Lễ Nam giao và lễ Tịch Điền mà trước đây triều đìnhthường tổ chức có thể xem là một hình thức nhà nước hoá tục Trời và thờ Đất.theo trời- đất- nước là các bà Mây-Mưa-Sấm-Chớp - những hiệ
Trang 1Đề cương văn hóa
1:phân tích những thành tựu văn hóa vn thời sơ sử?
Cách đây khoảng 4.000 năm từ lưu vực sông Hồng đến sông Đồng Nai đã bướcvào thời đại kim khí Trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại 3 trung tâm văn hoá: ĐôngSơn (Miền Bắc), Sa Huỳnh (Miền Trung) và Đồng Nai (ở Miền Nam)
+ Văn hoá Đông Sơn được hình thành trực tiếp từ ba nền văn hoá ở lưu vực sôngHồng, Sông Cả, sông Mã Trong thời kỳ này con người vẫn sử dụng đá, gỗ tre,nứa, xương sừng để chế tạo công cụ và vũ khí, đồ gốm đạt độ nung cao hơn, dày
và cứng hơn, đa số có màu xanh mốc Bên cạnh đó cũng xuất hiện vật liệu mới đồđồng đã tác động to lớn đối với kinh tế, xã hội, văn hoá của các cộng đồng người
cư dân trồng lúa nước, nông nghiệp dùng cày đồng với nhiều chủng loại phù hợpvới từng loại đất…họ đã biết chăn nuôi gia súc trâu, bò, lợn gà… làng mạc thời kỳnày có diện tích rộng và tầng văn hoá dày Bên cạnh nơi cư trú còn có di chỉ mộtáng…
đời sống tinh thần phong phú: sáng tạo nghệ thuật trong trang trí đối xứng, các môtif hoa văn… điều này cho thấy sự phát triển nhận thức hình học và tư duy chínhxác nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp và kỹ thuật chế tạo đá, đúc đồngtrống đồng khắc hoa văn hình bò, voi nói lên việc thuần dưỡng voi, sử dụng bò…
Kỹ thuật đúc đồng thau đạt đến đỉnh cao với trình độ điêu luyện đáng kinh ngạc
Số lượng và loại hình vũ khí tăng vọt Đặc biệt họ đã đúc những hiện vật bằngđồng với kích thước lớn đó là thạp đồng, trống đồng
Kỹ thuật luyện và rèn sắt cũng khá phát triển, đặc biệt giai đoạn cuối của văn hoáĐông Sơn người Đông Sơn còn biết dệt vải, làm thuỷ tinh, làm mộc, đan lát, làmgốm, chế tác đá…
Làng xóm thường phân bố ở những nơi cao, thậm chí sườn núi hay quả đồi gần cáccon sông lớn và chi lưu của chúng, xung quanh làng có các vòng đai phòng thủ
y phục khá phong phú và đa dạng, Di chuyển bằng thuyền Thời kỳ này gắn liềnvới nó là các huyền thoại, thần thoại lễ và tín ngưỡng giai đoạn này là nghề trồnglúa nước, tục thờ mặt trời, mưa, nghi lễ phồn thực, nghi lễ nông nghiệp khác nhưhát đối đáp, gái trai, tục đua thuyền, thả diều…
Văn hoá Sa Huỳnh
Trang 2Không gian văn hoá Sa Huỳnh phân bố từ Bình Trị Thiên cho đến lưu vực sôngĐồng Nai, từ biển lên miền núi theo trục Đông Tây
Văn hóa Ấn Độ thấm sâu vào văn hóa Chăm từ thế kỉ 7 đến hết thế kỉ 15 khiChampa chấm dứt sự tồn tại độc lập với tư cách là một quốc gia và sáp nhập vàolãnh thổ Đại Việt
Bà la môn giáo tự cải cách thành Ấn Độ giáo (Hinduism) Thực ra văn hóa Chămcòn chịu ảnh hưởng của khu vực kế cận và văn hóa gốc miền Trung (văn hóa SaHuỳnh) Địa hình, khí hậu, lối sống khắc nghiệt ở miền Trung tạo ra tínhcách(cứng rắn, thượng võ, hiếu chiến) Thành tựu văn hóa Chăm còn lại ngày naygồm 1 số lãnh vực: kiến trúc, điêu khắc và tôn giáo, trong đó tôn giáo là linh hồncủa nền văn hóa ấy Ngày nay những tháp Chàm còn đó sừng sững trở thành nhữngđiểm du lịch hấp dẫn du khách bốn phương
