Nguyên nhân dẫn đến thông tin bất cân xứng trong quá trình hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại.. Nếu như các hoạt động của các tổ chức rõ ràng hơn, công khai nhiều tin tức hơ
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN HỌC NGUYÊN LÍ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Sinh viên thực hiện: 16 - Nguyễn Lê Kim Ngân
21 - Trần Thị Mỹ Ngân
24 - Nguyễn Thị Hồng Ngọc
26 - Trần Thị Hải Nguyên
35 - Lê Lan Phương
Mã LHP: 22C1PUF50402904
Phòng học: N2-207
Khoa: Tài chính công
ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VẬN DỤNG TRONG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 2
B LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG 2
1 Một số khái niệm cơ bản về thông tin bất cân xứng 2
1.1 Giới thiệu sơ lược về lý thuyết thông tin bất cân xứng 2
1.2 Khái niệm thông tin bất cân đối xứng 3
2 Nguyên nhân xảy ra thông tin bất cân xứng 3
3 Các đặc điểm nhận biết thông tin bất cân xứng 3
4 Một số ví dụ về thông tin bất cân xứng: 4
5 Hệ quả của thị trường bất cân xứng 5
5.1 Lựa chọn đối nghịch (lựa chọn bất lợi) (adverse selection–AS) 6
5.2 Rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) (moral hazard – MH) 6
5.3 Vấn đề người ủy quyền – người thừa hành (principal – agent – PA) 7 6 Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng 7
C VẬN DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH (CỤ THỂ LÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI) 8
1 Tín dụng trong ngân hàng thương mại 8
1.1 Khái niệm 8
1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng 8
1.3 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng 9
2 Hiện trạng thông tin bất cân xứng trong nghiệp vụ tín dụng ngân hàng thương mại 9
3 Nguyên nhân dẫn đến thông tin bất cân xứng trong quá trình hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại 11
4 Hậu quả thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng NHTM 12
5 Giải pháp hạn chế thị trường bất cân xứng trong hoạt động cho vay của NHTM 13
D KẾT LUẬN: 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, thị trường tài chính cũng không nằm ngoài xu thế đó Nhưng trong quá trình phát triển, những cuộc khủng hoảng tài chính luôn là vấn đề bất cập trong mỗi quốc gia Các nhà phân tích cho rằng, đa phần các cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra đều có thể tránh được nếu có sự minh bạch và tính công khai Nếu như các hoạt động của các tổ chức rõ ràng hơn, công khai nhiều tin tức hơn, hay nói cách khác là có sự cân xứng về thông tin giữa các bên trong mọi cuộc giao dịch thì mức độ rủi ro sẽ được hạn chế và giải quyết kịp
thời hơn
Vấn đề này ảnh hưởng không những lâu dài mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường tài chính Làm thế nào để hạn chế thông tin bất cân xứng, làm cách nào để nâng cao chất lượng công bố thông tin, đảm bảo cho thị trường tài chính vận hành công bằng, hiệu quả, công khai, minh bạch được đặt ra rất cấp thiết
B LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
1 Một số khái niệm cơ bản về thông tin bất cân xứng
1.1 Giới thiệu sơ lược về lý thuyết thông tin bất cân xứng
Ra đời khi lý thuyết kinh tế học tân cổ điển đã thất bại trong việc giải thích một cách hiệu quả tại sao các thể chế thị trường xuất hiện Lý thuyết kinh tế học tân
cổ điển về thị trường giả định người bán và người mua có thông tin hoàn hảo về đối tác bên kia của giao dịch, chất lượng, đặc điểm hàng hóa hay dịch vụ trao đổi,
và cấu trúc thị trường Giả định trên là hoàn toàn hợp lý nếu như ta dễ dàng có được các thông tin Tuy nhiên, trên thực tế không phải như vậy do tình trạng thông tin bất cân xứng
Cơ sở cho lý thuyết thông tin bất cân xứng này được đưa ra lần đầu tiên vào những năm 1970 bởi một nhóm ba nhà khoa học gồm George Akerlof, Michael
Trang 4Spence và Joseph Stiglitz Đến năm 2001 thì lý thuyết này đã khẳng định được
