹ ở Bắc Kỳ, cung cấp tin tức về tình hình quân đội Nhật ở Đông Dương; còn phía Mỹ sẽ giúp phương tiện cần thiết bao gồm vũ khí và huấn luyện quân sự cho Việt Minh Từ
đó, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Minh với các lực lượng quân Mỹ có trách nhiệm
ở Đông Dương đã được thiết lập
Tuy nhiên, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, mối quan hệ đồng minh giữa Việt Nam - Mỹ trở nên mờ nhạt Sự im lặng của Mỹ trước những bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc công nhận nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam đã gián tiếp tạo nên mối quan hệ thù địch sau này
2 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kì giai đoạn 1954 - 1975
2.1 Mỹ thay chân Pháp sau hiệp định Giơnevơ 1954
Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) năm 1954, khôi phục hòa bình Đông Dương, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt Nam,
Trang 7Lào và Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương Với việc ký kết và thực hiện Hiệp định Giơnevơ, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành
hai miền, với hai chế độ chính trị khác nhau Đây là cột mốc bắt đầu cho khoảng thời gian mà mối quan hệ Việt Nam - Mỹ trở thành mối quan hệ thù địch
2.2 Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965)
2.2.1 Miền Nam đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn
– Những năm 1957 – 1959, Mỹ và tay sai tăng cường dùng bạo lực khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng Sự đàn áp của kẻ thù làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với đế quốc Mỹ và tay sai càng phát triển gay gắt
– Phong trào Đồng Khởi diễn ra và giành được thắng lợi, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960)
– Chấm dứt thời kỳ ổn định tạm thời của chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, mở ra thời kì khủng hoảng của chế độ Sài Gòn
– Chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961- 1965)
2.2.2 Miền Nam đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn Miền Nam ra sức đấu tranh chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, đã đẩy lùi nhiều cuộc tiến công, tiêu diệt nhiều đồn bốt lẻ của địch
– Do thất bại, nội bộ Mỹ và tay sai lục đục, dẫn tới cuộc đảo chính
– Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược thứ hai của quân dân miền Nam, đồng thời là thất bại có ý nghĩa chiến lược lần thứ hai của Mỹ
2.3 Chiến đấu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”
– Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ phải chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”
– Thực chất là tiếp tục thực hiện âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt”,
để giảm xương máu người Mỹ trên chiến trường
– Chiến đấu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” là chống lại cuộc chiến tranh toàn diện được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông Dương Ta vừa chiến đấu trên chiến trường vừa đấu tranh trên bàn đàm phán với địch và giành được thắng lợi
Trang 82.4 Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Ngày 30/4/1975, đại thắng mùa xuân đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh trí tuệ và tài thao lược của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, cũng như chứng minh tinh thần quật khởi của người dân Việt Nam trong đấu tranh chống ngoại xâm Thắng lợi này đã đi vào lịch sử nước
ta và của thế giới, như một trang sử chói lọi ở những năm 70 của thế kỷ XX, mang tầm quốc tế, tầm thời đại sâu sắc
3 Kết luận
Niềm tin ban đầu giữa Việt Minh và quân đội Mỹ đã được lãnh tụ Hồ Chí Minh gây dựng Đề nghị quân đội Mỹ giúp đỡ vũ khí, huấn luyện quân sự của Việt Minh để chống phát xít Nhật đã được hai bên thỏa thuận Đáng tiếc là cục diện thế giới thay đổi quá nhiều sau Thế chiến II nên kế hoạch hợp tác này bị bỏ lỡ