Tháp Chàm (Chăm) nổi tiếng về kĩ thuật xây dựng độc đáo giũa đất núi và đá đivào văn hóa Chăm còn có đạo Hồi (thế kỷ XVI) (Islam) Hồi giáo có quy tắc khắtkhe nhưng đã được người Chăm cải biên nhiều
âm nhạc Chăm tuy còn sâu đậm ấn tượng Ấn Độ (buồn bã, sâu thẳm) nhưng cũngpha trộn giai điệu trữ tình phóng khoáng phương Nam
- Văn hoá Óc Eo
TK 20 những cổ vật đầu tiên của văn hóa Óc Eo đã được phát hiện trên cánh đồng
Óc Eo tỉnh An Giang các di vật của văn hóa Óc Eo đã lôi cuốn sự chú ý của nhiềuhọc giả nổi tiếng người Pháp
xã hội phát triển nhiều ngành nghề thủ công như nghề gốm, nghề luyện đồng,luyện sắt, luyện thiếc, nghề kim hoàn Đặc biệt nông nghiệp và thương nghiệp lúcnày đã khá phát triển với những công trình thuỷ lợi cổ, kênh rạch vừa tưới tiêu vừa
là đường giao thông
sản phẩm thủ công thể hiện sự chuyên hoá, những đồng tiền bằng vàng, bạc, thiếccòn nguyên hay cắt làm tư làm tám, các loại trang sức, con dấu bằng đá quý, thuỷtinh, nhiều sản phẩm có nguồn gốc ngoại nhập kỹ thuật khắc miết tạo ra hình vàchữ trên lá vàng Đồ trang sức bằng đá ngọc, mã não, thạch anh, thuỷ tinh vớinhiều màu sắc, nhiều kích cỡ, nhiều hình dáng Đồ gốm có mặt trong hầu hết các ditích khảo cổ và là loại hình hiện vật thể hiện truyền thống bản địa nhất
kiến trúc khác nhau như vết tích nhà sàn, những kiến trúc đồ sộ bằng gạch đá lẫnlộn thể hiện trình độ cao trong kỹ thuật xây dựng Vật liệu xây dựng gồm gỗ, gạch,
Trang 3đá: dấu tích các cọc nhà sàn và một số cấu kiện trang trí hoa văn, phế tích Ngoài
đồ gốm gia dụng, vật liệu xây dựng bằng đất nung như gạch ngói, phù điêu trangtrí cũng là di vật chủ yếu trong các di tích kiến trúc đền tháp cuả văn hóa Óc Eo.Nghệ thuật tạc tượng điêu luyện gồm hai nhóm tượng Ấn Độ giáo và Phật giáo.Ngoài ra còn tìm thấy chữ viết trên các con dấu, mặt nhẫn, bia đá
Cư dân văn hóa Óc Eo cư trú trên những tiểu vùng sinh thái khác nhau nên cónhững đặc điểm khác nhau về lối sống, thể hiện trên các di tích và di vật khảo cổhọc
Câu 2: tín ngưỡng là gì Trình bày về tín ngưỡng sung bái tự nhiên
tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hoá một nhân vật được gởi gắm vào niềm tintưởng của con người.Quá trình ấy có thể là quá trình huyền thoại hoá, lịch sử hoánhân vật phụng thờ, giữa các tín ngưỡng đều có những đan xen và trong từng tínngưỡng đều có nhiều lớp văn hoá
Tín ngưỡng không có ý chỉ một tôn giáo mà chỉ là một niềm tin có tính chất tôngiáo Hiến pháp Việt Nam có ghi : Mọi công dân đều có quyền tự do chọn chomình một tín ngưỡng (một niềm tin tôn giáo) nào đó
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và
để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng
Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Vớingười Việt Nam sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước, thì sự gắn bó với tự nhiênlại càng dài lâu và bền chặt
là tín ngưỡng đa thần, tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hệ quảtrong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ và tronglĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn các nữ thần Và vì cái đích mà người ViệtNam hướng tới là sự phồn thực cho nên nữ thần của ta là các Bà mẹ, các Mẫu.Trước hết, đó là Bà Trời, bà Đất, Bà Nước - những nữ thần cai quản các hiện tượng