vị trí trong nền kinh tế học hiện đại khi các nhà nghiên cứu nói trên cũng vinh dự được trao giải thưởng Nobel kinh tế cho công trình nghiên cứu “phân tích các thị trường với tình trạng thông tin bất cân xứng”
1.2 Khái niệm thông tin bất cân đối xứng
Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch, một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với (các) bên còn lại Nói cách khác, thông tin bất cân xứng là trạng thái không có sự cân bằng trong việc nắm giữ thông tin giữa các bên tham gia giao dịch Khi đó, giá cả không phải là giá cân bằng của thị trường
mà có thể thấp hơn hoặc cao hơn dẫn tới thị trường không đạt hiệu quả
Tình trạng thông tin bất cân xứng phổ biến ở nhiều lĩnh vực khác nhau: tín dụng, ngân hàng, thị trường chứng khoán, lao động, nhà đất, bảo hiểm, hàng hóa…; trong lĩnh vực đầu tư, thể thao…
2 Nguyên nhân xảy ra thông tin bất cân xứng
- Theo Joseph Stiglitz, có hai nguyên nhân gây ra thông tin bất cân xứng:
• Trước tiên là do những chủ thể kinh tế khác nhau quan tâm tới những đối tượng khác nhau và lượng thông tin của họ về cùng một đối tượng là khác nhau Thường thì các chủ thể kinh tế hiểu rõ mình hơn người khác Mức độ chênh lệch về thông tin tùy thuộc vào cơ cấu, đặc trưng của thị trường
• Thứ hai là do chủ thể kinh tế khi tham gia giao dịch có thể cố tình che giấu thông tin để đạt được lợi thế trong đàm phán, giao dịch
3 Các đặc điểm nhận biết thông tin bất cân xứng
Thông tin bất cân xứng có ba đặc điểm cơ bản sau: có sự khác biệt về thông tin giữa các bên giao dịch, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa các bên, trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn
Ví dụ, trên thị trường chứng khoán, bất cân xứng thông tin xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu được thông tin riêng hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty
Trang 54 Một số ví dụ về thông tin bất cân xứng:
Nguyên nhân chính của thông tin bất cân xứng là do chúng ta không thể hiểu đầy
đủ về mọi thứ trên thế giới Không phải lúc nào khách hàng cũng có đủ kiến thức
để đưa ra quyết định mua hàng sáng suốt
Khi mua bán xe hơi cũ, nhân viên bán hàng có đầy đủ thông tin về bất kỳ khuyết điểm nào mà chiếc xe có thể có (các vấn đề về tay lái, quãng đường đi được, các vấn đề về tiêu thụ xăng, hoặc có trường hợp, chiếc xe họ đang bán đã từng bị tai nạn trước đó) Phần lớn khách hàng không có cách nào để họ tìm hiểu và xác định được việc này Kết quả là, khách hàng phải trả một cái giá cao cho một chiếc
xe bị lỗi, trong khi nhân viên bán hàng lại có được một khoản tiền nhiều hơn Tuy nhiên, trường hợp ngược lại cũng đúng, khi người mua có nhiều thông tin hơn người bán dẫn đến rủi ro cho người bán
Một người tiêu dùng bình thường thường không có khả năng hiểu rõ về chất lượng của một chiếc laptop mới Thước đo duy nhất họ có là giá cả Họ có thể mua một máy tính mới với giá 15 triệu mà không nhận ra đồ họa kém Do đó, khách hàng phải dành thời gian thu thập kiến thức chuyên môn, xem thêm các khuyến nghị và đánh giá để có thể thu thập được thông tin đầy đủ và quan trọng với họ nhất
Các bác sĩ được đào tạo trong nhiều năm giáo dục y tế nên kiến thức của họ về các vấn đề chăm sóc sức khỏe đương nhiên vượt trội hơn so với những bệnh nhân bình thường Do đó, bệnh nhân khó có thể tranh cãi về chẩn đoán với bác sĩ được Việc điều trị theo quy định của bác sĩ có thể tốn hàng chục triệu, mặc dù internet cho mọi người hiểu rõ hơn về tình trạng của họ, nhưng vẫn tồn tại một khoảng cách rất lớn trong hiểu biết giữa hai bên
Khi ký kết thỏa thuận, bên bảo hiểm có thể có được thông tin như tuổi, vị trí, giới tính,… của khách hàng, nhưng khách hàng hiểu rõ bản thân mình hơn Công ty
Trang 6bảo hiểm không thể có được thông tin về mức độ cẩn thận của một khách hàng nếu họ không nói “Tôi là một người lái xe ẩu lắm”
Công ty bảo hiểm sức khỏe không có thông tin nào về thói quen sức khỏe của khách hàng: họ hút thuốc hay ăn trái cây hàng ngày? Những yếu tố như vậy có thể làm cho giao dịch trở nên rủi ro hơn đối với công ty bảo hiểm vì khách hàng