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư và điện cho Tổng thống Mỹ Harry Truman đề nghị Mỹ ủng hộ đối với nền độc lập non trẻ của Việt Nam nhưng phía Mỹ đã không hồi đáp Niềm tin ban đầu với Mỹ đã mất
Trong những năm 60, căng thẳng trong quan hệ Việt - Mỹ bị đẩy lên đỉnh điểm
do những đối đầu về ý thức hệ Ngày 8/3/1965, Mỹ đưa quân đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng, chính thức bắt đầu quá trình can thiệp quân sự công khai ở Việt Nam Niềm tin vỡ vụn, hai nước trở thành đối đầu
4 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh chống đế quốc
1954 - 1975
Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Đại hội III (1960) của Đảng đề ra nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và tiến hành cuộc kháng chiến tranh bạo lực chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam)
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy những tác động tiêu cực từ sự khủng hoảng của các đảng và các nước chủ nghĩa xã hội trên thế giới, nên đã chủ động phòng ngừa sự chống phá của các thế lực thù địch; cảnh giác, không sa vào các cuộc “cách mạng màu” mà nhiều đảng, nhiều nước đã rơi vào dẫn đến kết cục thất bại, để mất quyền lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam tích cực tìm đường đổi mới, dựa chắc trên
Trang 9cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 (khóa III) xác định: “Chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn”
Đảng ta đã kiên định và vận dụng sáng tạo quan điểm về con đường cách mạng miền Nam phải là con đường cách mạng bạo lực, với hai lực lượng cơ bản: Lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, thực hiện đánh địch trên mọi quy mô: Đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ của lực lượng vũ trang ba thứ quân; thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ
Đảng đã thiết kế con đường đúng đắn, đó là cùng một lúc giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục tiêu chung và bao trùm là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc Bên cạnh đó, Đảng có đường lối quốc tế đúng đắn, luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản cao cả; luôn coi cuộc chiến đấu chống
Mỹ vừa là nhiệm vụ dân tộc thiêng liêng, vừa là nghĩa vụ quốc tế cao cả; mọi hoạt động chống Mỹ, cứu nước đều nhằm phục vụ lợi ích cả cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới nên đã tranh thủ được sự giúp đỡ rộng lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới
Trang 10CHƯƠNG II: QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1975 - 1995
1 Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
1.1 Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ qua các giai đoạn
Giai đoạn 1975 - 1977
Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ vẫn chưa có bước tiến triển đáng kể Mặc dù đã rút khỏi Việt Nam, chính quyền Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách thù địch:
– Hoa Kỳ đóng cửa Đại sứ quán tại Sài Gòn và di tản toàn bộ nhân viên Đại sứ quán vào ngày 29/4/1975, ngay trước khi quân đội Bắc Việt đầu hàng miền Nam Việt Nam
– Ngày 30/4/1975, chính quyền Hoa Kỳ đã phong tỏa toàn bộ tài sản Việt Nam – Ngày 15/5/1975 Hoa Kỳ tuyên bố cấm vận thương mại đồng thời phủ quyết
việc Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc
Giai đoạn 1977 – 1978
Khi Tổng thống Carter lên nắm quyền thì Mối quan hệ hai nước được cải thiện một phần Chính quyền Hoa Kỳ tuyên bố không công nhận bất cứ một chính phủ lưu vong nào tại Việt Nam, nhiều lần gửi thông điệp cho chính phủ Việt Nam nói Hoa
Kỳ không thù địch với Việt Nam, tỏ ý sẵn sàng nói chuyện với Việt Nam về quan hệ hai nước, không phản đối Việt Nam gia nhập tổ chức y tế và khí tượng thế giới, cấp thị thực cho các đoàn Việt Nam dự họp ở Liên Hợp Quốc và Quỹ tiền tệ quốc tế ở Hoa Kỳ