tự nhiên, quan trọng nhất, thiết thân nhất đối với cuộc sống của người làm nôngnghiệp lúa nước
thờ Bà Thiên (hay bà Thiên Đài) Nhiều vùng, Bà Đất, Bà Nước Bà Đất còn tồn tạidưới tên gọi Mẹ Đất (Địa Mẫu) Bà Nước cũng tồn lại dưới tên Bà Thuỷ
Tục thờ Mặt Trời là một tín ngưỡng bắt nguồn từ vùng nông nghiệp Đông Nam Á.Không trống đồng, thạp đồng nào là không khắc hình mặt trời ở tâm; ở phương
Trang 4Nam, toàn dân thờ trời Lễ Nam giao và lễ Tịch Điền mà trước đây triều đìnhthường tổ chức có thể xem là một hình thức nhà nước hoá tục Trời và thờ Đất.theo trời- đất- nước là các bà Mây-Mưa-Sấm-Chớp - những hiện tượng tự nhiên cóvai trò hết sức to lớn trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước
Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời gian.Thần không gian theo nguyên lí Ngũ Hành Nương Nương Ngũ Phương coi sóctrung ương và bốn hướng; Ngũ Đạo chi thần trông coi các ngả đường Theo địachí, người ta thờ thần thời gian là Thập Nhị Hành Khiển (12 vị thần, mỗi vị coi sócmột năm theo Tí, Sửu, Dần, Mão, ) Thời gian kéo dài, bảo tồn sự sống vô tận nên
12 nữ thần này đồng thời có trách nhiệm coi sóc việc sinh nở - đó là Mười Hai BàMụ
Trong mảng tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên còn có việc Thờ Động vật và thựcvật nếp sống tình cảm, hiếu hòa của loại hình văn hóa nông nghiệp dẫn người ViệtNam đến tục thờ các con thú hiền như hươu, nai, trâu, cóc ; riêng loại hình nôngnghiệp lúa nước của ta còn thờ một số động vật sống ở nước như : chim, nước, rắn,
cá sấu Nếp sống tình cảm hiếu hòa của người nông nghiệp đã biến con cá sấu ácthành con rồng hiền, con vật phù hộ cho người dân nông nghiệp Rất nhiều địadanh Việt Nam được đặt tên "rồng":
Thực vật thì được tôn sùng nhất là cây Lúa : khắp nơi - dù là vùng người Việt hayvùng các dân tộc - đều có tín ngưỡng thờ Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa
Câu 3: những thành tựu văn hóa việt nam thời tiền sử
tính từ khi có con người trên đất nước ta cho đến thế kỷ I TCN Đây là giai đoạndài và có tính chất quyết định, giai đoạn hình thành và định vị của văn hoá ViệtNam Việt Nam trong bối cảnh là chiếc nôi của loài người ở khu vực Đông Nam ÁThời kỳ này họ sống thành các bộ lạc săn bắt, hái lượm, dùng đá cuội để chế táccông cụ Công cụ tuy thô sơ song đã có bước tiến lớn trong kỹ thuật chế tác, nhiềuloại hình đã có tính chất ổn định Tiêu biểu những hòn đá cuội được ghè đẽo ở haicạnh
công cụ dùng để chặt, nạo, hay cắt Vết tích cư trú chỉ hạn chế ở một số vùng, trênmột số gò đồi, hang động Người nguyên thuỷ thời kỳ này đã biết dùng lửa
Họ chôn người chết ngay nơi cư trú Điều này nói lên niềm tin của người nguyênthuỷ về một thế giới khác mà ở đó người nguyên thuỷ vẫn “sống”; thức ăn chủ yếu
là nhuyễn thể, những cây quả, hạt và một số động vật vừa và nhỏ
Trang 5Loài người bắt đầu bước vào thời kỳ đá mới đặc trưng tiến bộ về phương thức sảnxuất cũng như kỹ thuật sản xuất Con người đã biết tận dụng và sử dụng nguyênvật liệu như đá, đất sét, xương, sừng, tre, gỗ…Kỹ thuật chế tác đạt đến đỉnh cao,xuất hiện nhiều loại hình công cụ.