có nguy cơ mắc bệnh hiểm nghèo của cao Để có được nhiều thông tin hơn về mức độ lành mạnh của khách hàng và đưa ra mức giá cả phù hợp, họ có thể thuê bác sĩ để kiểm tra
Tuy nhiên, ngay cả khi doanh nghiệp bảo hiểm có thể có được sự đối xứng thông tin (có cùng thông tin với khách hàng), thì trên thực tế, khách hàng có thể trở nên liều lĩnh và sống ẩu hơn do tự tin là đã có bảo hiểm Điều này có thể không nhất thiết phải xảy ra trong bảo hiểm y tế, nhưng thường xuất hiện hơn trong các loại bảo hiểm tiện ích
• Ví dụ điển hình nhất của thông tin bất cân xứng là việc lưu thông các tài sản nợ xấu ở cuộc Khủng hoảng tài chính 2008: Các ngân hàng thực hiện các khoản cho vay dưới chuẩn đã gộp chúng lại với các khoản vay an toàn hơn và bán chúng dưới dạng chứng khoán tài chính Những gì chúng ta có thể thấy là các ngân hàng bán các khoản cho vay dưới chuẩn đã đóng gói, trong khi biết rằng có những tài sản nợ xấu Tuy nhiên, các nhà đầu tư mua chứng khoán gói đó không biết về rủi
ro đáng kể này Dấu hiệu chính mà họ nhận được là xếp hạng AAA mà các cơ quan tín dụng cho các sản phẩm như vậy Vì vậy, thực tế là chỉ có các ngân hàng mới thực sự biết những chứng khoán này rủi ro như thế nào
5 Hệ quả của thị trường bất cân xứng
Sự xuất hiện của thông tin bất cân xứng là yếu tố quan trọng kìm hãm giao dịch Thông tin bất cân xứng dẫn tới hai rủi ro chính trên thị trường tài chính: chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức (tạo ra sau khi cuộc giao dịch được diễn ra)
Trang 75.1 Lựa chọn đối nghịch (lựa chọn bất lợi) (adverse selection–AS)
Chọn lựa đối nghịch được tạo ra khi diễn ra cuộc giao dịch Bất cân xứng thông tin càng lớn nguy cơ lựa chọn đối nghịch càng cao Trên thị trường tín dụng, chọn lựa đối nghịch xảy ra khi người đi vay có rủi ro cao không trả được nợ nhưng lại tích cực đi vay nhất và có nhiều khả năng được người cho vay lựa chọn nhất
Ví dụ, trên thị trường chứng khoán, trong điều kiện bất cân xứng thông tin, những người tham gia có thể đẩy thị trường đến một trạng thái lựa chọn đối nghịch, đó
là việc mua chứng khoán của những công ty hoạt động kém và đẩy khỏi thị trường những chứng khoán có chất lượng cao Thị trường chứng khoán sẽ mất dần tính thanh khoản và ngày càng bị thu hẹp, hàng hóa chỉ còn những loại chứng khoán chất lượng kém
Trên thực tế, chỉ những thị trường tài chính mạnh, có hệ thống thông tin và giám sát thông tin tốt mới có khả năng hạn chế các chọn lựa đối nghịch, từ đó tạo điều kiện cho thị trường phát triển
5.2 Rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) (moral hazard – MH)
Rủi ro đạo đức có những đặc điểm chính sau đây: Có sự xuất hiện những hoạt động không tích cực (thiếu đạo đức); các hoạt động trên làm tăng xác suất xảy ra hậu quả xấu
Trong thực tế, vấn đề rủi ro đạo đức xuất hiện trong rất nhiều thị trường và dễ được nhận thấy như thị trường bảo hiểm (y tế, tài sản, tai nạn), thị trường cho vay tín dụng, thị trường chứng khoán
Ví dụ, trên thị trường tín dụng, sau khi vay tiền, người đi vay lại nảy sinh ý định
sử dụng vốn sang mục đích khác với thỏa thuận ban đầu làm cho món vay ít có khả năng hoàn trả hơn
Trang 85.3 Vấn đề người ủy quyền – người thừa hành (principal – agent – PA)
Đây là một trường hợp đặc biệt vì nó bao gồm cả lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Trong một cơ cấu doanh nghiệp thông thường, chủ sở hữu (người ủy quyền) thuê các nhà quản lý (người thừa hành) và trao cho họ một số quyền để điều hành doanh nghiệp Khi người ủy quyền giao quyền cho người thừa hành, họ sẽ không trực tiếp điều hành công việc, do đó, họ biết được ít thông tin hơn người thừa hành Bên cạnh đó, người thừa hành và người ủy quyền có thể theo đuổi những mục tiêu không giống nhau, dẫn tới người thừa hành có những hành động không phục vụ lợi ích của người ủy quyền Vì có ít thông tin hơn nên người ủy quyền khó cưỡng chế thi hành, đánh giá hay khuyến khích công việc của người thừa hành Điều này sẽ dẫn tới sự lựa chọn bất lợi của người ủy quyền