Trong giai đoạn này, hai bên đã chấp nhận và tiến hành đàm phán về vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước Có thể thấy cơ hội bình thường hóa quan hệ đã xuất hiện ngay từ những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân cả từ hai phía, quan hệ giữa hai nước vẫn chưa thể bình thường hóa
Trang 11Do thiếu những thông tin và hiểu biết chính trị nội bộ Hoa Kỳ, chính vì thế mà chúng ta không đánh giá hết ảnh hưởng của Quốc hội Mỹ đối với chính sách đối ngoại của Nhà nước vào thời điểm nhạy cảm ở Mỹ nên không điều chỉnh kịp thời lập trường đàm phán để nắm bắt cơ hội ngắn ngủi và mong manh đó, tiến tới bình thường hóa quan hệ với Mỹ, củng cố thế đứng của Việt Nam trong hòa bình để tập trung phát triển đất nước sau bao năm chiến tranh và san bằng khoảng cách với các nước trong khu vực
Năm 1978
Vào lúc này diễn ra một sự kiện làm ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là việc Việt Nam đưa quân đội vào Campuchia phối hợp với quân cách mạng để lật đổ chế độ độc tài Pôn Pốt Sau đó, Việt Nam rút quân ra khỏi lãnh thổ Campuchia là một trong những điều kiện tiên quyết để Hoa Kỳ nối lại việc đàm phán đi đến bình thường hóa quan hệ giữa hai nước
Năm 1989
Việt Nam rút toàn bộ lực lượng tình nguyện của mình ra khỏi Campuchia sau khi giúp nước bạn ổn định tình hình đất nước sau thảm họa Động thái này đã được Hoa Kỳ nhìn nhận, ngày 18 tháng 7 năm 1990, Tổng thống Bush đã liên lạc với Hà Nội để tìm kiếm liên minh quốc tế trong nỗ lực đạt đến một Hiệp định hòa bình ở Campuchia
Một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cần phải
đề cập đến là vào thời điểm này là sự sụp đổ của khối xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông u, đánh dấu sự kết thúc của cuộc Chiến tranh lạnh kéo dài hơn 4 thập kỷ Đây
là bước ngoặt lớn làm thay đổi chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ Những thay đổi nhanh chóng của thế giới trong những năm cuối của thế kỷ XX, với xu hướng toàn cầu và hội nhập, chính phủ Hoa Kỳ nhận thấy những chính sách cấm vận và cô lập của mình đối với Việt Nam cũng như các nước khác ngày càng trở nên bất lợi đối với lợi ích chiến lược của mình
Năm 1991
Tháng 4 – Chính quyền của Tổng thống George Bush đề xuất với Chính phủ Việt Nam “lộ trình” từng bước bình thường hóa quan hệ
Trang 12Tháng 7 – Văn phòng MIA của Hoa Kỳ chính thức đi vào hoạt động tại Hà Nội Đây là cơ quan chính thức đầu tiên của Chính phủ Hoa Kỳ hoạt động thường trú
tại Việt Nam từ năm 1975
Tháng 12 – Quốc hội Hoa Kỳ ủy quyền cho Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ (USIA) bắt đầu trao đổi các chương trình với Việt Nam
Giai đoạn 1992 – 1993
Cho dù tại Hoa Kỳ, vẫn có một số ít người còn mang tư tưởng thù hận, bảo thủ chống lại Việt Nam, kêu gọi kéo dài cấm vận và trừng phạt đối với Việt Nam, nhưng với những gì mà Việt Nam thể hiện, nhiều người Mỹ nhận thấy cấm vận đã trở nên bất lợi cho chính Hoa Kỳ và cấm vận mãi đối với một nước nhỏ không bao giờ xâm lấn tới quyền lợi của Hoa Kỳ là một lối hành xử không đẹp Họ đã lên tiếng kêu gọi bãi bỏ trừng phạt và cấm vận cũng như cải thiện mối quan hệ với Việt Nam
Sau chiến tranh, mặc dù nước ta dành được thắng lợi nhưng Đảng không hề
có những động thái hay kế hoạch thù địch gì mà ngược lại còn sớm chủ động bày tỏ
ý chí muốn hòa giải với Hoa Kỳ ( 3/7/1975 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố Việt Nam mong muốn bình thường hóa quan hệ với Mỹ) Đường lối này là sự kế thừa truyền thống hàng nghìn năm đấu tranh quân sự và ngoại giao bảo vệ Tổ Quốc Đây
là nền ngoại giao linh hoạt dựa trên hoàn cảnh thực tế của từng thời kỳ, đề cao lợi ích của dân tộc Bởi vì việc duy trì thái độ thù hận trong chiến tranh với Mỹ sẽ chỉ làm cho nước ta thêm khó khăn Mặc dù Mỹ thất bại trong cuộc chiến với Việt Nam nhưng