Đặc biệt con người đã biết làm gốm, thuần dưỡng động vật, cây trồng, bắt đầusống định cư, dân số gia tăng Tiêu biểu giai đoạn này là văn hoá Hoà Bình Cưdân đã biết săn bắt, hái lượm Đã xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai
Cuộc sống định cư tương đối ổn định Thời kỳ tiếp theo con người đã biết mở rộngmôi trường sinh thái núi, trước núi và ven biển, nghề đánh cá phát triển mạnh
có tri thức phong phú về tự nhiên, để lại những dấu vết nghệ thuật như những hiệnvật xương có vết khắc hình cá, hình thú, hình người vẽ …
Tư duy về thời gian vũ trụ còn được thể hiện bằng những hình hoa văn, ký hiệubiểu thị hình mặt trời, hình tròn, hình chữ vẽ trên gốm… có thể đã hình thành mộtloại nông lịch sơ khai Thời kỳ này đã xuất hiện những tín ngưỡng nguyên thuỷ sơkhai như mưa, gió và đặc biệt mặt trời đã trở thành một trong những thần linh quantrọng đối với con người
Câu 4: đặc trưng cơ bản trong văn hóa giao tiếp của người việt tài liệu
Câu 5: thành tựu văn hóa vn thời bắc thuộc
Kể từ Triệu Đà (179 TCN) đến ngô quyền giành đl
Giai đoạn này không có những thành tựu văn hóa đáng kể Hai nguồn văn hóa Ấn
Độ truyền vào nước ta theo con đường hòa bình, đó là văn hóa Phật giáo thâmnhập vào miền Bắc, Bà la môn đi vào miền Trung bộ tạo dựng nên vương quốcChămpa
Các thế lực phong kiến phương Bắc ra sức phá huỷ, tiêu diệt thành tựu văn hóa dântộc ta như: thu gom sách vở, bắt thay thế trang phục… nhưng không đạt được mụcđích.Có thể hệ thống văn tự Việt đã bị xóa bỏ trong suốt ngàn năm đô hộ này
câu 6: đặc điểm cơ bản của nghệ thuật tạo hình chăm pa
Tháp Chàm (Chăm) nổi tiếng về kĩ thuật xây dựng độc đáo giũa đất núi và đá Nộidung của tháp là: trong lòng làm lăng mộ vua, trên nóc thờ thần linh tối cao Bà lamôn
Nghệ thuật điêu khắc Champa rất phong phú với nhiều tác phẩm phù điêu, tượngtròn gắn với sinh hoạt tôn giáo Bàlamôn, trên những tác phẩm này thường bắt gặp
Trang 6nét chủng tộc, y phục, trang sức Chăm hòa quyễn với hình ảnh các vị thầnBàlamôn, hoặc những nét tả thực cũng như cách điệu thể hiện trong hình ảnh conngười, loài vật… hết sức sinh động Đằng sau những bức phù điêu, những bứctượng ấy là cả một không gian huyền thoại, phản ánh những tư duy trừu tượng,lãng mạn của con người khi lý giải về những điều kỳ diệu của vũ trụ.