Để đạt được mục tiêu của người ủy quyền, lương của người thừa hành thông thường ít phụ thuộc vào những nỗ lực của họ Do đó, người thừa hành ít có động
cơ để cố gắng đạt được mục đích này, xuất hiện rủi ro đạo đức của người thừa hành
6 Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng
Nguyên tắc là giải quyết vấn đề tận nguồn, làm giảm đi sự bất cân xứng về thông tin cho các bên tham gia giao dịch
➢ Cơ chế phát tín hiệu
Michael Spense chỉ ra được cơ chế phát tín hiệu Bên có nhiều thông tin
có thể phát tín hiệu đến những bên ít thông tin một cách trung thực và tin cậy
Người bán những sản phẩm chất lượng cao phải sử dụng những biện pháp được coi là quá tốn kém với những người bán hàng hóa chất lượng thấp
Người mua thu thập thông tin: thuê chuyên gia, hỏi người mua trước hoặc
sử dụng thử, mua thông tin Người bán phát tín hiệu chứng minh uy tín của cửa hàng thông qua danh tiếng, thương hiệu, cấp giấy bảo hành…
Trang 9➢ Cơ chế sàng lọc
Bên có ít thông tin hơn có thể thu nhập thông tin từ bên kia bằng cách
đưa ra các điều kiện giao dịch hợp đồng khác nhau
➢ Cơ chế giám sát:
Cơ chế giám sát áp dụng nhằm mục đích kiểm soát tâm lý ỷ lại, cơ chế bao gồm giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp:
Giám sát trực tiếp: bên ít thông tin hơn sẽ bỏ ra nguồn lực để đạt được kiểm soát thông tin, cơ chế giám sát này tốn nhiều chi phí và sức lực, khả năng giám sát của họ muốn giám sát đối phương sẽ bị hạn chế
Giám sát gián tiếp: như giám sát thị trường…
C VẬN DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH (CỤ THỂ LÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI)
1 Tín dụng trong ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng (NH), các
tổ chức tín dụng (TCTD) với các doanh nghiệp hay các cá nhân (bên đi vay) Trong đó, NH hay TCTD sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến hạn, bên đi vay phải hoàn trả
cả gốc lẫn lãi cho TCTD
1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Về cơ bản, hiện nay tín dụng ngân hàng được chia làm 2 loại chính gồm:
• Tín dụng cá nhân: Phục vụ cho những nhu cầu sử dụng vốn cá nhân như mua nhà, mua xe, kinh doanh, trang trải cuộc sống cá nhân,
• Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ cho những nhu cầu sử dụng vốn của những doanh nghiệp như mua sắm tài sản, thanh toán công nợ, bổ sung vốn lưu động,
Ngoài ra, còn có một số các cách phân loại khác như sau:
Trang 10Dựa trên thời hạn tín dụng: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, tín dụng dài hạn
Dựa trên đối tượng tín dụng: tín dụng vốn lưu động, tín dụng vốn cố định Dựa trên mục đích sử dụng vốn tín dụng: tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng
1.3 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là định chế tài chính trung gian nên trong mối quan hệ tín dụng với doanh nghiệp hay cá nhân, ngân hàng vừa là người đi vay và vừa là người cho vay
Với tư cách là người đi vay, NH nhận tiền gửi của doanh nghiệp, cá nhân hoặc có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, để huy động vốn trong xã hội
Với tư cách là người cho vay, NH sẽ cấp tín dụng cho người đi vay
• Tín dụng ngân hàng đáp ứng được mọi đối tượng khách hàng trong nền kinh tế quốc dân bằng hình thức cho vay tiền tệ, rất phổ biến và linh hoạt
• Bên cho vay chủ yếu huy động vốn bằng các thành phần trong xã hội, chứ không phải hoàn toàn từ vốn cá nhân như các hình thức khác
• Nguồn vốn bằng tiền đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng vay
• Thời hạn cho vay linh hoạt, ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Ngân hàng
có thể điều chỉnh nguồn vốn với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu về thời hạn cho khách hàng
• Thỏa mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế vì có thể huy động nguồn vốn dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn
2 Hiện trạng thông tin bất cân xứng trong nghiệp vụ tín dụng ngân hàng thương mại