ta không thể phủ nhận đây là một siêu cường, có ảnh hưởng lớn trong quan hệ quốc
tế
1.2.2 Kinh tế
Mặc dù sau chiến tranh, bước đầu Mỹ cay cú và có những chính sách đối đầu với nước ta như là cấm vận, gây cản trở nước ta tham gia các tổ chức kinh tế thế
Trang 13những Đảng ta vẫn giữ vững tinh thần hòa giải - tháng 8/1988, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã thông qua Nghị quyết 13, nhấn mạnh chủ trương
“thêm bạn, bớt thù”, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, “kiên quyết và chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu hiện nay sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình” Mở rộng hợp tác và gia nhập các tổ chức kinh tế ASEAN, EU, Trong thời kỳ này, nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.3 Xã hội
Đảng và Chính phủ chủ trương nhanh chóng xóa nạn mù chữ và đẩy mạnh bổ túc văn hóa, xem đó là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu Đầu năm 1978, tất cả các tỉnh và thành phố miền Nam đã căn bản xoá nạn mù chữ Hơn thế nữa, hệ thống y tế được
mở rộng, xây mới và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao sức khỏe của nhân dân
1.2.4 Kết luận
Việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ tuy đến muộn sau nhiều cơ hội bị bỏ lỡ, nhưng nếu xét đến tình hình khách quan của Việt Nam thì đây là thời điểm thuận lợi cho Việt Nam nối lại quan hệ với Hoa Kỳ Bình thường hóa mối quan
hệ vào 7/1995 là một bước ngoặt chính trị quan trọng đối với cả hai nước vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đạt được quan hệ bình thường và cơ bản hòa bình với tất cả các cường quốc trên thế giới, còn Hoa Kỳ chính thức chuyển từ chỗ coi Việt Nam là kẻ thù sang thành đối tác
Khi đi đến quyết định bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, phía Hoa Kỳ coi việc giải quyết vấn đề người Mỹ mất tích là ưu tiên hàng đầu; còn về phía Việt Nam, chúng ta xác định quan hệ kinh tế – thương mại là nội dung cơ bản của mối quan hệ mới Nhưng trong thực tế, để đi đến bình thường hóa, Việt Nam và Hoa Kỳ
đã hợp tác trong việc giải quyết nhiều vấn đề về hậu quả chiến tranh, hòa giải mâu thuẫn, xúc tiến thương mại… để đi đến những sự đồng thuận nhất định cho việc nối lại quan hệ ngoại giao Từ những nỗ lực này, đã mở ra một thời kỳ mới trong các
Trang 14quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam, thời kỳ xây dựng và phát triển các mối quan hệ hợp tác nhiều mặt và cùng có lợi giữa hai nước
Tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã để lại nhiều bài học quý giá Đó là bài học về tinh thần hòa giải, bỏ qua những hiềm khích trong quá khứ để hướng về tương lai vì một đất nước Việt Nam phát triển giàu mạnh; bài học về đường lối ngoại giao mềm dẻo “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra: linh hoạt trong xử lý tình huống để nắm bắt, tranh thủ mọi cơ hội có được nhằm củng cố và phát triển các mối quan hệ ngoại giao Những bài học này sẽ là hành trang tốt để Việt Nam bước vào một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: thời kỳ sau bình thường hóa
2 Việt Nam sau giai đoạn chiến tranh 1975 – 1995 và quan hệ ngoại giao với các nước
Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9/1975) đề ra nhiệm
vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
2.1.1.2 Về chính trị - xã hội
Thực hiện hai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) và Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985), nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: Khắc phục từng bước những hậu quả nặng nề của chiến tranh; Khôi phục phần lớn những cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá
Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống dưới Thương nghiệp quốc doanh phát triển nhanh chóng, hợp tác xã tuy ở thời kỳ đầu xây dựng, nhưng đã có những bước vươn lên chiếm lĩnh thị trường Kinh tế tăng trưởng chậm làm mất cân đối cung – cầu
Trang 15(thiếu hụt nguồn cung) Chính phủ chủ trương nhanh chóng xóa nạn mù chữ và đẩy mạnh bổ túc văn hóa, xem đó là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu Đầu năm 1978, tất cả các tỉnh và thành phố miền Nam đã căn bản xoá nạn mù chữ Hệ thống y tế được mở rộng, xây mới và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
2.1.2 Thời kỳ 1986 - 1995: Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế
2.1.2.1 Đường lối đổi mới
Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra từ Đại hội VI (12/1986), được bổ sung
và phát triển qua các Đại hội tiếp theo (Đại hội VII (6 /1991) Mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “xây lại dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”
Nhà nước bắt đầu có một số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế Trong thời kỳ này, nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa
Tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng – an ninh được tăng cường Bước đầu thực hiện dân chủ hoá và công khai hoá các hoạt động xã hội
Đã giải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội như lao động và việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển sự nghiệp văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, thể dục thể thao… Tỉ lệ đói nghèo trên cả nước 1995 là 20%
2.2 Quan hệ ngoại giao với các nước
2.2.1 Từ năm 1975 – 1986
Đây là thời kỳ ngoại giao phục vụ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc Những năm đầu sau chiến tranh, Việt Nam đã thiết lập quan
Trang 16hệ ngoại giao với hàng chục nước, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa, tranh thủ được
sự giúp đỡ về vật chất của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc (9/1977), tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế (6/1978), ký Hiệp ước hữu nghị và Hợp tác với Liên
Xô (11/1978)
2.2.2 Từ năm 1986 – 1995
Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc (1977), Phong trào Không liên kết (1976), Tổ chức Pháp ngữ (1986), ASEAN (1995)
2.2.3 Những khó khăn về ngoại giao của nước ta giai đoạn 1975 – 1995
Đảng và Nhà nước ta chú trọng đến quan hệ song phương với các nước, đi sâu vào lợi ích thực chất và hiệu quả hơn thể hiện qua việc tích cực thúc đẩy những cuộc đàm phán và nhiều hiệp định phát triển trên nhiều mặt Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, hạn chế:
– Môi trường quốc tế luôn diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường gây nhiều khó khăn cho mối quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước
– Trong giai đoạn 1975 - 1986, chính sách đối ngoại của Việt Nam chưa thực sự phù hợp và theo sát với thực tế của thời đại, việc giúp đỡ Campuchia đã ảnh hưởng đến mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc, Mỹ và các nước ASEAN
– Chính sách hợp tác với các nước lớn còn chịu nhiều động và còn ở quan hệ cơ bản, đi vào chiều sâu còn gặp nhiều khó khăn Chưa khai thác và phát huy hiệu quả quan hệ lợi ích đan xen, ổn định, bền vững với các nước lớn và đối tác quan trọng
– Việc xử lý mối quan hệ đối tác, đối tượng rất khó khăn vì liên quan đến quan
hệ quốc tế, lợi ích tổng thể quốc gia - dân tộc
2.2.4 Những khó khăn về kinh tế của nước ta giai đoạn 1975 – 1995
Kinh tế Việt Nam (1975 - 1985) là giai đoạn chúng ta đã phạm phải một số sai lầm cơ bản Lúc đó, chúng ta đặt rất nhiều kỳ vọng vào phát triển kinh tế nhờ sức mạnh bổ sung vào những ưu thế hiện có và sẵn có của đất nước về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế của hai miền Nam - Bắc Bên cạnh đó, nền kinh tế nhiều thành phần