Kiến trúc đền tháp Champa luôn gắn bó chặt chẽ với điêu khắc Phần lớn di vậtđiêu khắc Chămpa là dạng phù điêu nổi cao gần như tượng tròn, dù thể hiện nộidung, hình tượng nào thì vẫn mang tính hiện thực sâu sắc, nghệ thuật tả chân dungsinh động, tượng người và động vật đạt trình độ cao về giải phẫu sinh học, đề caođặc điểm nhân chủng trong tượng người và các vị thần được nhân hóa Điêu khắcChămpa còn phản ánh hiện thực xã hội từ cuộc sống sinh hoạt đời thường đếnnhững nghi lễ tôn giáo của vương quốc Chămpa
Có rất nhiều cách phân chia các giai đoạn trong điêu khắc Champa, ở bài viết nàytạm thời chia như sau
2.1 Hoà Lai, Đồng Dương
với những đặc trưng nổi bật về nhân chủng như khuôn mặt hơi vuông, cánh mũi
hở, mồm rộng, môi dưới dày, hàng ria mép đập, về trang phục và trang sức như dảilụa thắt lưng sọc dọc xoè rộng ỏ dưới, đôi hoa tai tròn to,vòng đeo ở cánh tay ,tócbúi thành ba tầng thành hình chóp nón nhọn
Nghệ thuật Đồng Dương chủ yếu mang tính chất phật giáo Đại Thừa
Phong cách Đồng Dương đặc trưng khỏe khoắn, nặng nề và đầy tính bản địa trongviệc thể hiện những nét nhân chủng Chàm trên các khuôn mặt người
2.2 Mỹ Sơn A1
Khuôn mặt trên các bức tượng phong cách Mỹ Sơn A1 có phần nhẹ nhõm ,bớt đi
sự căng thẳng với nụ cười thoáng nhẹắt mở lớn có con ngươi,môi dày…
Tác phẩm có vẻ đẹp hài hòa về nhịp điệu của cơ thể và, mang lại cho người xemmột cảm giác bình an, đầy triết lí về sự hài hòa động và tĩnh
2.4 Bình Định(thế kỷ XII-XIII)
Các tác phẩm điêu khắc thời kì này dù vẫn giữ vẻ tao nhã, nhưng đã mất đi sức hấpdẫn mà trở nên khô cứng , ngưng đọng trong các điệu nhảy không còn còn sứchành động,cơ thể trở nên căng cứng ,mất đi vẻ tươi mát vốn có dẫu trang sức cóphần cầu kì, hoa văn bao phủ thân hình tượng
Thời kỳ sau các tác phẩm có xu hướng dính vào nền và phần chân của nhân vậtkhông còn được chú trọng.Báo hiệu một thời kỳ suy tàn của một nền nghệ thuậtrực rỡ, bí ẩn mà tươi mát
Nghệ thuật Champa là những câu chuyện bằng hình ảnh, các biểu tượng tôn giáoChịu ảnh hưởng sâu sắc nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của văn minh Ấn Độnhưng người Champa xưa đã biết nhìn đời sống và tôn giáo theo những cảm quanriêng của mình.Đó chính là đời sống sinh hoạt của con người Chăm,là tín ngưỡng
Trang 7văn hóa thờ mẫu khác hẳn với các nam thần của Ấn Độ, là những ảnh hưởng từĐại Việt ,Khơ me và quan niệm lưỡng nghi đến từ Trung Quốc làm nên mộtChampa hoàn toàn khác biệt, một vẻ đẹp riêng biệt ồn tại giữa dòng chảy của thờigian.
Câu 7: thành tựu văn hóa đại việt
Giành lại đlap
đến thời nhà Lý (1009-1225 - quốc hiệu Đại Việt được đặt vào năm 1054 thời vua
Lê Thánh Tông) nền văn hóa Đại Việt mới phát triển mạnh với tinh thần phục hưngmãnh liệt
Tiếp theo là nhà Trần, nền văn hóa Đại Việt đạt được bước phát triển rực rỡ, gọichung là thời đại văn hóa Lý - Trần Đạt tới đỉnh cao rực rỡ là thời nhà Lê, nước ta
đã có một nền văn hóa phong kiến ngang tầm khu vực, đủ sức tự cường và giữvững độc lập dân tộc
Dân tộc ta khẩn trương tiếp thu văn hóa phong kiến Trung Hoa, chủ yếu là hệthống giáo dục Nho Giáo, Phật giáo Trung hoa, kể cả Đạo giao Với phươngchâm”Việt Nam hóa”những thứ văn hóa ngoại lai, nghĩa là tiếp nhận văn hóa vàvận dụng cho phù hợp hoàn cảnh và bản lĩnh, tính cách dân tộc Việt, nhân dân ta
đã tạo nên một nền Nho giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam
Nhân dân ta tiếp nhận chữ Hán, nhưng tạo ra chữ Nôm (TK VII- VIII) để ghi âmtiếng Việt – tiêu biểu có Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi, Truyện Kiều (3254 câu thơlục bát) của Nguyễn Du…
Tầng lớp trí thức Hán học đã đóng vai trò nòng cốt trong bộ máy quan lại phongkiến Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Lê và Nguyễn sau này
Thủ đô bền vững từ đây đặt tại Thăng Long (1010), với Quốc Tử Giám được coi
là trường đại học đầu tiên, cùng với Văn Miếu (1070), khẳng định một giai đoạnphát triển cao của văn hoá dân tộc
Sau thời kì hỗn loạn Lê - Mạc, Trịnh Nguyễn phân tranh, đến nhà Nguyễn, Nhogiáo lại được phục hồi làm quốc giáo, nhưng nó đã đến hồi suy tàn, không còn đủkhả năng đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa tiến kịp phương Tây
Thiên chúa giáo bắt đầu thâm nhập vào Việt Nam Nhà Nguyễn ban đầu cho họvào vì mục đích chính trị nhất là thời Nguyễn Ánh cần quân lực để chiếm lại đất cũ(Đàng trong) từ nhà Tây Sơn, về sau lại ngăn cản do ngại sự can thiệp và đe doạcủa phương Tây (thời vua Minh Mạng (1820-1840) là thời kỳ có nhiều chỉ dụ cấmđạo ngặt nghèo và thảm khốc nhất, nhiều cha cố và giáo dân bị giết trong giaiđoạn này
Câu 8: đặc điểm của phật giáo
Đạo Phật ra đời tại Ấn Độ cách đây hơn 2.500 năm và hiện có mặt ở khắp các châulục trên thế giới Đạo Phật đã có nhiều ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa cũng
Trang 8như phong tục, tập quán của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó đặc biệt lànhững quốc gia phương Đông Đạo Phật với triết lí nhân sinh quan và thế giới quansâu sắc, với những pháp môn tu tập, hành trì dung dị, với những yếu tố dễ thíchnghi đã tạo nên những truyền thống Phật giáo đặc sắc tại mỗi quốc gia có mặt.Điều đó đã tạo nên những “màu sắc” sống động của Phật giáo trên toàn thế giớiĐặc điểm
Đức Phật là một con người chứ không phải là một Thượng đế:
Phật khẳng định mỗi con người trong vũ trụ này là vị chủ nhân của chính mình,kiểm soát số mệnh của mình Đức Phật chứng đắc quả vị giác ngộ, những thànhtựu và những kết quả nhờ vào những nỗ lực tu tập lớn lao và trí tuệ của chính Ngài.Trong phật giáo Đức Phật là một con người và chính mọi người có thể trở thànhmột vị Phật nếu không ngừng tinh tấn, tu học theo chính pháp
Phật giáo không hình thành tổ chức giáo quyền thế giới:
đạo Phật chủ trương không hình thành tổ chức giáo quyền trên toàn thế giới Cáctông phái, hệ phái Phật giáo tùy theo “nhân duyên” du nhập mà hình thành nênnhững pháp môn tu tập, hành trì phù hợp với truyền thống và văn hóa bản địa
Đạo Phật phản ánh khách quan chân lý thực tại:
Lý thuyết, phương pháp, kết quả đều hợp lý, đều chân thật Đạo Phật chỉthấy và chỉ nói những sự thật mà sự vật có, không thêm không bớt Đạo Phậtkhông công nhận những kết quả của tín ngưỡng mê mờ, hành động manh ĐạoPhật phản ánh thực tại những gì đang xảy ra, đang tồn tại
Thành tựu do tu tập chứ không phải tự nhiên sinh ra hay do một đấng bậc nào ban phát:
Nhờ vào trí tuệ và sự tu tập của Ngài, Ngài giác ngộ và thành Phật Mỗi con người
có thể theo bước chân của Ngài để thực hành những lời dạy của Ngài và giác ngộgiống như Đức Phật Trong Phật giáo không phân biệt thành phần, đẳng cấp để đạtđến giác ngộ, tứ chúng của Phật giáo đều có thể tu tập và đều có thể đạt đến mụcđích tối thượng – giải thoát, giải thoát cho chính bản thân mình và giải thoát chonhững người khác Đức Phật chỉ chỉ ra cho ta con đường và chính bản thân ta phải
đi trên con đường ấy
Phật giáo là tôn giáo tôn trọng sự sống:
Đạo Phật xem sự sống trên tất cả, hết thảy những gì gọi là có giá trị là phải bảo vệ
sự sống ấy Giết sự sống để nuôi sự sống là mê muội, tham sống nên hại sự sốngcũng là vô minh Ăn chay để cứu muôn loài, thay khổ cho chúng sinh để cứu vạn
Trang 9loại Trong giáo lý của đạo Phật, một trong ngũ giới cấm mà tăng đoàn không đượcphép xâm phạm đó là giới không sát sinh.
Đạo Phật luôn lấy con người làm trung tâm:
Con người là trung tâm của xã hội loài người, xã hội ấy tiến hóa hay thoái hóa làhoàn toàn do hoạt động con người chi phối Cho nên muốn cải tạo xã hội, căn bản
là phải cải tạo con người, cải tạo tâm bệnh của con người Tâm bệnh con người nếucòn độc tài, tham lam, thì xã hội loài người là địa ngục; tâm bệnh con người đượcđối trị thì con người sẽ sáng suốt mà xã hội con người, kết quả của hoạt động ấy,cũng sẽ cực lạc
Đạo Phật hướng tới việc đào luyện con người có đầy đủ bi, trí, dũng:
Bi là tôn trọng quyền sống của người khác Trí là hành động sáng suốt lợi lạc.Dũng là quyết tâm quả cảm hành động Dũng không có bi và trí thì sẽ thành tàn ác
và manh động Trí không có bi và dũng thì sẽ trở thành gian xảo và mộng tưởng Bikhông có trí và dũng sẽ thành bi lụy và nhút nhát Bi là tư cách tiến hóa, trí là tríthức tiến hóa, dũng là năng lực tiến hóa Con người như thế là con người mới, cănbản của xã hội mới
Đạo Phật chủ trương phải tự lực giải thoát:
Tự lực giải thoát là con đường duy nhất của mười phương các đức Phật Bồ-Tát Anlạc không phải cầu xin, trí giác không do tưởng thưởng Người trong đạo Phật phải
tự lực giải thoát ngay trong cảnh giới đau khổ mê muộ Đức Phật chỉ là một đạo sưdẫn dắt con đường sáng cho chúng ta Còn chúng ta phải tự thắp đuốc trí tuệ củamình mà soi đường, phải dùng cặp chân với năng lực của mình mà đi
Phật giáo là tôn giáo gần với khoa học:
Nhiều điểm trong giáo lý của đức Phật thật tương xứng với những phát minh củakhoa học hiện đại Nhiều quan điểm về nhân sinh quan và thế giới quan Phật giáohoàn toàn có thê chứng minh dưới giác độ kho học Điều đó cho thấy, Phật giáo cónhiều điểm tương xứng với khoa học
Phật giáo là tôn giáo bình đẳng, yêu chuộng hòa bình:
Phật giáo dạy rằng trong tất cả những tôn giáo trên thế giới, chỉ có một sự khác biệt
duy nhất trong sự đa dạng của hệ thống giáo lý, Những lợi ích mà tôn giáomang lại cho nhân loại được thừa nhận và thực hành theo Đạo Phật chủ
Trang 10trương con người coi trọng bình đẳng Tứ chúng đều có thể tu hành đắc đạo.Phật giáo luôn tồn tại trong tinh thần hài hoà với những tôn giáo khác.Người Phật tử được giáo dục không nên chỉ tôn trọng tôn giáo của chínhmình và phỉ báng tôn giáo của những người khác mà các vị phải tôn trọngtôn giáo của những người khác.
Câu 9:thành tựu văn hóa việt nam thời pháp thuọc
Đây là thời kỳ Pháp thuộc Tiếp biến văn hóa dĩ nhiên là cưỡng bức, nhất là trongthời kỳ đầu, do đó luôn luôn có sự chống lại ngoại lai để bảo vệ bản sắc dân tộc.Nhưng dần dần, cũng đồng thời có đối thoại tự nguyện
chính sách thực dân cũng có phần tạo ra những tiếp biến (Acculturation) văn hóalàm giàu văn hóa Việt Nam, nhiều khi ngoài ý muốn của thực dân
Cũng trong giai đoạn nàyquá trình giao lưu văn hoá Việt Nam- phương Tây mà chủyếu là Pháp đã diễn ra rất mạnh mẽ theo hướng văn hoá Việt Nam bị cưỡng bứctheo văn hoá Pháp Hiện nay, trên đất nước ta còn rất nhiều công trình mang dángdấp văn hoá Pháp, tiêu biểu có Đại học quốc gia Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thànhphố Hồ Chí Minh, Nhà thờ Đức Bà tại TPHCM…
Đạo Thiên chúa thì không được lòng dân, chính quyền thực dân luôn ủng hộ giáodân và khuyến khích đạo để có chỗ dựa Cuộc đối thoại với đạo Thiên Chúa cóbước ngoặt quyết định sau chiến tranh, khi Tổng giám mục Nguyễn Văn Bìnhtuyên bố giáo dân phải cùng dân tộc bắt tay vào tái thiết đất nước Ta có một nềnvăn hóa Thiên Chúa giáo Việt Nam phong phú cần thiết phát huy
Tiếng Pháp đưa vào dạy chính thức ở nhà trường
Hệ thống chữ quốc ngữ được được sử dụng phổ biến hơn, giúp cho phong trào họctập, truyền bá văn hóa mới được nhanh chóng
Hệ tư tưởng dân chủ tự do tư sản truyền bá vào nước ta
Lối sống phương Tây ảnh hưởng chủ yếu ở thành thị
Văn học, nghệ thuật phương Tây gây ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống văn nghệnước ta (giai đoạn 1930 -1945) Kịch, thơ mới, tranh sơn dầu
, tư tưởng cách mạng vô sản Marx - Lenin đã được tiếp thu sáng tạo vào Việt Namqua những trí thức trẻ giàu lòng yêu nước như Nguyễn Ái Quốc
Nhìn chung, dân ta vừa chấp nhận Âu hoá, vừa chống Âu hóa trong chừng mựcnhất định, bảo đảm vừa tiến kịp trình độ thế giới, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc